Ảnh hưởng của văn hóa Ấn độ trong nền nghệ thuật cổ Champa - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------

LÊ THỊ MỘNG TRINH
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ẤN ĐỘ
TRONG NỀN NGHỆ THUẬT CỔ CHAMPA

Chuyên ngành : Lòch Sử Thế Giới
Mã Số : 60 22 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ BÍCH LIÊN Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài :
Vương quốc cổ Champa nằm ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung Việt Nam ngày
nay. Đó là một vùng lãnh thổ hẹp, có bờ biển trải dài, uốn cong, quanh năm đắm mình trong
ánh nắng mặt trời ấm áp và những cơn gió biển. Có thể vì thế chăng mà con người sống nơi
đây trở nên nhạy cảm hơn và giàu trí tưởng tượng hơn, để gần hai ngàn năm trước, họ đã cho
ra đời một trong những nền nghệ thuật sớm và đẹp nhất vùng Đông Nam Á – nền nghệ

quốc cổ này, chúng ta có thể biết được Champa đã tiếp thu văn hoá Ấn Độ như thế nào, ở
những khía cạnh nào, mức độ ra sao. Từ đó, chúng ta có thể tìm ra được những nét đặc
trưng, bản sắc của nền nghệ thuật Champa, khẳng đònh được giá trò của nó so với những nền
nghệ thuật khác trong khu vực và trên thế giới.
Trải qua bao thăng trầm của lòch sử, hậu duệ của người Chàm cổ đã trở thành một bộ
phận máu thòt của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, lòch sử – văn hóa Champa đã trở
thành một phần của lòch sử – văn hóa dân tộc. Hơn thế, quá trình hình thành và phát triển
bản sắc văn hóa của dân tộc là quá trình hội nhập, đóng góp và chọn lọc những giá trò văn
hóa của các tộc người sống trên đất Việt, và, văn hóa Chăm là một trong những thành tố
quan trọng làm giàu có và phong phú hơn bản sắc của văn hóa Việt Nam. Chính vì lẽ đó,
chúng ta không thể không tìm hiểu về những di sản còn lại của người Champa xưa. Tìm
hiểu để biết thêm về lòch sử – văn hóa của một bộ phận dân cư Việt Nam, đồng thời, cũng
là để góp phần vào quá trình lưu giữ và trân trọng những di sản của dân tộc.
Từ những lý do ấy, cùng với niềm say mê và những u cầu về kiến thức lịch sử - văn hóa
của một giáo viên dạy sử, tôi quyết đònh chọn đề tài cho luận văn của mình là “Ảnh hưởng
của văn hoá Ấn Độ trong nền nghệ thuật cổ Champa”.
2. Lòch sử vấn đề :
Nhắc đến việc nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật của vương quốc Champa cổ, trước tiên,

chúng ta phải kể đến những chuyên gia nướ
c ngoài như H. Pamlentier, F. Stern, J.
Biosselier, E. Guillon... Qu
a các tác phẩm L’art architetural Hindou dans L’Inde et en
Extrême Orient (H. Pamlentier), Nghệ thuật Champa (xứ An Nam cũ) và tiến trình của nó
(F.Stern), Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu về các đạo giáo và tiếu tượng học (J.
Boisselier), Cham art (E. Guillon)..., các tác giả đã phân tích khá cụ thể những công trình
kiến trúc và các tác phẩm điêu khắc tiêu biểu của vương quốc Champa cổ, đồng thời cũng
chỉ ra những chi tiết mang dấu ấn của sự giao lưu văn hóa với bên ngoài (Ấn Độ, Môn-
Dvaravati, Angkor...). Đối với Ấn Độ, theo lời nhận đònh của các tác giả, có vẻ như,
Champa chỉ nhận ảnh hưởng trực tiếp từ quốc gia này vào những thế kỷ đầu sau khi lập

