Mở đầu
1. tính cấp thiết của đề tài
Một cộng đồng c dân không chỉ sống trong mối quan hệ với môi trờng tự
nhiên mà con luôn tồn tại trong mối quan hệ với xã hội các dân tộc xung
quanh. Cách thức ứng xử với môi trờng xã hội là một thành tố của hệ thống văn
hoá.
Với vị trí ngã t đờng, con ngời Việt Nam luôn quan tâm tới việc tiếp
nhận các giá trị văn hoá nhân loại : Tiếp thu văn hoá Trung Hoa, ta có Nho giáo
và Đạo giáo. Văn hoá phơng Tây đem lại KiTô Giáo và những giá trị văn hoá
vật chất và tinh thần mơí mẻ, tiếp thu văn hoá ấn Độ, ta có nền Phât giáo Việt
Nam và nền văn hóa Chăm độc đáo. Sự hội nhập văn hoá giữa Chămpa và ấn
Độ trớc đây đã góp phần tạo nên sự đa dạng cho nền văn hoá Việt nam đa sắc
tộc
Cùng với thời gian và sự biến đổi nhà nớc Chănpa suy tàn các dấu ấn về
chính trị cũng bị xoá sạch và chỉ để lại trong dân tộc Chăm và các bộ tộc khác
một di sản văn hoá đậm ảnh hởng ấn Độ với những nét riêng độc đáo. Vậy văn
hoá ấn Độ đã có mặt ở Chămpa từ bao giờ, bằng con đờng nào?. Vai trò và ảnh
hởng của văn hoá ấn Độ đến với tộc ngời Chăm có sâu rộng hay không, có lấn
át đựoc lớp văn hoá bản địa hay không ? đợc thể hiện ra sao? Để đáp ứng và lý
giải phần nào đòi hỏi đó khoá luận đi vào nghiên cứu đề tài: ảnh hởng của văn
hoá ấn Độ đến tộc ngời Chăm ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho tới hiện nay ở nớc ta cha có nhiều công trình nghiên cứu quy mô về
văn hoá Chăm ở Việt nam, số lợng tác giả nghiên cứu về văn hoá Chăm ở Việt
Nam hiện tại là rất hạn chế. Các bài viết chủ yếu xuất hiện trên một số tạp chí
nghiên cứu, báo . với dung l ợng nhỏ, xoay quanh các đề tài nh: Lễ hội, kiến
trúc, điêu khắc, nghệ thuật . Nhìn chung ảnh h ởng của văn hoá ấn Độ đến tộc
ngời Chăm ở Việt Nam hiện nay cha đợc các công trình khoa học nào đề cập
một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ. Dù sao những công trình nghiên cứu đó
là những đóng góp to lớn cho việc nhận diện rõ hơn văn hoá dân tộc Chăm dới
góc độ khoa học và là những tài liệu vô cùng quý báu để khoá luận lấy làm t
miền Tây các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Ngoài ra còn có nhóm
Chăm miền núi - Chăm - láng giềng của ngời Ê Đê, Ba Na.
Ngời Chăm có lịch sử c trú lâu đời ở ven biển miền Trung. Họ đã lập nên
nớc Lâm ấp - Chăm Pa phát triển rực rỡ vào cuối thế kỷ thứ II.
Về mặt chủng tộc, ngời Chăm (cùng với một số dân tộc Tây Nguyên)
thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo, là một bộ phận của nhóm loại hình Inđônêxia, xa
kia c trú rải rác tại nam Đèo Ngang đến Bình Thuận.
Theo các tài liệu Trung Quốc, vào năm 192, thừa lúc nhà Hậu Hán suy
yếu (sau cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhng bị đàn áp đẫm máu của Hai Bà
Trng), một viên chức quận Tờng Lâm (phía Nam Thừa Thiên ngày nay) là Khu
Liên đã lãnh đạo ngời Chăm nổi lên khởi nghĩa thắng lợi lập nên Vơng quốc
Lâm ấp (xứ Rừng) hay Chăm Pa, Tân Th, một tài liệu Trung Quốc năm 280 xác
định:
"Vơng quốc về phía Nam, giáp nớc Phú Nam. Hai nớc gồm rất nhiều bộ
lạc và liên kết với nhau, lợi dụng núi non hiểm trở, họ không chịu quy phục
Trung Quốc".
Từ thời điểm này, trên rẻo đất miền Trung nổi lên một tiểu quốc độc lập
chịu ảnh hởng của ấn Độ.
