ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ ĐẾN ĐÔNG BẮC Á
I. Đông Bắc Á
Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Đông Bắc Á, chủ yếu thông qua con
đường truyền giáo và Con đường tơ lụa.
1
Màu sắc văn hóa Ấn Độ thể hiện ở Đông Bắc Á chủ yếu chịu sự chi phối
của tôn giáo, mạnh mẽ, đặc trưng nhất là Phật giáo, từ đó kéo theo những ảnh hưởng
về mặt khoa học, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc, hội họa…tất nhiên là theo hơi hướng
Phật giáo.
I. 1. Phật giáo
a. Trung Quốc
Về mặt địa lý, Phật giáo đã theo chân các nhà sư truyền giáo Phạm Tăng
được truyền đến Trung Quốc theo hai ngả đường là đường bộ và đường thủy. Về
đường bộ chủ yếu là 2 con đường giaO thông lớn: phía Bắc và phía Nam của các nước
Tây vực. Về sau, giữa 2 con đường trên, còn có con đường “Nhập trúc cầu pháp” của
ngài Pháp Hiển. Về đường thủy thì chủ yếu từ các hải cảng ở tỉnh Quảng Đông.
Trong khoảng thời gian dài hơn 2000 năm từ khi bắt đầu du nhập vào
Trung Hoa cho đến hiện tại, đạo Phật đã nhiều lần không thành và suy vong theo các
triều đại.
Bốn thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo:
-Từ Tam quốc đến Tây Tấn: đây là thời kỳ có nhiều vị cao tăng
từ Tây vực sang truyền đạo, đồng thời từ các vị vua chúa đến dân gian
đều quy ngưỡng theo đạo Phật.
-Thời Nam Bắc triều: đây là thời kỳ mà Bodhi Dharma tử Tây
Trúc sang truyền pháp Thiền tôn.
-Thời Đường: dưới thời Đường Thái Tôn, Đường Huyền Trang
nhận thấy kinh điển nước nhà hoặc bị thiêu hủy vỉ giặc giã hoặc sai
1
Con đường tơ lụa là con đường thương mại thời cổ do Trung Quốc khai thông cách đây hơn 2000 năm nổi tiếng thế
giới, là chiếc cầu nối giữa Trung Quốc với các nước Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, góp phần quan trọng cho sự giao lưu
vật chất và văn minh phương Đông và phương Tây.
b. Tây Tạng
Văn hóa Tây Tạng chịu sự giao lưu với các quốc gia láng giềng như
Bhutan, Nepal, các khu vực kề sát Ấn Độ như Sikkim, Ladakh, và các tỉnh kề bên của
Trung Quốc. Trong kho tàng văn hóa đó, đạo Phật nổi lên như một hạt nhân tiêu biểu
nhất vừa tựu trung được những đặc điểm văn hóa xã hội đặc sắc của vùng đật và con
người Tây Tạng vừa khái quát, ký giải được sức lan tỏa to lớn của văn hóa Tây Tạng.
Các nhà truyền giáo Ấn Độ đầu tiên đến Tây Tạng truyền bá Đạo Phật
vào thế kỷ VII SCN. Được tái nhập vào thế kỷ XI, chủ yếu từ vương quốc Pala thuộc
Đông Ấn và xứ Kashmir, đạo Phật từ đấy trở nên trung tâm của văn hóa và xã hội Tây
Tạng. Phật giáo Tây Tạng là một hình thức Đại Thừa, có nhiều trường phái và cách
thực hành. Một mặt, đặc tính bí truyền và nhiều nghi thức của nó bắt nguồn từ Mật
Tông Ấn Độ, một phái Phật giáo “huyền bí”, kết hợp giữa tư tưởng Phật giáo và Ấn
Độ giáo.
I. 2. Thiền
Thiền tông (chán zòng, Ti’an, Zen…) là một tông phái thuộc Phật giáo Đại
thừa (Mahayana), khởi nguyên từ một phương pháp tụ tập của Ấn Độ giáo và được
Phật tổ Thích ca mâu ni (Shakyamuni) sử dụng như một phương pháp tụ tập, một cách
tư duy để đạt tới chân lý. Sơ tổ của Thiền là Ca-diếp. Sư là một trong mười đệ tử xuất
sắc nhất của Ðức Phật, nên còn được gọi là Ma-ha (Ðại) Ca-diếp. Sau sư tổ Ca-diếp,
Thiền tông Ấn Ðộ truyền tiếp được 27 đời. Vào đầu thế kỷ VI, vị tổ thứ 28 của Thiền
tông Ấn Ðộ là Bồ Ðề Ðạt Ma lên đường giáo hoá đông độ.
Nội dung cơ bản của triết lý sống Thiền dực trên quan điểm về sự hướng nội
của mỗi cá nhân.