Champa, sự thật và huyền thoại (1994), Thánh đòa Mỹ Sơn (2003), Văn hóa cổ Champa
(2003), Điêu khắc Champa (2004), Tháp bà Po Nagar, từ các purana Ấn Độ đến những huyền
tích dân gian của người Chăm và người Việt, Thờ Sivalinga - từ Ấn Độ tới Champa, Ấn Độ và
văn hóa Champa...Qua những tác phẩm và bài viết ấy, tác giả đã cho chúng ta một cái nhìn
khá sâu sắc, toàn diện về nền văn hóa Champa, từ kiến trúc, điêu khắc đến múa, âm nhạc.
Ảnh hưởng của các nền văn hóa bên ngoài đối với các lónh vực nghệ thuật của Champa
cũng được tác giả đề cập đến. Đặc biệt, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Champa
được tác giả lưu ý nhiều hơn cả. Với tám mặt giấy đầy kín chữ, bài viết Ấn Độ và văn hóa
Champa của Ngô Văn Doanh đã cho chúng ta biết nguyên nhân vì sao văn hóa Ấn Độ đến
Đông Nam Á và cung cấp cho chúng ta những tri thức cô đọng nhưng toàn diện về ảnh
hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa - nghệ thuật Champa. Nhìn chung, theo quan
điểm của tác giả, văn hóa Champa (nói chung) và nghệ thuật Champa (nói riêng) chòu ảnh
hưởng khá sâu đậm của văn hóa Ấn Độ. Tuy nhiên, văn hóa Ấn Độ, xét cho cùng, cũng chỉ
là “lớp vỏ bọc” bên ngoài của nền văn hóa Champa đậm chất bản đòa mà thôi!
Bên cạnh những tác phẩm của Ngô Văn Doanh, chúng ta còn có thể tìm hiểu về văn hóa
Champa qua những công trình nghiên cứu, bài viết của Lê Đ
ình Phụng. Các tác phẩm : Tìm
hiểu lòch sử kiến trúc tháp Champa (2005), Phong cách Mỹ Sơn E1 trong nghệ thuật điêu
khắc đá Champa (2006), Giá trò văn hóa của các tháp Chăm Bình Đònh... của Lê Đình Phụng
đã cung cấp cho ta nhiều hiểu biết về kiến trúc và điêu khắc của vương quốc Champa cổ.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đôi nét về những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và các
nước khác thể hiện trên các công trình kiến trúc đền - tháp Champa.
Nghiên cứu chuyên sâu về Champa còn có thể kể đến Trần Kỳ Phương. Qua các công

trình, bài viết như Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng (1987), Di sản nghệ thuật Chăm tại
miền Trung Việt Nam (2001), Thánh đô Mỹ sơn, trung tâm nghệ thuật của vương quốc cổ
Champa (2006), Phế tích Champa: khái luận về kiến trúc đền - tháp..., Trần Kỳ Phương đã
cho ta một cái nhìn khái quát về những di sản kiến trúc, điêu khắc mà Champa để lại. Bên
cạnh đó, tác giả đã chỉ ra cho ta thấy những ảnh hưởng của tư tưởng, tôn giáo Ấn Độ thể
hiện trên các kiến trúc, đền - tháp Champa.

điểm du nhập Phật giáo vào Champa của Thông Thanh Khánh, Di sản nghệ thuật Chăm,
Nghệ thuật Chăm tại bảo tàng Guimet của Văn Ngọc... Những bài viết trên đã cung cấp cho
ta ít nhiều tư liệu về văn hoá, nghệ thuật của vương quốc Champa, đồng thời, cũng cho ta
biết thêm một số thông tin về ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đối với nghệ thuật Champa.
Cũng thuộc lónh vực nghệ thuật nhưng âm nhạc và múa Champa có ít công trình nghiên
cứu và bài viết hơn. Có thể giải thích hiện tượng này là do tư liệu gốc về múa và âm nhạc
Champa còn lại không nhiều. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn có thể mường tượng được một cách
khái quát về lónh vực nghệ thuật này thông qua các tác phẩm, bài viết như Nghệ thuật múa
Chàm của Ngọc Canh, Bước đầu tìm hiểu, phục hồi múa cung đình Chăm của Đặng Hùng,
Đặc trưng âm nhạc nghi lễ của người C
hăm Bà la môn của Văn Thu Bích, Múa Chàm của
Irasara.... Chỉ gói gọn trong vài mươi trang giấy mỏng manh, thế nhưng, bài viết Nghệ thuật
múa Chàm của tác giả Ngọc Canh đã cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện về nghệ
thuật múa Champa, từ nguồn gốc, các hình thái múa đến đặc điểm chung của các động tác
múa. Tác phẩm của Đặng Hùng thì không bao quát như thế. Tác giả chỉ trình bày xoáy sâu
vào “Nghệ thuật múa cung đình Chăm”. Tìm hiểu tác phẩm này, chúng ta có thể biết được
những nhạc cụ mà người Champa đã dùng trong nghi lễ cung đình ngày xưa, đặc điểm của
múa cung đình Chăm và sự thay đổi trong phong cách múa cung đình Chăm qua các thời kỳ
lòch sử. Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với âm nhạc và nghệ thuật múa Champa cũng
được các tác giả đề cập đến trong các tác phẩm ấy. Tuy vấn đề này chỉ được nói qua một
cách sơ lược nhưng đó cũng là những tri thức quý giá, rất hữu ích cho những ai yêu thích tìm
hiểu về âm nhạc và nghệ thuật múa Champa.
Người hướng dẫn luận văn này của tôi, Tiến só Hà Bích Liên cũng là một nhà nghiên cứu
chuyên sâu về lòch sử và văn hoá của vương quốc cổ Champa. Bà đã có những công trình,
bài viết có giá trò đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền nghệ thuật độc đáo của
vương quốc này. Trong luận án tiến só lòch sử của mình, khi trình bày về “quan hệ giữa
vương quốc cổ Champa với các nước trong khu vực”, bà đã bàn đến một số khía cạnh của
nghệ thuật Champa như là một bằng chứng của sự giao lưu. Tuy quan hệ giữa Ấn Độ và