Vơng quốc Lâm ấp vốn là một quốc gia sớm phát triển ở Đông Nam á,
hảng hải Lâm ấp rất nổi tiếng và đã từng thực hiện chủ quyền Nhà nớc trên các
đảo lớn ở biển Đông, mà thủ tịch cổ của Trung Quốc thờng gọi là Giao Chỉ D-
ơng (biển của Giao chỉ). Quần đảo Hoàng Sa - Trờng Sa, ngời Lâm ấp gọi là
B'lao Brai Kân (Cù lao bãi lớn). Đó là loại địa danh chắc chắn cổ nhất trong lịch
sử quần đảo này. Ngời Chăm H're còn ghi nhớ một bài kinh cúng khi ra khai
thác quần đảo Hoàng Sa - Trờng Sa vào các tháng 1 - 4 hàng năm theo lịch cổ.
Vơng quốc Lâm ấp với tên gọi có tính chất quốc tế lúc bấy giờ là
Sinhapura (thành phố S Tử) dựa trên nền văn hóa vốn có đã phát triển của chính
mình, sớm tiếp thu sâu sắc văn hóa ấn Độ, sáng tạo nên nền văn hóa rất độc
đáo, mà hàng loạt di tích kiến trúc còn lu lại khắp cả tỉnh ven biển miền Trung -
đỉnh cao nhất tập trung tại địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng. Phía Nam vơng quốc
Ngoài ra còn có những tên khác nh Chàm (thực ra tên này do ngời Kinh
gọi biến âm từ Chăm mà ra), Lồi, Hời hay Chiêm, Chiêm Thành mà ta đã kể
đến ở trên. Quốc hiệu Chăm Pa xuất hiện vào lúc nào không rõ, chỉ biết rằng
bia kí sớm nhất có nhắc đến tên này đợc khắc vào cuối thế kỷ VI [Ngô Văn
Doanh 1994: 6]
2
. Chăm pa là tên một loài hoa, miền Bắc gọi là hoa đại, miền
Nam gọi là hoa sứ. Dạng rút gọn của nó chính là Chăm, biến âm là Chàm. Âm
Hán Việt là Chiêm Thành, rút gọn là Chiêm. ảnh hởng của ấn Độ đối với văn
hóa Chăm phát huy mạnh mẽ trong khoảng thế kỷ VII đến hết thế kỷ XV, khi
Chămpa chấm dứt sự tồn tại với t cách quốc gia của mình.
Văn minh Chămpa đã tắt, hay đúng hơn các nhà nớc Chămpa đã không
còn tồn tại từ vài trăm năm nay, song tộc Chăm và các tộc bà con theo mẫu hệ
còn đó: Chăm H'rê, chăm H'roi, Raglai, Tarai, Rhaday Văn hóa Chăm vẫn
còn đây, sống động ở Ninh Thuận (với làng gốm Bàu Trúc) Bình Thuận là các
phế tích "Thành Lời", giếng "Hời", "cánh đồng Chăm" theo cách gọi của ngời
Kinh - Việt ở Bình - Trị - Thiên, Nam - NgãI - Bình - Phú, Khánh Hòa - Phan
Rang, Phan Rí, Phan Thiết Đó còn là những lễ hội rất Chăm đi vào đời sống
văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Cái riêng hòa trong cái
chung, tất cả góp mình làm nên bản sắc, văn hiến cho dải đất hình chữ S bên bờ
biển Đông.
1.2. Vài nét về đặc điểm tự nhiên và xã hội của Vơng quốc Chăm Pa
1.2.1. Thiên nhiên miền Trung với Vơng quốc Chăm pa
Ngời Chăm sống trên dải đất hẹp miền Trung. Nói đến miền Trung ai
cũng biết đấy là miền có địa thế hẹp chiều Tây - Đông, dằng dặc chiều Bắc -
Nam.
Phía Tây là dải Trờng Sơn, ngời Pháp gọi là Chaine annamitique. Đoạn
Trờng Sơn nam từ Quảng Nam đến Vũng Tàu gọi là Nam Sơn. Trờng Sơn mênh
mông chân núi (Pie'rnont) mà ngời Nga gọi là miền trớc núi (pretgorie = Sơn c-
ớc). Từng đoạn từng đoạn dải núi - đồi này lại đâm ngang ra biển Đông, chia
nên hết sức khô cằn. Sống trong khung cảnh đó, con ngời phải một mặt vật lộn
với thiên nhiên và mặt khác, giành giật với các láng giềng xung quanh. Và có lẽ
chính đây là lý do để tạo nên nét khu biệt của ngời Chăm với những cộng đồng
c dân khác trên đất nớc Việt Nam.
