Ảnh hưởng của văn hóa nhật bản tới hoạt động xuất khẩu Việt Nam - Nhật Bản thời gian qua - Pdf 64

Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA
ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG
1.1. Khái niệm văn hóa
1.1.1. Định nghĩa văn hóa
Theo các nghiên cứu của các nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde
Kluckhohn thống kê vào năm 1952, trên thế giới có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa
trong các công trình nổi tiếng thế giới.
Theo nghĩa ban sơ từ tiếng Hán, Văn hóa là những nét xăm mình qua đó người khác
nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh
và các lực lượng bí ấn của thiên nhiên, chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên. Theo ngôn ngữ của
phương Tây, từ “Culture” – Văn hóa có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là
colo, colui, cultus với hai nghĩa: (1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu
cúng.
Vào năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và
xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học
và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức
tin.
Vậy tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển
trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành
động và tương tác xã hội của con người.
1.1.2. Đặc trưng của văn hóa
Văn hóa có bốn đặc trưng cơ bản sau:
 Tính hệ thống: Mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật
thiết với nhau, chứ không thể coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần của những
tri thức bộ phận.
 Tính giá trị: Văn hóa chứa cái đẹp, chứa các giá trị, là thước đo mức độ nhân bản
của xã hội và con người. Dựa vào văn hóa, người ta có thể đánh giá trình độ văn
minh của một cộng đồng người, một đất nước và một thời đại.

cái gì là sai. Hệ thống giá trị được hình thành qua quá trình giao tiếp, được duy trì và ủng hộ
bởi một nhóm người nhất định. Những giá trị ấy ảnh hưởng đến cách tư duy của con người
trong một nền văn hóa, và từ đó nó có tác động đến giao tiếp, đến cách thức làm việc của con
người.
Trang 2
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
Quan điểm là sự thể hiện giá trị tích cực hoặc tiêu cực, là những cảm xúc và khuynh
hướng của các cá nhân đối với những sự vật hay khái niệm. Quan điểm có ảnh hưởng đến
giá trị. Có thể nói, quan điểm định hướng cho sự hình thành giá trị. Ví dụ, người Mỹ quan
niệm trong cuộc sống cần có hưởng thụ, do đó họ coi trọng các giá trị vật chất cũng như đề
cao sự sở hữu vật chất.
b) Văn học và nghệ thuật
Văn hóa - văn học, nghệ thuật luôn là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền
vững của xã hội. Tư duy văn học, nghệ thuật là tư duy được thể hiện và thực hiện trong quá
trình sáng tạo và thụ cảm nghệ thuật. Sáng tạo và thụ cảm nghệ thuật là hình thái đặc trưng
và là hình thái cao nhất của hoạt động thẩm mỹ; trong sáng tạo và thụ cảm bao hàm cả đánh
giá giá trị. Do đó, nói đến vai trò của tư duy nghệ thuật đối với lối sống là nói đến vai trò của
nó đối với lối sống cả ở người nghệ sĩ, lẫn ở công chúng, tức lối sống của con người nói
chung trong những điều kiện xã hội, lịch sử nhất định.
Là hình thái kết tinh và là hình thái cao nhất của tư duy thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật có
một vai trò độc đáo không thể thay thế đối với lối sống con người. Bên cạnh ngôn ngữ, thì
văn học và nghệ thuật chính là sự phản ánh mức độ phát triển văn hóa của một quốc gia. Văn
học nghệ thuật giúp hình thành, phản ánh và miêu tả chi tiết đời sống tinh thần của người dân
một nước.
c) Phong tục tập quán và thói quen
Phong tục tập quán và thói quen được hình thành qua một quá trình lâu dài của đời
sống xã hội, quy định cách thức con người ứng xử phù hợp với một nền văn hóa nhất định.
Trước hết chúng ta xét đến nghi thức. Nghi thức là những cách thức đúng đắn trong
cư xử, nói năng và ăn mặc trong một nền văn hóa. Chẳng hạn như, trong nền văn hóa A-rập
từ vùng Trung Đông cho đến miền Tây Bắc nước Mỹ, một người sẽ không chìa tay ra chào