Champa không được trực tiếp nói đến ở đây nhưng thông qua những đoạn phân tích về

tìm hiểu để có cái nhìn sâu sắc hơn về các tác phẩm nghệ thuật ấy, đồng thời, để hiểu rõ
hơn khát vọng về cái đẹp và thế giới tâm linh của một tộc người đã từng sống trên lãnh thổ
Việt Nam.
Nghiên cứu về nghệ thuật Champa không phải là trọng tâm của luận văn, thế nên, việc
tạo dựng một bức tranh toàn cảnh về nền nghệ thuật Champa là điều mà người viết không
thể thực hiện được. Do vậy, phạm vi nghiên cứu những ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đối
với nghệ thuật Champa được thực hiện giới hạn trên nền kiến thức về mối quan hệ giữa lòch
sử và lòch sử nghệ thuật.
Có rất nhiều lónh vự
c bao hàm trong nền nghệ thuật cổ Champa, ngoài kiến trúc, điêu
khắc còn có âm nhạc, nghệ thuật múa… Trong phạm vi luận văn này, người viết sẽ lần lượt
nghiên cứu, trình bày ảnh hưởng của văn hoá ấn Độ thể hiện trong từng lónh vực cụ thể ấy.
Tuy nhiên, chính tài liệu sẽ giới hạn lại nội dung của đề tài nghiên cứu. Như chúng ta đã
biết, người Chăm xưa có thói quen cầu nguyện trong những ngôi đền và có truyền thống
đúc các pho tượng để thờ cúng. Chính vì thế, trong nền nghệ thuật Champa, nghệ thuật kiến
trúc và điêu khắc là hai lónh vực nổi bật nhất. Đây cũng là hai lónh vực có tài liệu phong
phú hơn cả. Vì vậy, người viết sẽ xoáy sâu nghiên cứu hai lónh vực này.
Âm nhạc và nghệ thuật múa Champa đi cùng với đền tháp và những lễ nghi tôn giáo.
Tuy nhiên, đó là lónh vực văn hoá phi vật thể và đã mai một theo năm tháng. Gần như, nó
chỉ còn để lại dấu ấn trên các công trình kiến trúc và các tác phẩm điêu khắc. Vì thế, mặt
dù nó là một lónh vực nghệ thuật riêng, song, khi trình bày, người viết sẽ bàn về nó khi phân
tích ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ thể hiện trong lónh vực điêu khắc.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau :
- Phương pháp lòch sử : trình bày theo khung thời gian và không gian lòch sử, dựa trên tư
liệu để đánh giá các vấn đề có liên quan đến nội dung luận văn.
- Phương pháp lo-gic : trên cơ sở những tư liệu thu thập được, người viết tiến hành phân
tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu nhằm làm nổi bật lên được sự ảnh hưởng và mức độ ảnh
hưởng của văn hoá Ấn Độ đối với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc và nghệ thuật