1.2.2. Hiểu thêm về nền nông nghiệp Chăm pa
Những hình ảnh phổ biến nhất về lịch sử sinh thái và kinh tế Chăm pa có
thể hình dung ra nh sau: Thiếu những đồng bằng rộng lớn do vậy thiếu luôn cả
một nền nông nghiệp phát triển, là một cờng quốc biển yếu tồn tại chủ yếu nhờ
vào việc bán ra những mặt hàng lâm sản nhng với số lợng không lớn và ít hiệu
quả. Tuy vậy những cố gắng khá mạnh mẽ nhằm kiểm soát những con đờng
buôn bán cùng những điều kiện kinh tế và sinh thái của mình đã cho phép Chăm
pa trở nên hùng mạnh sau thế kỷ 13 hoặc 14.
"Chăm pa có thể đã có vai trò lớn trong các hệ thống buôn bán ở biển
Nam Trung Quốc khi đề cập tới việc lịch sử sinh thái của Chăm pa mà giờ là
miền Trung Việt Nam cần phải đợc nghiên cứu trong hệ thống "những vùng
khô" [từ điển Chàm - Việt- Pháp. Trung tâm văn hoá Chăm, Phan Rang, 1971]
Theo chính sử nhà Tấn (265 - 420), Lâm ấp đã tấn công Nhật Nam
(vùng Bình - Trị - Thiên hiện nay) thuộc quyền cai trị của Trung Quốc vào năm
347, vì vị quan cai quản Nhật Nam ngời Trung Quốc khi đó quá tham lam và:
"Vì Lâm ấp thiếu ruộng lúa nớc và thèm muốn đất Nhật Nam" [Jingshu (Tấn
Th), Vol 97. P2546, Liangshu (Lơng Th) Vol, 54 P.784] .
Đoạn miêu tả về Chiêm Thành trong Lingwai Daida, tập sách ghi chép về
tỉnh Quảng Tây và các nớc ở Nam Hải biên soạn năm 11781, có nói "Tất cả đất
đai đều là cát trắng, đất trồng trọt đợc thì rất hiếm". Trong số các đồng bằng
thuộc duyên hải miền Trung, chỉ có đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh là tơng đối
lớn, còn các đồng bằng khác nhỏ hẹp, do phù sa bồi lấp các vùng biển cũ. Đất
phần lớn là đất cát pha, thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp hàng
năm (lạc, mía, thuốc lá ) nh ng không thật thuận lợi cho cây lúa.
Mặc dầu cũng nh nhiều vùng khác trên đất nớc Việt Nam là cùng nằm
trong vùng khí hậu á Châu gió mùa, nhng một số đặc điểm của địa thế đã khiến
Theo lời nhà sử học Ba T là Ibn Abei Yak Kuh viết vào khoảng năm 875
- 880 thì trầm hơng Chăm pa đợc đánh giá là tốt nhất thế giới.
Sách Thuỷ Kinh Chú cho biết ngời ta phải mua gỗ trầm của Chămpa:
"Bằng lợng vàng nặng tơng đơng".
Còn trữ lợng vàng của Chămpa thì lớn đến mức trở thành huyền thoại.
Cái gì đã cuốn hút ngời ấn Độ vợt biển đến Đông Nam á ngày càng nhiều vào
những thế kỷ đầu công nguyên?
Có hai động lực chủ yếu: Thứ nhất là nguồn hơng liệu phong phú với gỗ
trầm hơng, kỳ nam, các loại dầu thơm, long não, cánh kiến trắng và thứ hai là
nguồn vàng - nhất là khi ấn Độ mất nguồn mua vàng từ Xibêri và Trung á. Một
loạt địa danh Đông Nam á đợc ghi lại bằng chữ Phạn với những đặc sản điển
hình của địa phơng nh: Xứ Vàng (Suvarna - dvipa) Thành Phố Vàng
(Karakapuri), Đảo Long Não (Karguradvipa), Đảo Dừa (Narikeladvipa).
Sách Lơng Th của Trung Quốc ghi rằng: "nớc đó có núi vàng, đá đều
màu đỏ, trong đó sinh ra vàng. Vàng ban đêm bay ra giống nh đom đóm" [Ngô
Văn Doanh 1994. 13].