các phương tiện liên lạc hiện đại phục vụ cuộc sống và công việc như máy điện thoại, máy
fax, thư điện tử đã tạo nên những thay đổi trong cách thức tiếp xúc, trò chuyện, trao đổi công
việc của con người.
1.3. Vai trò của văn hóa trong hoạt động kinh doanh và ngoại thương
1.3.1. Ảnh hưởng tới tư duy và phong cách làm việc
- Ảnh hưởng tới hoạt động của não bộ: Theo những nghiên cứu mới nhất về não bộ dựa
trên công nghệ cao do giáo sư John Gabrieli và Trey Hedden thuộc Viện nghiên cứu não
bộ McGovern - Học viện công nghệ Massachussets (MIT); Sarah Ketay và Arthur Aron -
Đại học Stony Brook, New York; Hazel Rose Markus - Đại học Stanford khẳng định
rằng: “văn hóa không chỉ tác động tới ngôn ngữ, phong tục mà còn ảnh hưởng tới cách
mà con người cảm nhận về thế giới xung quanh ở mức độ cơ bản nhất - thí dụ như những
điều con người quan sát và tìm kiếm trên đường phố, hoặc thậm chí đơn giản chỉ là cách
nhận biết một đoạn thẳng nằm trong hình vuông.
Trang 4
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
- Văn hóa ảnh hưởng tới cách bạn tư duy và giải thích hiện tượng xung quanh: "Văn hóa
không thay đổi cách bạn quan niệm, đúng hơn văn hóa điều khiển cách bạn tư duy và
giải thích thế giới xung quanh".
Các nhà nghiên cứu cũng cho biết, ở những cá nhân gần gũi về văn hóa xuất hiện
những hiệu ứng lớn hơn, họ ưa thích những câu hỏi và giá trị trong những quan hệ xã hội.
Thí dụ như một cá nhân có chịu trách nhiệm hay không về những thất bại của một thành viên
trong gia đình, phản ánh sự can dự của yếu tố văn hóa. Trong cả hai nhóm, não bộ hoạt động
mạnh mẽ hơn khi ghi nhận những kích thích phù hợp với văn hóa.
"Mọi người sử dụng cùng một cơ chế chú ý cho nhiều hoạt động nhận thức phức tạp
nhưng họ được dạy bảo để sử dụng nó trong những cách khác nhau, đó chính là nhiệm vụ
của văn hóa". Gabrieli nói: "Thật hấp dẫn khi xem xét cách mà não bộ phản hồi những hình
vẽ đơn giản, một trong những hướng có thể tiên đoán, đó là cách mà cá nhân suy nghĩ về
những mối quan hệ tự chủ hay phụ thuộc trong xã hội". Nhóm các nhà nghiên cứu được dẫn
dắt bởi Trey Hedden và John Gabrieli tại Học viện công nghệ Massachusetts, đã chỉ ra rằng
hoạt động não bộ của con người bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tập quán vốn ăn sâu trong ý thức.

tới khía cạnh môi trường của sản phẩm. Hầu hết các công ty sản xuất công nghiệp (ví
dụ như linh kiện điện tử) của Nhật đều được yêu cầu đạt tiêu chuẩn ISO 14001 - là
tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống quản lý môi trường. Mặt khác, các sản phẩm được
nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản phải trải qua các kiểm định ngặt nghèo về các
tiêu chuẩn này. Văn hóa ảnh hưởng tới hệ thống phân phối hàng hóa trên thị trường
nói riêng và hoạt động marketing quốc tế nói chung. Tại Việt Nam khi mà nền kinh
tế nhỏ lẻ, manh mún, quan hệ làng xã vẫn được duy trì thì hệ thống phân phối chủ
yếu tới tay người tiêu dùng là hệ thống bán lẻ. Vì thế nếu các doanh nghiệp muốn
tiếp cận thị trường bán lẻ này họ phải đẩy mạnh hoạt động quảng bá và thay đổi
chính sách lợi nhuận, hoa hồng cho các đại lý bán lẻ này. Ngoài việc tác động tới
hình thức của hệ thống phân phối, văn hóa còn ảnh hưởng nhiều tới thời gian, lợi
nhuận phân phối và vị thế của người sản xuất – nhà phân phối trên thị trường.
Ví dụ như để thâm nhập thị trường sản xuất đồ gỗ châu Âu, chiến lược phân phối mà
các doanh nghiệp Việt Nam cần phân phối theo một trong các hướng chính sau:
 Phân phối qua đại lý
 Phân phối qua các công ty thiết kế, chuyên ngành
Trang 6
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
 Phân phối qua các hệ thống bán lẻ (là tổ chức hoặc các tổ chức phân phối không
chuyên như siêu thị, bách hóa…
Hình 1.3.2.1.2: Kênh phân phối gỗ tại thị trường Châu Âu
Đại lý
Franc
hise
Hệ
thống
cửa
hàng
Hệ thống của nhà máy
Flagship stores