Độ cũng ảnh hưởng đến Champa với mức độ như nhau và được người Champa tiếp nhận
một cách rập khuôn và thể hiện ra thành các tác phẩm nghệ thuật. Bởi lẽ, nghệ thuật là một
hoạt động sáng tạo. Chủ thể sáng tạo là con người có những mối quan hệ xã hội phức tạp,
có tình cảm, nguyện vọng, tâm tư. Trong những khung cảnh lòch sử khác nhau, với mức độ
đậm, nhạt của các mối quan hệ xã hội và những cung bậc cảm xúc khác nhau, những sản
phẩm nghệ thuật do con người tạo ra cũng khác. Nói một cách ngắn gọn, lòch sử nghệ thuật
có quan hệ mật thiết, bò chi phối bởi lòch sử quốc gia – dân tộc. Sự phát triển của nền nghệ
thuật Champa cũng không nằm ngoài qui luật này. Trong những bối cảnh lòch sử cụ thể, với
những biến động về chính trò và sự thònh suy về kinh tế, mối quan hệ giữa Champa với các
nước cũng như mức độ ảnh hưởng của các nền văn hoá bên ngoài, đặc biệt là ảnh hưởng
của văn hoá Ấn Độ, đến Champa cũng có sự đổi thay. Chính vì thế, để hiểu được một cách
toàn diện và sâu sắc về nền nghệ thuật Champa, cũng như, để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng
của văn hoá Ấn Độ đến nghệ thuật Champa, chúng ta không thể không tìm hiểu khái quát
tiến trình phát triển của nền nghệ thuật ấy.
1.1. Sự du
nhập của văn hóa Ấn Độ và sự ra đời của nền nghệ thuật Champa
Căn cứ vào những tư liệu khảo cổ học, chúng ta biết được rằng “trước khi ảnh hưởng Ấn
Độ tới, ở Champa chưa có truyền thống xây dựng đền - thá
p mang tính biểu tượng sâu sắc
và bằng vật liệu bền, chưa quen thể hiện lên trên bề mặt đá một cách gợi cảm như Ấn Độ”
[17, tr. 95]. Như vậy, có thể nói, văn hóa Ấn Độ chính là chất xúc tác quan trọng để
Champa tạo nên nền nghệ thuật của họ. Chính vì lẽ đó, khi bàn về lòch sử nghệ thuật
Champa, chúng ta không thể không nói qua một chút về con đường, thời điểm du nhập của
văn hoá Ấn Độ vào lãnh thổ của vương quốc Champa cổ.
Vương triều Simhapura – vương triều đầu tiên của vương quốc Champa - mang rất nhiều
yếu tố Hinđu trong bản thân nó. Từ tên nước, tên hiệu các vò vua, tê
n các vùng, miền, thành
phố, ngôn ngữ mà vương triều Simhapura sử dụng : chữ Phạn, đến các tác phẩm điêu khắc
(tượng Phật, tượng thần…) có cách thể hiện rất gần gũi với truyền thống nghệ thuật Ấn Độ…
đã nói lên điều đó. Sự đậm đà của những yếu tố Hinđu cho phép ta xác đònh là đã có một

Kaudilya) có đoạn kể rằng : vò thượng thư của vua Chandragupta (cuối thế kỷ IV đầu thế kỷ
III TCN) đã khuyên nhà vua chiếm đoạt đất đai của các vương quốc khác hay di dân quá
đông của mình tới đó [12, tr.87]. Việc chiếm đoạt đất đai có lẽ ít được ủng hộ, bởi vì, là đất
nước thường xuyên phải đối mặt với chiến tranh, hơn ai hết, các vò vua Ấn Độ hiểu rằng
chiến tranh sẽ gây ra nhiều tổn thất. Trong khi đó, dưới sức ép của việc tăng dân số, một
trong những phương pháp mà các vò vua Ấn Độ có thể nghó đến là chính sách di dân. Như
vậy, thương nhân, người dân di cư Ấn Độ chính là những người đầu tiên đã truyền bá văn
hoá, tôn giáo Ấn Độ tới Champa. Dó nhiên, sự truyền bá này chỉ diễn ra một cách tự nhiên
thông qua các hoạt động trong cuộc sống.
Không chỉ có thế, văn hoá Ấn Độ, đặc biệt là tôn giáo còn được truyền đến Champa một
cách có hệ thống. Hoạt động truyền bá này được thực hiện qua các nhà sư, tu só Bà la môn.
Do sự thôi thúc của lòng mộ đạo, do sự khuyến khích, tạo điều kiện của các vò vua, những
nhà sư, tu só Bà la môn đã rời “xứ sở của các thần linh” để đi đến các vùng đất mới, trong
đó có lãnh thổ của vương quốc Champa để tuyên truyền đạo pháp. Việc truyền bá văn hoá
Ấn Độ, nhất là tôn giáo, đã diễn ra từ trước công nguyên nhưng có lẽ phải chờ đến đầu
công nguyên, vào khoảng thế kỷ II- III, dưới thời trò vì của vò vua mộ
đạo Asôka, thì mới trở
nên rầm rộ. Champa chắc hẳn cũng đã tiếp thu một cách có hệ thống những quan điểm triết
học và tôn giáo Ấn Độ trong khoảng thời gian này.
Văn hóa Ấn Độ chính là sự kết hợp, hoà quyện giữa ba yếu tố : tôn giáo, triết học và
thần thoại. Trong ba yếu tố đó
, tôn giáo là yếu tố bao trùm nhất. Tôn giáo Ấn Độ chi phối
các lónh vực khác của văn hóa, là mảnh đất màu mỡ để cho những hạt mầm của văn học,
nghệ thuật nảy nở sinh sôi. Champa đã tiếp thu văn hóa Ấn Độ, nhiều nhất là tôn giáo, dựa
trên một sự đồng cảm sâu sắc về lónh vực tâm linh. Và, cũng như Ấn Độ, cùng với sự du
nhập tôn giáo vào lãnh thổ Champa, một nền nghệ thuật nhằm chuyển tải những cái đẹp,
những quan niệm sâu xa về thế giới cũng đã xuất hiện.
Qua các thư tòch cổ, những đền tháp, tượng, phù điêu hiện còn, ta biết, nền nghệ thuật
của vương quốc Champa xưa đã hình thành, phát triển trong thời gian khá dài (từ thế kỷ III-
IV đến thế kỷ XVI) và khá đa dạng. Các lónh vực nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, âm