Tuy nhiên, không phải tất cả những mặt hàng xuất đi của Chămpa đều là
lâm sản và khoáng vật. Vào đầu thế kỷ 17, Zhang Xie, dựa vào những nguồn tài
liệu Trung Quốc trớc đó đã làm một bảng danh sách những sản phẩm của
Chămpa nh sau: "Vàng, bạc, thiếc, sắt, ngọc "bao mu", ngọc trai "cheng -
Shuichu" ngọc trai lửa, hổ phách, pha lê, ốc tiền?, các loại đá "pusashi" sừng tê,
ngà voi, mai rùa, trầm hơng, gỗ đàn hơng, long não, xạ hơng, đinh hơng, hồng
thuỷ, dầu lửa, bông, vải "Zhaoxia", vải có vẻ màu, vải bông trắng, chiếu lá cọ,
sáp ong vàng, lu huỳnh, gỗ vang, gỗ mun, tre, gạo, tổ yến, hạt tiêu, cau, dừa,
mít, cây "Haiwuzi" cây anit, ớt lựu nhục đậu khấu, tê giác, s tử, voi, vợn, khỉ
trắng, voi trắng, chim "chiji", vẹt, chim "Shanji", chim "guifei", rùa [(Nguồn:
Zbang Xie, Dongxi, Yankao - Bản dịch tiếng Anh của Komai Yoshiaki - trờng
Đại học KyoTo, 1967, tr 121-5, có thể tham khảo Zonghua Shuju, Peking,
1981, tr 26 - 20]. Trong danh mục đã nêu ở trên, chiếm hầu hết là các mặt hàng
lâm thổ sản. Có lẽ đây cũng chính là sự đền bù thoả đáng của tự nhiên cho sự
Trung á, Đông Hán và Bắc Nguỵ Ng ời ấn Độ mang đến đây kỹ thuật làm
thuyền đi biển phát triển ngành thơng nghiệp và cả kỹ thuật nông nghiệp khô
với chiếc cày do bò kéo mà ngày nay ngời Châu Ro vẫn còn bảo lu với cái tên
Lơngal.
Cùng với sự lớn mạnh của Vơng quốc Chăm pa, ngày càng có nhiều các
thị cảng ra đời dọc bờ biển Nam Trung Bộ đánh dấu sự phát triển và vai trò của
Chămpa trong hệ thống buôn bán ở biển Nam Trung Quốc. Nhiều mối quan hệ
với nhiều màu sắc khác nhau đã từng đến và đi trên vùng biển này. Quan hệ
kinh tế theo những tuyến đờng thơng mại, quan hệ chính trị bang giao ngợc
xuôi với những đoàn triều cống, rồi chiến tranh và xung đột quân sự Đi theo
sau tất cả những quan hệ đó, nhng lại có sức lan toả mạnh mẽ hơn, rộng hơn,
nhanh hơn là giao lu văn hóa và tơng tác văn hóa khu vực. Có thể thấy dấu ấn
của sự giao lu này còn để lại một cách sâu sắc trong nền nghệ thuật của Vơng
quốc cổ Chăm pa. Trong bối cảnh giao lu văn hóa đầu thế kỷ đầu công nguyên,
Chămpa đã tiếp nhận tự nhiên và hoà bình nền văn hóa ấn Độ. Sản phẩm của sự
giao lu, tiếp xúc này đã tìm đợc cho mình chỗ đứng trong lòng xứ sở Chăm, đợc
các thế hệ Chăm trân trọng và giữ gìn cho đến ngày nay.
1.2.4. C dân Chămpa
Về mặt chủng tộc, ngời Chăm (cùng với một số dân tộc Tây Nguyên)
thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo, là một bộ phận của nhóm loại hình Inđônêxia.
Ngời Inđônêxia c trú trên toàn bộ địa bàn Đông Nam á cổ đại. Đó là một vùng
rộng lớn, phía Bắc tới sông Dơng Tử, phía Đông tới vùng quần đảo Philipin,
phía Nam tới hải đảo Inđônêxia và phía Tây tới bang Assam của ấn Độ. Chính
vì vậy có ngời còn cho rằng về mặt chủng tộc, ngời Chăm có lẽ vốn là "những
ngời thuộc dòng dõi quý tộc của ấn Độ, bị thất thế ở chính quốc nên phiêu bạt
giang hồ đi tìm đất nớc để dung thân [Lê văn siêu 1972: 335 ]
ấn Độ từ xa xa là một trong những trung tấm lớn nhất của thế giới, sánh
vai với La Mã, Trung Quốc, nhng khác với La Mã và Trung Quốc, ấn Độ không
xâm lấn ai, không mở rộng lãnh thổ. Trong những hớng ra đi chính ngời ấn Độ
chọn hớng gió mùa, ngả về phơng Đông. Gió mùa dẫn dắt họ đi. Miền Bắc ấn
vua chúa Chămpa thuộc vơng triều Indra pra ( giữa thế kỷIX - cuối thế kỷ X)
coi mình là hậu duệ của Bhrigu - một nhà vật trong sử thi Mahabharata của ấn
Độ , tổ tiên của dòng họ Bhagava. Tất nhiên hai tài liệu trên mang tính huyền
thoại nhiều hơn lịch sử thế nhng một điều chắc chắn là vơng quốc Chămpa với
cái tên Lâm ấp đã đi vào lịch sử cuối thế kỷ thứ 2 sau công nguyên. Mà Chăm
pa - một trong những vơng quốc cổ đại ra đời sớm nhất ở Đông Nam á lại là
quốc gia ngay từ đầu đã chịu ảnh hởng của văn hoá ấn Độ.