Tổ chức Cá nhân
Nguồn: www.cbi.nl
1.3.2.2.Ảnh hưởng của văn hóa tới tiêu dùng
Văn hóa rất có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, đến quyết định mua hàng của mỗi
người.
Do vậy, hành vi tiêu dùng đã được xem là một nghiên cứu về đặc điểm của người
tiêu dùng, về nhân khẩu học, tâm thần học và những biến chuyển của nhu cầu con người.
Ngoài ra, đây còn được dùng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của một nhóm người như gia
đình, bạn bè và xã hội lên một cá thể. Do tất cả các khía cạnh của hành vi tiêu dùng đều được
yếu tố văn hóa bao trùm, nên những người làm marketing cần phải xác định và thấu hiểu
nhân tố này và tầm ảnh hưởng của nó lên marketing toàn cầu để đạt được thành công trong
kinh doanh.
Tháp nhu cầu của Maslow
Khi nhắc đến hành vi tiêu người tiêu dùng, không thể không nhắc đến Tháp nhu cầu
của Maslow (Maslow’s hierachy of needs). Maslow đã phân chia nhu cầu của con người theo
5 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là các nhu cầu cơ bản con người như văn, uống, duy trì nòi
giống…. để đảm bảo sự tồn tại của con người. Khi đã thỏa mãn nhu cầu cơ bản này, vấn đề
con người quan tâm lúc này là sự an toàn, an ninh của chính bản thân. Kế đến là nhu cầu giao
tiếp, những mối quan hệ và gắn bó trong xã hội. Nhu cầu tiếp tục tiến lên đến giai đaọn được
nhận biết và tôn trọng, để cuối cùng nhu cầu cao nhất là nhu cầu được thể hiện chính mình.
Hành vi người tiêu dùng sẽ thể hiện rất khác nhau qua các giai đoạn của tháp Maslow và văn
hóa có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ ở 2 điểm sau:
Trang 7
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
- Thứ nhất: Một điều cơ bản trong thuyết Maslow nhưng không hoàn toàn đúng ở tất
cả các nền văn hóa là nhu cầu không nối tiếp nhu cầu theo một trật tự nhất định.
- Thứ hai: Các nhu cầu có tính chất tương đồng sẽ được thỏa mãn bởi nhiều sản phẩm
khác nhau hay loại hình tiêu thụ khác nhau.
Trong một phạm vi xã hội, hành vi tiêu dùng của cá nhân sẽ thể hiện cá tính riêng và
sẽ xây dựng mối quan hệ xã hội dưới sự dẫn dắt của yếu tố văn hóa. Tôi chỉ lấy ví dụ thông

- Đổi mới lợi thế cạnh tranh khi nhận thức được một cơ hội thị trường hoàn toàn mới.
Đó là những phát minh, những phát hiện về lỗ hổng thị trường và tạo ra lợi thế dẫn
đầu thị trường.
- Lợi thế cạnh tranh quốc gia không chỉ phụ thuộc vào thương mại quốc tế mà còn phụ
thuộc vào đầu tư quốc tế. Thương mại và đầu tư quốc tế tạo điều kiện chuyển giao
công nghệ mới, hiện đại hoặc tạo điều kiện khai thác các nguồn lực sản xuất rẻ hơn,
tạo ra lợi nhuận và năng suất vượt trội.
- Để có thể duy trì mức độ cạnh tranh, các quốc gia, các hãng phải không ngừng nâng
cấp lợi thế đó, chuyển sang loại hình tinh tế hơn, phức tạp hơn. Đây cũng là một loại
hình đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm trên cơ sở sản phẩm có sẵn.
Tốc độ và mức độ tăng năng lực cạnh tranh lại phụ thuộc khá nhiều vào nền văn hóa
hiện tại của quốc gia đó:
- Nguồn nhân lực chính là yếu tố quan trọng bậc nhất, quyết định tới tốc độ và nhịp độ
tăng trưởng của năng lực sản xuất. Đây là yếu tố quyết định tới khả năng tiếp thu KH
– KT mới cũng như tạo ra các phát minh, sáng kiến sản xuất…
- Thể chế chính trị và xã hội. Ngoài nguồn lực con người thì thể chế chính trị và xã hội
ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường thuận lợi cho ngành sản xuất phát triển hay kìm
hãm chúng.
- Các trở lực khác như tôn giáo có thể ảnh hưởng tới sự ổn định chính trị, ổn định kinh
tế và sản xuất.
1.3.4. Ảnh hưởng tới hoạt động ngoại thương
Theo lý thuyết quản trị kinh tế quốc tế, cơ sở để xuất hiện hoạt động ngoại thương
giữa các quốc gia bao gồm:
- Phản ứng chủ động do các nhân tố bên trong (vấn đề quản trị, hiệu quả kinh tế theo
quy mô, hiệu quả kinh tế theo phạm vi, hiệu ứng kinh nghiệm) và bên ngoài (cơ hội
sinh lợi, cơ hội gia tăng sản lượng, lợi thế của phân bố địa lý, kiểm soát đối thủ cạnh
tranh).
- Phản ứng thụ động do các nhân tố bên trong (tác động kéo, tồn kho quá mức, dưa
thừa công suất và yêu cầu phân tán rủi ro), và bên ngoài (cấu trúc thị trường, sự kém
hấp dẫn của môi trường nội địa, áp lực chính trị…)