Trong quá trình nghiên cứu về nền nghệ thuật Champa, các chuyên gia trong và ngoài
nước đã dựa vào nhiều yếu tố như đặc điểm của các ngôi tháp (mái, thân, cột ốp, cửa giả,
các họa tiết trang trí…), cách thể hiện khuôn mặt,
đầu tóc, trang phục, trang sức… của các
tượng, phù điêu để đònh thành các phong cách và dựa vào nội dung bi kí, lòch sử chính trò
Champa, mối quan hệ giữa Champa với các nước để đònh niên đại cho các phong cách này.
Tuy nhiên, có lẽ do những tư liệu cổ khá phân tán và còn lại không nhiều, cộng thêm, sự
khác biệt trong quan niệm thẩm mỹ của mỗi người, thế nên, cách phân chia phong cách
nghệ thuật và đònh khung niên đại cho các phong cách giữa các chuyên gia cũng khác.
Trong số các quan điểm phân chia phong cách,
quan điểm của chuyên gia người Pháp
Ph. Stern là khá hợp lí và nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia trong nước. Theo
quan điểm của Ph. Stern, nền nghệ thuật của Champa đã tồn tại trong khoảng thời gian từ
cuối thế kỉ VII – đầu thế kỉ VIII đến thế kỉ XVI và đã trải qua sáu phong cách :
- Phong cách Mó Sơn E1 (cuối t
hế kỉ VII – giữa thế kỉ VIII)
- Phong cách Hoà La
i (giữa thế kỉ VIII – giữa thế kỉ IX)
- Phong cách Đồng Dương (cuối thế kỉ IX)
- Phong cách Mó Sơn A1 (thế kỉ X)
- Phong cách Bình Đ
ònh (phong cách Tháp Mắm – thế kỉ XI – Thế kỉ XIV)
- Phong cách muộn (thế kỉ XIV - XVI)
Khi trình bày về các giai đoạn phát triển của nghệ thuật Champa, người viết chủ yếu dựa
trên cách phân chia phong cách này.
1.2.1. Giai đoạn trước thế kỷ V
II và những tác phẩm nghệ thuật đầu tiên của Champa
Nền nghệ thuật Champa hẳn là đã ra đời từ những thế kỷ đầu công nguyên cùng với sự
du nhập của tôn giáo Ấn Độ. Thế nhưng, đến nay, chúng ta vẫn chưa tìm được bất cứ tư liệu
nào đề cập đến nghệ thuật kiến trúc Champa trước thế kỷ VII. Có chăng, chỉ là một vài

thể xem đây là giai đoạn Champa tiếp thu mạnh mẽ và thực hành một cách rập khuôn
truyền thống mỹ thuật Ấn Độ. Chính vì thế, Ph. Stern đã nhận xét :
“Thời kì nảy sinh nghệ thuật Ấn Độ hoá ở Đông Dương diễn ra hơi muộn, thế kỉ
VII – VIII. Trước thời kì này, kiến trúc bằng gỗ mà nay không còn dấu tích gì, chỉ còn
mấy pho tượng đồng thuộc phong cách Amaravati và Srilanca; nếu loại bỏ một vài
mảnh kiến trúc bò hư hại nặng thì nghệ thuật Champa còn lại không thể lùi xa hơn Mó
Sơn E1, tức theo chúng tôi là thế kỉ VIII” [27, tr. 37]
Vì thực hành rập khuôn nên những tác phẩm nghệ thuật Champa ra đời trong giai đoạn
này còn rất thô sơ, khá tản mạn về đề tài và khó đònh thành phong cách. Tuy nhiên, nó cũng
hứa hẹn cho những tác phẩm đạt độ “chín” hơn, điêu luyện hơn trong giai đoạn sau…
1.2.2. Giai đoạn từ nửa sau thế kỷ VII đến nửa đầu thế kỷ VIII và sự nở rộ của phong
cách
Mỹ Sơn E1 :
Đến giai đoạn này, vương quốc Champa đã tồn tại được vài thế kỷ. Ngần ấy thời gian
giao lưu học hỏi đủ để Champa xây dựng cho mình một bản sắc riêng. Đối với Ấn Độ,
Champa vẫn giữ quan hệ buôn bán và giao lưu văn hoá thường xuyên. Đối với các nước
Đông Nam Á, do đã có một biến động lớn về chính trò diễn ra nên quan hệ giao lưu của
Champa cũng có sự thay đổi.
Trong nửa đầu thế kỷ VII, người Khmer đã tiến chiếm hoàn thành việc xâm lược Phù
Nam. Cùng với sự diệt vong của Phù Nam, mối quan hệ giữa Champa và vương quốc này
cũng biến mất. Thay vào đó, một mối quan hệ hữu nghò mới, theo c
on đường giao lưu tự
nhiên (chủ yếu là bằng đường thủy, thông qua dòng Mêkông) giữa những bộ phận cư dân
gần nhau, lại cùng nằm trong vùng ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đã hình thành : quan hệ
Champa – Chân Lạp. Đến khoảng giữa thế kỷ VII, mối quan hệ này đã đạt đến mức cao
của sự nồng ấm. Theo bia Ang Chumnik của người Khmer [27, tr. 34], vua Chân Lạp (cai trò
vào những năm 600 – 615) đã cử thượng thư của mình đi sứ sang Champa và khoảng năm
650, một hoàng thân Champa đã đến kinh đô Chân Lạp cưới công chúa. Đứa con của cuộc
hôn nhân này sau đó đã trở về Champa và lên ngôi, “phỏng theo bi kí Champa thì…chắc
không ai khác là Prakasdhama” [27, tr. 41], vua thứ chín của vương triều Simhapura.