Do nằm ở một vị trí địa lý thuận lợi bên bờ biển Đông, do có những
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú mà ấn Độ thời cổ cần, nên ngay từ
những thế kỷ đầu trớc công nguyên, những thơng nhân ấn trên đờng đi tìm h-
ơng liệu và vàng đã đặt chân lên vùng đất ven biển miền Trung Việt Nam mà
sau này nơi đó trở thành Vơng Quốc Chămpa.
Những thơng nhân ấn Độ đầu tiên đó đã có những tiếp xúc buôn bán với
thổ dân nơi đây và lập ra những thơng điếm ở đây, chủ yếu là những hải cảng
ven biển mặc dầu cho đến nay vẫn cha phát hiện ra những bằng cớ vật chất về
những thơng điếm đầu tiên của ngời ấn ở Chămpa, nhng có thể giả định rằng
những của biển thuận lợi cho thuyền bè cập bến để buôn bán hay tạm dừng
chân mà sau này trở thành các cảng lớn của Chămpa; nh Chiêm Cảng ( gần Hội
An ) Châu Sa ( tỉnh Quảng Ngãi ) Thi Nại ( gần Quy Nhơn ) Nha Trang ( tên xa
là Kau thana ), Panđuranga ( nay là Phan Rang ) đã là những địa điểm lý t ởng
cho ngời ấn mở những thơng điếm của mình. Không phải ngẫu nhiên mà tên
đất nớc của ngời Chăm - Chămpa, tên những vùng đất của Vơng Quốc Chămpa
nh Amaravati, Panđuranga đều là những tên một vùng nào đó ở ấn Độ.
Ngoài những tài liệu bia ký và sử liệu trên đất nớc của Vơng Quốc
Chămpa còn tìm thấy những hiện vật , vật chất cụ thể cho chúng ta biết đến thế
kỷ V - VI, Chămpa là một trong những quốc gia cổ nhất ở Đông Nam á tiếp
nhận nhiều ảnh hởng của ấn Độ, hay nói nh một số nhà nghiên cứu là quốc gia
" ấn Độ hoá " thế mà, cho đến nay, hầu nh không có một t liệu nào mà chúng ta
đợc biết nói về quá trình thu nhập những ảnh hởng của ấn Độ vào lãnh thổ
Chămpa cổ. Vì vậy, để tìm những nguyên nhân và những điều kiện khiến
khiến cho ngời ấn ào ạt đến Đông Nam á vào những thế kỷ đầu trớc và sau
công nguyên thì những quan hệ qua lại vừa nêu trên không thể khiến Đông
Nam á trở thành một khu vực" ấn Độ hoá " nh đã có trong lịch sử chính những
tài liệu ấn Độ đã cho chúng ta biết về những sức ép đó.
Trong cuốn sách Anthasastra (khảo cứu về tổ chức chính trị và hành
chính ) của Kaudilya, vị thợng th của vua Chardragupta ( cuối thế kỷ IV đầu thế
kỷ III trớc công nguyên ) có đoạn khuyên nhà Vua chiếm đoạt đất đai của các
Vơng Quốc khác hoặc di dân quá đông của mình tới đó. Các tập jatata ( bổn
sinh kinh ) của Phật giáo, sử thi Ramayana và đặc biệt cuốn Niddơsa có ghi lại
những lời tờng thuật của những ngời đi biển ấn Độ, có nhắc tới các địa danh
nh Giava, Suma tra, Xuvanabhumi ( Xứ vàng ) ở Đông Nam á. Vậy nguyên
nhân nào đã khiến ngời ấn Độ vợt biển tới các vùng Đông Nam á các nguyên
nhân thì có nhiều nhng các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng yếu tố thơng
mại là nguyên nhân chủ yếu khiến ngời ấn Độ vào những thế kỷ đầu công
nguyên, đã tìm đờng vợt biển tới Đông Nam á sức hút của các nguồn hơng liệu,
của vàng và nhiều lâm thổ sản quý hiếm đã là điểm nhấn cho sự tìm đến của các
thơng nhân ấn Độ. Hơn nữa Chămpa xa là nơi có nhiều hải cảng mang tính
quốc tế quan trọng. Theo sử liệu Trung Quốc ( Tân đờng th, Địa lý chí ) vào
những thế kỷ VII- X trên con đờng biển từ Quảng Châu ( Trung Quốc ) Bagdad.