tới hoạt động ngoại thương của hai nước trong chương II.
Trang 10
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM – NHẬT BẢN
2.1.Giới thiệu chung về Việt Nam và Nhật Bản
2.2.1.Việt Nam
a) Đất nước
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm ở
trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung
Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình
Dương. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4.510 km. Trên đất liền, từ
điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1.650km.
Về khí hậu, Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên
về chí tuyến hơn là phía xích đạo. Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ cao. Về
địa hình, lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba phần tư là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, hai
đồng bằng lớn, nhiều sông, ngòi và có bờ biển dài. Về tài nguyên, Việt Nam có nguồn tài
nguyên phong phú như: tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản và tài nguyên du lịch.
Dân số: Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của
Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9.47 triệu người so với năm 1999.
b) Văn hóa
Ngôn ngữ: Tiếng Việt thuộc về ngôn ngữ Việt-Mường, hiện nay là ngôn ngữ chính
thức của nước Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của người Việt và đồng thời là ngôn ngữ hành chính
chung của 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, tiếng Việt được 86% người dân sử dụng.
Về nguồn gốc, tiếng Việt được xem là có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam Á về mặt từ vựng
kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu.
Trong buổi đầu dựng nước, người Việt đã vay mượn chữ Hán làm chữ viết của mình,
phải tới khoảng thế kỷ thứ 15 thì chữ Nôm mới ra đời, tuy nhiên trong xã hội vẫn song song
sử dụng 2 loại chữ viết này. Từ thế kỷ 17, khi các nhà truyền giáo phương Tây vào Việt Nam

Nguyên Đán, Rằm Tháng Bẩy, Rằm Tháng Tám, Giỗ tổ Hùng Vương...
Về văn học, Việt Nam có một nền văn học phát triển khá sớm mang bản sắc riêng.
Là một quốc gia có nhiều dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc đều có nền văn học riêng của mình,
tất cả tạo nên một nền văn học Việt Nam đa bản sắc. Văn học cổ, gồm dòng văn học dân
gian, văn học chữ. Dòng văn học dân gian xuất hiện trong quá trình lao động sản xuất, xây
dựng và đấu tranh ngay từ thuở sơ khai, còn dòng văn học chữ được bắt đầu du nhập vào
Việt Nam từ đầu thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. Văn học hiện đại chỉ thực sự xuất hiện chi
chữ Quốc ngữ được sử dụng và phát triển mạnh mẽ.
Nghệ thuật biểu diễn: Trong nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam, có nhiều thể loại
như chèo, tuồng, cải lương, rối nước, ca múa nhạc cung đình, hát quan họ, chầu văn, ca trù,
hát then, lý Nam Bộ… nhưng phổ biến nhất và thường được biểu diễn nhiều nhất là chèo,
Trang 12
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
tuồng, cải lương, hát quan họ, rối nước, lý Nam Bộ và nhã nhạc (một hình thức của ca múa
nhạc cung đình).
Kiến trúc: Gồm kiến trúc dân gian và kiến trúc ngoại du. Về kiến trúc dân gian như
kiến trúc gỗ, kiến trúc gạch đá, kiến trúc tre nứa lá khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên đất
nước Việt Nam. Kiến trúc ngoại du được chuyển hóa và hòa trộn giữa hai trường phái kiến
trúc của Châu Âu, Bắc Mỹ và kiến trúc truyền thống Á Đông từ thế kỷ 19.
Hội họa và điêu khắc: Tranh dân gian gồm hai loại, tranh Tết và tranh Thờ. Tranh
dân gian gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các vị thần linh. Tranh dân gian thường
được in với kỹ thuật khắc ván để in với số lượng lớn. Trong khi đó hội họa đương đại chỉ
mới được phát triển từ khoảng những năm 20 của thế kỷ 20.
Đời sống vật chất
Hiện nay, Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 60 trong các nền kinh tế thành viên của
Quỹ Tiền tệ Quốc tế xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2009 và đứng
thứ 133 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Đây là nền kinh tế
hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt nền kinh tế
vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất công thương nghiệp và dịch vụ có phát
triển tuy nhiên chưa thực sự nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