quan hệ cha con của nền nghệ thuật Chăm thời Prakasadharma (653 – 679) với nền
nghệ thuật của phong cách Prey Khmeng và Sambor (cuối thế kỷ VII đầu thế kỷ
VIII)” [27, tr.42]
Có thể nhận thấy, trong khoảng thời gian từ cuối thế kỉ VII đến giữa thế kỉ VIII, ảnh
hưởng của văn hoá Ấn Độ đã được truyền đến C
hampa qua hai con đường : trực tiếp từ Ấn
Độ và gián tiếp qua Chân Lạp. Trong phong cách Mó Sơn E1, tinh thần của nghệ thuật Ấn
Độ còn thể hiện khá rõ. Những con người, con vật, hoa văn được chạm khắc trên các chi tiết
kiến trúc của tháp Mỹ Sơn E1 và những hiện vật điêu khắc khác như tượng Ganesa ở tháp
Mỹ Sơn E5, phù điêu quỷ Ravana lay động núi Kailasa ở lá nhó Mỹ Sơn F1, phù điêu Siva
múa ở lá nhó Mỹ Sơn C1, A4, tượng Vishnu ở Đa Nghi … đều rất tự nhiên, sinh động. Nó gợi
lại “vẻ đẹp lí tưởng mang tính quy phạm của truyền thống nghệ thuật Ấn Độ” [8, tr. 83],
đồng thời toát lên sức sống mạnh mẽ của một dân tộc đang trong quá trình khẳng đònh vò trí
của mình.
1.2.3. Giai đoạn từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX và phong cách nghệ t
huật Hoà
Lai :
Sau đời vua Vikarantavarman II (686-738), Champa dường như đã xảy ra một biến động
lớn về chính trò. Tân Đường thư (Q.222 hạ, 1b) cho biết : “Sau niên hiệu Chí Đức (Đường
Minh Hoà
ng, khoảng năm 756-758), Lâm Ấp đổi tên là Hoàn Vương”. Kinh đô của Champa
lúc này chuyển về miền nam, dưới tên gọi Virapura (thuộc tỉnh Phan Rang ngày nay). Tuy
tên nước, vò trí đặt đô cũng khác xưa, nhưng trong bi ký, các vò vua của vương triều Hoàn
Vương “vẫn tự nhận mình là vua Champa. Bia của Indravarman I còn khẳng đònh ông cai
quản toàn bộ Champa” [27, tr. 43]. Những điều đó cho phép ta khẳng đònh : trong khoảng
thời gian từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX, vương triều Virapura là vương triều chính
thức, duy nhất trên toàn lãnh thổ Champa.
Trong thời Hoàn Vương, nền kinh tế Champa, nhất là thương nghiệp, tiếp tục phát triển.