( ả Rập ) thuyền bè Trung Quốc, Ba T, ả Rập, Srivijaya bao giờ cũng ghé
qua Chiêm Bất Lao (cù lao chàm) Lăng Sơn Môn Độc ( Quy Nhơn ), Cổ Đát
quốc ( Kauthara - tức Nha Trang hiện nay ) Bôn Là Lăng Châu ( Panduranga -
Phan Rang và Phan Thiết hiện nay )
Các nhà khoa học đã hình dung ra quá trình hình thành các " thuộc địa "
của những lái buôn tìm vàng ấn Độ ở Đông Nam á bằng cách dựa trên những
dự kiện đã diễn ra ở nơi khác và trong những thời gian khác nhau. Trong những
hoàn cảnh tơng tự ví dụ G. Ferăng đã hình dung về ảnh hởng của ấn Độ ở Giava
nh sau:
" Hai hoặc ba tàu biển ấn Độ cùng nhau vợt biển và tiến dần tới Giava.
Những ngời mới đến liền giao thiệp với các thủ lĩnh địa phơng và tranh thủ đợc
hởng văn hoá vẫn duy trì đựoc bản chất của mình và phát huy nó lên.
Tất nhiên, vai trò những ngời ấn là rất lớn trong việc du nhập và truyền
bá văn hoá ấn Độ vào các nớc Đông Nam á . Nhng, những ngời gốc Đông
Nam á, sau khi sang ấn Độ về, cũng đã có một vai trò nhất định trong công
việc truyền bá các phong tục và tôn giáo của ấn Độ và đất nớc mình
Lịch sử của các Quốc gia ở Đông Nam á đã cung cấp nhiều trờng hợp
nh vậy. Một bia ký Chămpa thế kỷ VII đã nói đến một vị có danh hiệu là
Gangraja ( trị vào thế kỷ thứ V ) " nổi tiếng về đức tài, thông thái, anh dũng đã
thoái vị và từ giã đất nớc để đi đến sông Hằng."
Do thâm nhập chủ yếu qua văn hoá mà lại bằng những phơng thức hoà
bình ,nên những ảnh hởng của ấn Độ đã để lại những dấu ấn thật sâu sắc đối
với vơng quốc Chămpa cũng nh đối với các quốc gia cổ đại khác ở Đông Nam
á. Thế nhng, những ảnh của ấn Độ cha bao giờ xoá bỏ những truyền thống văn
hoá tốt đẹp vốn có của những c dân bản địa đã tạo điều kiện cho những ảnh h-
ởng ấn Độ phát triển phù hợp trên mảnh đất mà chúng bén rễ.
Nh vậy, cho đến thế kỷ V - VI, những hạt giống của nền văn minh ấn
Độ, đã đợc gieo trồng và bắt đầu đâm chồi nảy lộc trên mảnh đất Chămpa. Bắt
đầu từ thế kỷ VII cho đến tận cuối thế kỷ XV - khi Chămpa chấm dứt sự tồn tại
của mình nh một quốc gia; những tài liệu văn bia, những hiện vật chất hiện còn
đã cho phép chúng ta biết đợc về cả một chặng đờng dài nhiều thế kỷ mà ngời
Chămpa đã lựa chọn và phát triển những truyền thống văn minh ấn Độ vào nền
văn hoá của mình ra sao. Có thể nói, ảnh hởng của ấn Độ đã là yếu tố vô cùng
quan trọng để tạo nên nền văn hoá cổ đại Chămpa cũng nh những nền văn hoá
rực rỡ khác ở Đông Nam á nh Ăngco, Pagan, Srivitgaja. Các nhà nghiên cứu
đã có lý khi cho rằng, các nớc Đông Nam á ( Trong đó có Chămpa ) chỉ đi vào
lịch sử trong chừng mực chịu ảnh hởng của nền văn minh ấn Độ, và nếu không
có ấn Độ thì chúng ta sẽ biết rất ít về quá khứ của những Quốc gia ở đây,
không hơn gì quá khứ của Tân Ghinê hoặc ôxtrâylia Thế nhng, cũng theo nhận
định của các nhà nghiên cứu và thực tế cũng đã chứng minh. Nếu nhờ ảnh hởng
của nền văn minh ấn Độ mà Chămpa cũng nh các nớc khác ở Đông Nam á có
thâm nhập qua văn hoá đó mà văn minh ấn Độ dễ đợc những ngời dân Chămpa
chấp nhận và chấp nhận khá nhanh và triệt để..