Vào hậu bán thế kỷ thứ 6, Thiền được Đạt Ma Sư Tổ truyền bá vào Trung
Quốc. Đến đời tổ thứ 5 là Hoằng Nhẫn thì đồ đệ chia làm 2 phái.Tổ thứ 6 Huệ Năng
lập Nam Tông, Thần Tú khai sáng Bắc Tông.Từ cửa đồ đệ của Huệ Năng là Nam
Nhạc phân ra thành hai chi Lâm Tế, Vi Ngưỡng, từ cửa một đồ đệ khác là Thanh
Nguyên lại xuất hiện 3 tôn phái khác: Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. Cả năm phái
gọi là "ngũ gia".Thêm vào đó, phái Lâm Tế lại đẻ ra hai phái Dương Kỳ, Hoàng Long,
kết cục có tất cả 6 nhánh.
cũng ảnh hưởng đến nội địa Trung Quốc, vừa tô “điểm may mắn” vừa tránh yêu trừ
tà. Ngưòi Trung Quốc đương thời có một cách nói, trẻ em từ 17 tuổi trở xuống hồn
không toàn vẹn, có thể tận mắt thấy yêu ma. Bởi vậy, nhiều người muốn để cho con
gái trưởng thành thuận lợi, đặc biệt chú ý “tô điểm may mắn” cho trẻ nhỏ, lâu dần
hình thành tập tục.
II. Sự du nhập của Phật giáo vào các nước Đông Nam Á (Việt Nam)
Phật giáo tồn tại và liên tục phát triển là cả một quá trình vừa phải đấu
tranh với các tôn giáo khác (như Balamôn giáo, Hindu giáo ) vừa phải đấu tranh
ngay trong nội bộ Phật giáo về mặt giáo lý, và sau đó Phật giáo đã hình thành 2 giáo
phái: Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Hinayana).
Đông Nam Á cơ bản tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa và căn cứ vào địa bàn
ảnh hưởng người ta thường gọi Phật giáo Đông Nam Á là Phật giáo Nam Tông. Còn
các nước Bắc Á như Trung Quốc, Triều Tiên - Hàn Quốc, Nhật Bản (kể cả Việt Nam)
tiếp thu Phật giáo Đại thừa, nên thường được gọi là Phật giáo Bắc Tông. Việt Nam
tiếp thu cả hai trường phái trên (do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Ấn Độ và gián tiếp từ
Trung Quốc). Phật giáo vào Đông Nam Á khá sớm. Nó thâm nhập vào từng quốc gia
trong những thời gian, không gian và con đường khác nhau, sự ảnh hưởng của nó
cũng không đều nhau. Người ta dự đoán Phật giáo vào Đông Nam Á khoảng thế kỷ I-
II đầu công nguyên và ở mỗi quốc gia nó du nhập trong khoảng thời gian khác nhau:
Việt Nam: Phật giáo du nhập vào khoảng những năm 194-195 và trung tâm Phật giáo
lớn nhất thời đó là Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Đạo Phật
truyền vào Việt Nam (khi đất nước ta còn gọi là Văn Lang - Giao chỉ) do hai ngả
đường bộ và thủy, giao liên giữa Ấn độ và Trung Hoa, phải ngang qua Việt Nam. Về
Đường Bộ đi qua miền Trung Á (Mông Cổ, Tây Tạng, Trung Hoa) rồi từ Trung Hoa
qua Cao Ly và Nhật bản. Về Đường Thủy thì qua ngả Srilanka, Java thuộc Indonésia
và Trung Hoa.
Nước ta ở vào giữa hai con đường ấy, và do sự ghé lại của những thương
nhân và tăng sĩ Ấn Độ đã mang hạt giống Bồ Đề - Đạo Phật - trồng trên đất Giao Chỉ
ngay từ đầu kỷ nguyên Tây lịch. Rất có thể là trước kỷ nguyên Tây lịch người Việt đã
có biết đến Đạo Phật rồi.
“ở hiền thì lại gặp lành, ở ác gặp dữ tan tành ra tro”
“ba vuông sánh với bảy tròn, đời cha nhân đức đời con sang giàu”
Những truyện ngụ ngôn, có tính cách luân lý và nhân qua thường quấn quýt lấy
nhau, Kéo Cày Trả Nợ, Ân Đức, Hai Vợ Chồng Con Chiền Chiện, Ông Sư, Chẽo Cờ
và Vẹt, Phù Du và Đom Đóm…
Và còn biết bao nhiêu đặc tính khác của Phật giáo rất phù hợp với dân tộc tính,
dân tộc tính, dân tộc trí, đã làm nảy nở trong những nếp sống hằng hữu để vươn lên
cuộc sống trong sáng, cao cả, toàn mỹ. Đó là những nét điển hình để chứng minh rằng
văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc có những mối duyên gặp gỡ rất đồng nhất tế nhị.