Là tên của một quốc gia hải đảo hình vòng cung, có diện tích tổng cộng là 379.954
km² nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa châu Á. Đất nước này nằm ở phía đông của
Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung
Quốc ở phía nam. Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Nhật Bản là quốc gia dẫn
đầu thế giới về khoa học và công nghệ. Nhật Bản cũng là nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu tính
theo tổng sản phẩm nội địa chỉ sau Hoa Kỳ.
Dân số: dân số Nhật Bản ước tính vào năm 2010 lên 129,5 triệu người, và là một
trong mười nước đông dân nhất thế giới, với mật độ dân cư rất cao, đặc biệt tại các khu vực
thành thị như Tokyo, Osaka…
b) Văn hóa
Ngôn ngữ: Tiếng Nhật Bản, hay tiếng Nhật, là một ngôn ngữ được hơn 130 triệu
người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới. Nó là một
ngôn ngữ chắp dính và nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch,
đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất thứ bậc của xã hội Nhật Bản, với
những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người
nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại. Kho ngữ âm của tiếng Nhật khá
nhỏ, với một hệ thống ngữ điệu rõ rệt theo từ. Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba
kiểu chữ: Hán tự hay Kanji và hai kiểu chữ đơn âm mềm Hiragana và đơn âm cứng
Katakana.
Giá trị, quan điểm và tính cách con người: Do sống biệt lập với các quốc gia khác
tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có các nét
riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa... trong đó gia đình đã giữ một vai
trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm
ba thế hệ, sau đó, do sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, kỹ thuật và đô thị cũng làm gia
tăng loại gia đình hạt nhân chỉ gồm cha mẹ và các con, khiến cho loại đại gia đình giảm từ
44% vào năm 1955 xuống còn 13,7% vào năm 1991.
Người ta cho rằng khó có thể dò xét được tình cảm và suy nghĩ của người Nhật bởi
cách cư xử kín đáo, ít bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài của họ. Nhưng khi đã quen, bạn sẽ thấu
hiểu được những tình cảm của họ thông qua sự khác nhau rất tinh tế chứa đựng trong từng cử
chỉ giao thiệp.

con người với thế giới tự nhiên.
Mặt khác, tư tưởng Thiền tông đã đem lại cho người Nhật một quan điểm hợp lý hơn
về cái đẹp, bởi vì mục đích của những người theo Thiền tông là loại bỏ sự chi phối của lý trí
để hòa nhập thiên nhiên. Họ quan tâm đến sự vĩnh hằng đằng sau các đổi thay chứ không
phải sự vận động ồn ào, náo nhiệt diễn ra trên bề mặt cuộc sống. Do đó, các nghệ thuật
Trang 15
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
truyền thống của Nhật Bản như trà đạo, cắm hoa và các thể loại sân khấu của Nhật Bản
thường toát lên một ý niệm về tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên.
Đời sống vật chất
Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển, quy mô nền kinh tế này
theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo
GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc.
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân
số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu. GDP trên đầu người là 36.218
USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên
nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn
nhất thế giới. Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển, vào năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng
1.177.278 km (731.683 miles) đường bộ, 173 sân bay, 23.577 km (14.653 miles) đường sắt.
Những đối tác xuất khẩu chính của Nhật là Hoa Kỳ 22.9%, Trung Quốc 13.4%, Hàn
Quốc 7.8%, Đài Loan 7.3% và Hồng Kông 6.1% (2005). Những mặt hàng xuất khẩu chính
của Nhật là thiết bị giao thông vận tải, xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất.
Đối tác nhập khẩu chính của Nhật là Trung Quốc 21%
4
, Hoa Kỳ 12.7%, A Rập Xê Út
5.5%, UAE 4.9%, Australia 4.7%, Hàn Quốc 4.7% và Indonesia 4% (số liệu 2005). Những
mặt hàng nhập khẩu chính của Nhật Bản là máy móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm (đặc biệt
là thịt bò), hóa chất, nguyên liệu dệt may và những nguyên liệu cho các ngành công nghiệp
của đất nước. đang tăng trưởng, nhưng cũng nảy sinh không ít vấn đề.
2.2.Quan hệ ngoại thương Việt Nam – Nhật Bản