Ngời ấn Độ đến với các thổ dân Chămpa cũng nh các thổ dân khác trong
khu vực Đông Nam á không phải nh những ngời văn minh đến với những ngời
mông muội, hoặc nh những ngời quá xa lạ đến với nhau nh kiểu ngời Âu đến
Phi Châu và á châu ở thời cận - hiện đại.
Khi những ngời ấn đầu tiên tới Chămpa, ngời dân ở đây không còn là
những ngời nguyên thuỷ nữa mà đã là những c dân của nền văn hoá phát triển
không thua kém gì nhiều dân tộc ở ấn Độ. Mặc dầu cha có đầy đủ cứ liệu để
chứng minh ngời Sa Huỳnh là tiền thân của ngời Chămpa, nhng chắc chắn chủ
nhân của nền văn hoá Sa Huỳnh - một nền văn hoá kim khí phát triển cao ở
Đông Nam á - phải là một bộ phận c dân quan trọng của vơng quốc Chămpa
sau này. Về nhiều mặt, c dân Chămpa không thua gì ngời ấn cả, có thua chăng
là thua cách tổ chức một xã hội ở mức cao hơn - mức quốc gia, vì khi ngời ấn
tới c dân Chămpa đang còn ở giai đoạn tiền nhà nớc, có thua chăng là thua ở
một t tởng , một tôn giáo với đầy đủ hệ thống giáo lý chặt chẽ và hấp dẫn và có
thua chăng là thua một hệ thống văn tự và văn bản hoàn chỉnh, tiện lợi. Hơn thế
nữa, văn hoá truyền thống của các c dân Chămpa có nhiều tơng đồng và gần gũi
với văn hoá của các dân tộc ấn Độ, vì thổ dân Chămpa cũng nh nớc Đông Nam
á, nói chung, về mặt nhân chủng học rất gần với nhiều dân tộc ấn Độ. Điều
này giúp ta phần nào hiểu đợc vì sao ngời dân Chămpa cũng nh Đông Nam á
dễ dàng chấp nhận và tiếp thu những thành tựu văn hoá, thậm chí cả những
thành tựu phát triển cao hơn của ấn Độ. Hay nói một cách khác , những truyền
thống văn hoá của các c dân Chămpa đã tìm đợc ở văn hoá ấn Độ những hình
thức thể hiện phù hợp nhng ở mức cao hơn.
Những bằng chứng về khảo cổ học cũng nh dân tộc học cho ta biết, khi
ngời ấn tới nhiều tộc ngời ở Đông Nam á trong đó có những c dân Chămpa
đã sống trong một xã hội tiền nhà nớc, nghĩa là trong xã hội đã có một tầng lớp
tù trởng lớn hay những thủ lĩnh lớn . Những ngời ấn chắc hẳn sẽ tìm cách bén
rễ vào tầng lớp xã hội bên trên này của Chămpa ở giai đoạn đầu khi họ tới đây.
văn hoá của ấn Độ, từ chữ viết, văn bản, đến kiến trúc điêu khắc, từ luật, chính
trị tới văn học, ca múa, từ cách đi đứng, ăn chơi tới hệ thống đẳng cấp Không
phải ngẫu nhiên mà những gì th tịch cổ Trung quốc và bia ký Chămpa ghi lại
cũng nh những tác phẩm kiến trúc và điêu khắc mà vơng quốc cổ Chămpa để
lại là cả một bức tranh phong phú, sinh động và khá đầy đủ về ảnh h ởng
nhiều mặt của văn hoá ấn Độ đối với triều đình và tầng lớp trên của Chămpa.
Tất nhiên, để tạo ra đền tháp, những tác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ, để
trình diễn những bản nhạc và những vũ điệu Tây thiên đầy quyến rũ phải có
sự tham gia, thậm chí là sự tham gia chủ yếu, của những ngời dân bình thờng đã
đợc học hành và đào luyện kỹ lỡng, nhng tất cả những cái đó đều nhằm phục
vụ cho vơng quyền và đều cho vua chúa và tầng lớp trên của quốc gia Chămpa
nằm giữ. Không phải ngẫu nhiên mà hầu nh tất cả những di sản văn hoá
Chămpa hiện còn đều mang tính vơng quyền và phục vơng quyền vì thế, chúng
tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa, tính vơng quyền là đặc trng cơ bản nhất của
quá trình tiếp nhận những ảnh hởng của văn hoá ấn Độ ở Chămpa. Đặc trng này
không riêng cho Chămpa mà còn chung cho cả các quốc gia cổ đại khác ở Đông
Nam á . Điều này lý giải vì sao khi các vơng triều chịu ảnh hởng ấn Độ sụp đổ
thì những ảnh hởng ấn Độ cũng hoặc biến mất luôn hoặc phải biến đổi cho phù
hợp.