Không chỉ riêng nước Việt nam mà đối với bất cứ một nước nào khi Đạo Phật
truyền tới cũng đều được các nhóm dân tộc hoan hỷ long trọng tiếp nhận, không nơi
nào và chẳng lúc nào bị ruồng bỏ, bởi vì Đạo Phật là đạo Từ Bi, lấy tình thương làm
động lực phát triển lòng Từ, lấy trí tuệ làm mục tiêu nhắm tới Giác Ngộ Giải Thoát
Con Người. Được như vậy là vì Đạo Phật có một tôn chỉ rất rộng rãi: tôn trọng những
đặc tính của mỗi dân tộc, mà chỉ cần khai thác phần “nhân tính” để hỗ tương, với mục
đích dìu dắt con người đạt tới đích Chân Thiện Mỹ; và khi Đạo Phật đến dân tộc nào
cũng vẫn kính trọng nếp sống cổ truyền, những phong tục sẵn có. Chỉ vì tinh thần giáo
lý Giác ngộ Giải Thoát Tự Chủ của Đạo Phật không bao giờ trái với sự việc nào, bất
cứ ở đâu hạng người nào khi họ biết hướng đến chân lý
II.1. Chữ viết
Chữ Sanscrit (Ấn Độ) đã được du nhập vào Đông Nam Á từ rất sớm, vào
khoảng những thế kỷ đầu công nguyên. Trên cơ sở của văn tự Sanscrit, các dân tộc
Đông Nam Á đã sáng tạo ra chữ viết riêng của nước mình. Hàng loạt từ Ấn Độ được
du nhập vào tiếng Melayu (ngôn ngữ quốc gia của Malaysia, Indonesia, Brunei,
Singapore), tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Thái. Chữ Thái cổ đã được hình thành từ
đầu thế kỉ XIII và mang nhiều yếu tố của loại chữ Pê-gu cổ- loại chữ xuất hiện vào
những thế kỉ đầu công nguyên và chịu ảnh hưởng của loại chữ cổ Ấn Độ. Trong tiếng
Việt, một số từ chỉ cây cối như “mít”, “lài” và những từ thuộc về Phật giáo: “Bụt”,
“bồ đề”, “bồ tát”, “chùa”…đều có nguồn gốc từ Ấn Độ.
II.2. Ảnh hưởng tôn giáo Ấn Độ đối với văn hóa người Khmer
bản xứ vẫn tiếp tục phát triển song song với tập quán ấn Độ.
Chính vì vậy mà nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ trong việc hình thành văn hóa
Chăm thì Bàlamôn giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất. Bàlamôn giáo
(Brahmanism) là tôn giáo hình thành trên cơ sở kinh Veda do người Aryen từ phía
Tây Bắc đưa vào. Đạo Bàlamôn tôn thờ BRAHMA (nghĩa là "Đại Hồn"), một ý niệm
trừu tượng của kinh Veda. Brahma là chúa tể các thần, nguồn gốc của vũ trụ, có quyền
năng vô biên. Ngài hiện ở ba ngôi như thể thống nhất của một bộ ba vị thần tượng
trưng cho ba giai đoạn của sự sống: Brahma (Thần Sáng tạo), Visnu (Thần Bảo tồn)
và Siva (Thần Phá hủy).
Sau khi đạo Phật lụi tàn trên đất Ấn Độ, Bàlamôn giáo được cải biên thành Ấn
Độ giáo (Hinduism). Nguồn ảnh hưởng Ấn Độ, tuy đóng một vai trò quan trọng trong
sự hình thành văn hóa Chăm, nhưng nó không phải là tất cả. Kế thừa di sản phong phú
của văn hóa Sa Huỳnh. Văn hóa Chăm tất yếu còn là sản phẩm tổng hòa của cả nguồn
ảnh hưởng khu vực và nguồn bản địa.
Từ chỗ cả ba vị thần Bàlamôn đều được dựng tháp thờ khi đạo này mới du
nhập, dần dần chỉ có một mình Siva được đề cao bởi lẽ tính cách Siva phù hợp hơn cả
với tính cách bản địa của người Chăm. Và trong Siva muôn mặt với hàng trăm tên, chỉ
có Siva dưới dạng Linga hoặc với Linga được phổ biến bởi lẽ tục thờ cột đá như một
dạng của tín ngưỡng phồn thực vốn là truyền thống lâu đời của người nông nghiệp.
Cuối cùng, Siva thì được hình dung thành người Chăm (ngay cả con bò thần Nandin
của Siva cũng được thể hiện dưới dạng con trâu quen thuộc; còn Linga thì ở chỗ này
được thay bằng ông vua - anh hùng dân tộc Chăm, ở chỗ khác thì được thay bằng nữ
thần Mẹ quê hương xứ sở. Thành ra trên thực tế, thần Siva cùng bạn bè, bộ hạ của ông
với những lí lịch Ấn Độ xa lạ chỉ còn tồn tại trong ý nghĩ của tầng lớp trí thức và tu sĩ
Bàlamôn; đối với số đông người dân Chăm, thần Siva, tượng Linga,v.v chỉ là hình
thức, còn ước vọng phồn thực và lòng sùng kính các nữ thần địa phương, các anh
hùng dân tộc mới là nội dung. Đạo Bàlamôn xa lạ đã được người Chăm biến cải thành
đạo Bà chăm gần gũi; đạo Bà Chăm không còn là Bàlamôn giáo Ấn Độ nữa mà chỉ có
thể xem như một biến thể của nó.
Và đạo Bà Chăm một biến thể đạo Bàlamôn đã cho ta thấy sức mạnh bản địa