5
Những ngành hàng của Việt Nam được hưởng lợi nhiều từ VJEPA là Thủy sản (thuế
suất giảm từ 5.4% xuống còn 1.31%), dệt may (từ thuế suất 7% xuống còn 0%). Tuy nhiên
trong 2 năm 2009 và 2010 vừa qua, cán cân thương mại Việt Nam – Nhật Bản ngày càng bị
thâm hụt trầm trọng, một mặt là do sự tăng lên của tỷ giá Yên, nhưng phần lớn cho chúng ta
thấy được rằng giá trị nhập khẩu vượt quá xa so với giá trị xuất khẩu sang thị trường này.
Quan hệ thương mại giữa hai nước còn rất nhiều tiềm năng phát triển, bên cạnh độ
lớn về dung lượng thị trường, có thể thấy, do ở trình độ phát triển khác nhau nên hai nền
5
/>Trang 17
-2,000
0
2,000
4,000
6,000
8,000
10,000
Xuất khẩu
2,509 2,438 2,909 3,502 4,411 5,232 6,069 8,538 6,292 7,778
Nhập khẩu
2,215 2,509 2,993 3,552 4,092 4,700 6,177 8,241 7,468 9,141
Cán cân
294 -71 -84 -50 319 532 -108 297 -1,176 -1,363
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 (E)
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
kinh tế có tính chất bổ sung, hỗ trợ cho nhau nhiều hơn là cạnh tranh với nhau. Nhật Bản
dành ưu đãi GSP cho một số mặt hàng của các nước đang phát triển và kém phát triển, trong
đó có Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang nước này.
Tuy nhiên, trong quan hệ ngoại thương với Nhật Bản, các DN Việt Nam chưa tận
dụng hết được những lợi thế và ưu đãi mà các hiệp định thương mại, đầu tư song phương, đa

rộng ngành nghề lĩnh vực xuất khẩu
- Sự phát triển của công nghệ thông tin cho
phép tìm kiếm cơ hội kinh doanh nhiều
hơn
Thách thức
- Các nguồn lực thiên nhiên đang dần cạn
kiệt vì thế các ngành xuất khẩu sản phẩm
thô sẽ gặp khó khăn trong thời gian tới
- Không đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn
chất lượng, môi trường, do vậy bị mất
dần thị trường (ví dụ như thủy sản) à
Phá sản
- Khủng hoảng trong chuyển đổi nguồn
lực hoặc tìm phải tìm hướng kinh doanh
mới, lạc hâu nhanh về công nghệ sản
xuất
Nguồn: Tự tổng kết
Khó khăn lớn nhất mà các DN xuất khẩu Việt Nam gặp phải khi kinh doanh tại thị
trường này chính là việc vấp phải quá nhiều hàng rào phi thuế quan (đặc biệt là hàng rào kỹ
thuật - TBT đối với các sản phẩm tiêu dùng, thực phẩm…). Theo thống kê của tổ chức
Copenhagen Economics hiện tại ở Nhật Bản có khoảng 104 biện pháp được áp dụng cho lĩnh
vực sản xuất, số lượng TBT chiếm đa số (65/104) biện pháp.
Trang 18
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản tới hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
Hình 2.2.1: Thống kê các rào cản phi thuế quan áp dụng cho lĩnh vực sản xuất
tại Nhật Bản trong thời gian qua
Nguồn: Báo cáo của Copenhagen Economics
Lấy ví dụ trong ngành sản xuất và chế biến thủy hải sản, theo Cục Quản lý Chất
lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Nafiqad, Bộ NN&PTNT) trong năm 2010, cơ quan thẩm
quyền Nhật Bản đã cảnh báo 57/5.070 lô hàng thủy sản của Việt Nam do có các dư chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status