Tất nhiên, những ảnh hởng của văn hoá ấn Độ ở Chămpa cũng đợc dân
chúng tiếp nhận, hay nói cách khác, ảnh hởng của ấn Độ cũng đã bén rễ ở lớp
dới của xã hội Chămpa; nhng chủ yếu đời sống và sinh hoạt và văn hoá Chămpa
dân gian. Vì vậy, khi có một sự tác động mới vào đó, hoặc theo thời gian, những
ảnh hởng đó mất đi, biến đổi hoặc bị lãng quên. Một trong những bằng chứng
đầy thuyết phục cho điều này là, hiện nay khó có thể tìm thấy những ảnh hởng
của ấn Độ trong ngời Chăm hiện nay. ở những ngời Chăm theo Hồi giáo chúng
đã đợc thay bằng ảnh hởng của Đạo hồi, còn ở những ngời Chăm Bàlamôn, thì
chúng đã bị hoà nhập vào những yếu tố văn hoá dân gian truyền thống rồi. Kết
quả là, những dấu tích còn lại duy nhất cũng nh những gì đã đợc ghi lại thành
văn về ảnh hởng của ấn Độ đối với Chămpa, lại đều liên quan tới triều đình và
đối với văn hoá truyền thống của Chămpa. Vì vậy không có sự thay đổi, thì
những yếu tố ấn Độ khó có thể nhập đựơc vào mảnh đất Chămpa. Ngời đầu tiên
phải làm công việc này, không phải là ai khác, mà chính là vua chúa và tầng lớp
trên của triều đình Chămpa. Nhờ vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, những cái vỏ,
những hình thức biểu hiện của ấn Độ đã nhanh chóng đựơc khuôn vào những
nội dung truyền thống bản địa và góp phần đẩy những nội dung đó lên một cấp
độ cao hơn.
Với bia ký Đông Yên Châu ( Quảng Nam - Đà Nẵng ) thế kỉ IV - V,
Chămpa là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam á đã dựa trên văn tự ấn Độ sáng tạo
ra chữ viết của mình. Từ đó trở đi, ở Chămpa, bên cạnh chữ Phạn, đã tồn tại và
phổ biến chữ viết của ngời Chăm. Sau nhiều lần cải tiến từ dạng chữ vuông đến
chữ nét cuốn, văn tự một ngày một hoàn hảo để trở thành dạng chữ viết phổ
biến ở ngời Chăm hiện nay.
Cũng ngay từ thế kỷ IV - V, bia Đông Yên Châu cho chúng ta biết, bên
cạnh thờ các vị thần ấn Độ, các vua chúa Chăm còn duy trì tín ngỡng bản địa -
thờ thần rắn. Bên cạnh thờ thần rắn, các vị thần bản địa cũng dần dần đựơc đẩy
lên ngang tầm với các vị thần tối thợng ấn Độ và nhập vào cái vỏ của thần thoại
ấn Độ. Ví dụ điển hình cho hiện tợng này là sự tôn kính và sùng bái của các
vua chúa Chămpa dành cho nữ thần Mẹ của xứ sở - nữ thần Pô In Nagar. Muộn
hơn việc thờ Pô Nagar là việc triều đình và dân chúng Chămpa đã thần hoá một
số vị vua có công với nớc nh Pô Kaung Garai (1151 - 1205 ). Pô Rômê ( 1627 -
1651 ) và nhờ các vị vua đó d ới dạng Siva tại các tháp lớn. Hiện tợng thờ thần
vua ở Chămpa chỉ là một hình thức cao hơn của tín ngỡng thờ cúng tổ tiên
truyền thống của ngời Chăm. Khi tôn giáo của ấn Độ ngự trị trong triều đình
Chămpa, tín ngỡng thờ cúng tổ tiên không những mất đi mà còn đợc đẩy cao
lên tới tầm cỡ tôn giáo. Các bia ký cổ Chămpa luôn nói tới các vua, các đại thần
dựng thánh đờng thờ những tổ tiên đã mất dới dạng các vị thần ấn Độ. Đặc biệt,