Bởi lẽ, “sau khi Óc Eo, đô thò cảng lớn nhất Đông Nam Á trong bảy thế kỷ đầu công

ngoài ra, đã xuất hiện thêm vài yếu tố mới được người Champa sáng tạo: dải thắt lưng sọc
dọc xoè rộng, đầu mút cuộn thành nhiều nếp sóng, đôi hoa tai tròn, to, chiếc kiềng đơn đính
tua hay kiềng kép, vòng đeo ở cánh tay, cổ tay, cổ chân, búi tóc ba tầng…
1.2.4. Giai đoạn cuối thế kỷ IX và dấu ấn của phong cách nghệ thuật Đồng Dương
Sau thời vua Vikrantavarman của vương triều Panduranga, có vẻ như Champa đã diễn ra
một cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng tản quyền cát cứ và xu hướng thống nhất. Kết
quả của cuộc đấu tranh đó là trung tâm chính trò của Champa lại chuyển lên phía bắc với sự
xuất hiện của một vương triều mới. Theo bi ký, Indrapura (Đồng Dương - Quảng Nam) là
kinh đô của vương triều này. Có thể nhận thấy, một vấn đề luôn thường trực trong lòch sử
của vương quốc cổ Champa là tình trạng phân quyền. Tuy vậy, xu hướng thống nhất vẫn
luôn chiếm ưu thế ở các triều đại hưng thònh. Triều Đồng Dương là một triều đại thống
nhất. Trên bi ký, các vua Đồng Dương luôn tự xưng mình là “vua tối cao” (Indravarman I),

“lãnh chúa tối cao của các đô thò Champa” (Sinhavarman) [27, tr. 54]. Xu hướng thống nhất
tộc người cũng được đề cao.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, Champa tiếp tục mở rộng giao lưu với các nước xung
quanh và khẳng đònh vò trí của mình trong khu vực. Trong bối cảnh đó, một phong cách
nghệ thuật độc đáo và có phần kỳ dò đã xuất hiện : phong cách nghệ thuật Đồng Dương.
Về mặt kiến trúc, trong phong cách Đồng Dương, các tháp được xây dựng với bố cục hơi
thô, hình thể không cân đối. Góc của các tầng tháp chính không có tháp nhỏ trang trí. Các
bề mặt tường tháp, vòm cửa, cột ốp… được trang trí dày đặc những hoạ tiết trang trí hình
móc, hình sâu đo. Về điêu khắc, bước sang phong cách Đồng Dương, sự khỏe khoắn của
phong cách Hòa Lai đã được nâng lên tột đỉnh. Sự cân bằng, tự nhiê
n, thanh thoát của điêu
khắc mất đi, thay vào đó là sự xum xuê, kỳ ảo, “bộn bề bản đòa” [Boisselier, 27, tr. 62].
Đặc điểm nhân chủng Chăm nổi rõ hơn bất kỳ giai đoạn nghệ thuật nào khác : đôi môi dày
với viền môi rõ nét, hàng ria mép dày, rậm, đôi khi trùm lấp môi trên, mũi tẹt, cánh mũi
rộng, đôi lông mày nổi cao, nối liền nhau. Đồ trang sức Đồng Dương trông nặng nề với
những đóa hoa lớn hình lá đề hoặc ba đầu rắn được trang trí trên mũ, tai, vòng tay, vòng cổ,
dây Bà la môn… Trong trang phục, điểm nhấn đáng lưu ý nhất là dải thắt lưng dài, tròn đầu

Đại Việt trong giai đoạn này khá nóng bỏng, dao động giữa hòa bình và chiến tranh. Cuối thế
kỷ IX và trong thế kỷ X, Campuchia đã nhiều lần tấn cơng Champa nhưng đều bị đánh bại. Đối
với Đại Việt, Champa lại thường chủ động gây hấn. Nguyên nhân có lẽ là do những mâu
thuẫn về quyền lợi kinh tế (sự xuất hiện của những cảng biển Đại Việt đã làm mất đi vò trí
độc tôn của những cảng biển Champa trên tuyến đường thương mại Nam Trung Hoa). Trong
khi đó, quan hệ Champa – Java ngày càng thân thiết hơn. Theo nội dung các bi ký, đại sứ
Java đã nhiều lần đến Champa và hoàng thân Champa cũng đã mấy lần đến Java để tìm
hiểu về tôn giáo. Chất keo gắn kết hai quốc gia này “có lẽ là sự tương đồng về ngôn ngữ,
văn hóa” [27, tr. 59]. Trên cơ sở sự thân thiết đó, một giai đoạn nghệ thuật “Java hoá” đã ra
đời ở Champa. Giai đoạn nghệ thuật này tồn tại gần suốt thế kỷ X và thể hiện qua phong
cách Mỹ Sơn A1.
Có lẽ, sự phồn thònh về kinh tế đã giúp cho tâm trạng, cảm xúc của con người trở nên
cân bằng hơn sau các cuộc chiến. Thêm vào đó, những thắng lợi trước các đợt tấn công,
cướp bóc của người Khmer có lẽ cũng đã giúp cho Champa thêm tự tin vào s
ức mạnh của
mình. Không còn nỗi hoang mang “lo sợ khoảng trống”, cũng không phải hối hả khẳng đònh
vò thế của dân tộc, các nghệ nhân Champa xa rời phong cách Đồng Dương với kiểu kiến
trúc kém cân đối và những đường nét chạm khắc có phần dữ dội, trở lại với cách thể hiện
nghệ thuật tinh tế, hài hòa. Một chút phóng túng, đam mê của Java được các nghệ nhân
Champa tiếp thu, thêm vào cách thể hiện của mình. Và, phong cách Mỹ Sơn A1 đã ra đời
với những công trình kiến trúc, điêu khắc đẹp nhất Champa mà người ta không thể không
thừa nhận. Phong cách mới này mở đầu bằng sự xuất hiện của tháp A1 tại thánh đòa Mỹ Sơn
.
Tọa lạc trong thánh đòa Mỹ Sơn, bên cạnh nhiều ngôi tháp khác, tháp Mỹ Sơn A1 vẫn
nổi bật lên bởi vẻ đẹp trang nhã của nó. Thân tháp cao, thanh tú, bề mặt tường ngoài được
trang trí bằng hệ thống các cột ốp, mỗi cột ốp có khe sâu chạy dọc giữa thân từ chân lên
đến đỉnh, tạo cảm giác mỗi cột là một cặp cột sóng đôi. Giữ
a các cột là những ô khám chứa
hình người đứng chắp tay hay cưỡi voi, góc các tầng tháp, trên vòm cung các cửa giả và cửa
ra vào được trang trí những hình tháp nhỏ xinh xắn. Tháp Mỹ Sơn A1 được đánh giá là một


những âm mưu thoán đoạt ngôi vò của các hoàng thân Champa và xu hướng phân liện trong
vương quốc. Hậu quả của những biến động này là Champa bò mất một phần đất đai và phải
dời đô về Vijaya - Bình Đònh. Mặc dù vậy, vương triều Vijaya vẫn là một vương triều thống
nhất. Nội dung văn bia của các vua Harivarman IV (1074-1081), Jaya Indravarman IV
(1139 – 1142), Jaya Harivarman I (1145 – 1170) đã thể hiện rõ điều đó. Các vò vua đã cố
gắng cho xây dựng nhiều đền tháp với hi vọng “trả lại sự huy hoàng xưa cũ của Champa”
[27, tr. 67]. Tuy nhiên, trong một bối cảnh đã có nhiều đổi thay, sự huy hoàng của Champa
trong khoảng thế kỷ X đã là quá khứ khó có thể nào quay lại!
Dưới tác động của tình hình mới, sự sáng tạo nghệ thuật của Champa cũng có sự thay
đổi. Dáng vẻ của các đền tháp không còn kiêu hãnh, thoá
ng đạt mà trở nên thô cứng, nặng
nề. Vòm cửa bên trên cửa chính và cửa giả nhô lên cao dần. Khe hở giữa các cột ốp rút
ngắn lại, các tháp trang trí góc, những mô típ hoa văn trên bề mặt tháp dường như biến mất.
Nét chạm khắc của nghệ nhân Champa đã trở nên khô khan hơn trước. Tuy nét duyên
dáng, nền nã của Trà Kiệu vẫn còn phảng phất đâu đó trong đôi mắt hình hạnh nhân nằm
ngang, trong búi tóc hình hình quả cầu và những chuỗi trang sức bằng ngọc, thế nhưng, cách
thể hiện nhân vật đã có phần gân guốc : cằm ngắn, đôi môi trở nên mạnh mẽ, mũi rộng,
vòng cung lông mày nổi lên. Tất cả những đặc điểm vừa nêu thể hiện rõ tâm trạng, cảm
xúc phức tạp của người Chăm : vẫn tự tin nhưng đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn họ đã dấy
lên một nỗi tự ti, vẫn tự hùng nhưng đã bắt đầu có ít nhiều sự mặc cảm. Nhiều nhà nghiên
cứu xem những đặc trưng nghệ thuật của giai đoạn này là bước chuyển giữa phong cách Mỹ
Sơn A1 và phong cách mới, thậm chí, có người còn đặt cho nó cái tên là phong cách Chánh
Lộ, một phong cách nghệ thuật riêng.
Đến đầu thế kỷ XII, mối quan hệ Champa - Campuchia diễn biến càng phức tạp và đi
đến chỗ quyết liệt. Cả hai bên thường lợi dụng những khoảnh khắc khó khăn trong nội bộ

của nhau để đưa quân tiến đánh. Đến đầu thế kỷ XIII, Champa đã bò chiếm đóng và biến
thành một tỉnh của Campuchia. Chiến tranh – dù là một con đường gập ghềnh nhưng vẫn là
cơ hội để cho các dòng văn hoá giao lưu. Và thế kỷ XI – XIII cũng là khoảng thời gian diễn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status