tác động của văn hóa nước ngoài tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam và hướng tới tiếp thu các giá trị văn hóa quốc tế kết - Pdf 13

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI TỚI HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ
HƯỚNG TIẾP THU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA QUỐC TẾ KẾT
HỢP VỚI CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐỂ NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Lê Thái Phong
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Kỳ Minh
Lớp : Anh 3
Khoá : K43A – KT&KDQT
Hà Nội, 06/2008
Formatted: Justified, Indent: Left: 1.29",
Space After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines
Formatted: Font: Bold, Italic, Dutch
(Netherlands)
Formatted: Centered
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1

2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 37
2.1. NIỀM TIN, QUAN ĐIỂM, CÁC GIÁ TRỊ CỐT LÕI 37
2.2. QUY TẮC, CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC, KINH DOANH 37
2.3 BIỂU TRƢNG VĂN HÓA 38
2.4. PHONG CÁCH LÀM VIỆC 38
3. TÍNH MẠNH YẾU CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 39
3.1.PHƢƠNG PHÁP XÁC MINH BIỂU TRƢNG CỦA VĂN HÓA
DOANH NGHIỆP (ARTEFACTUAL APPROACH) 39
3.2. PHƢƠNG PHÁP XÁC MINH TÍNH ĐỒNG THUẬN/ MỨC ĐỘ ẢNH
HƢỞNG CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP (CARSENSUS/ INTESITY
APPROACH) 40
4. MÔ HÌNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 41
CHƢƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA NƢỚC NGOÀI TỚI
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
44
I. ĐÔI NÉT VỀ VĂN HÓA VÀ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM 44
1. ĐÔI NÉT VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM 44
2. ĐÔI NÉT VỀ SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM 49
3. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ KINH DOANH Ở VIỆT NAM 52
3.1 HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH CÁC QUAN ĐIỂM
KINH DOANH Ở VIỆT NAM 52
3.2 QUAN ĐIỂM KINH DOANH TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN
THỐNG 55
II. TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA NƢỚC NGOÀI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 58
1. TÁC ĐỘNG TỚI NHẬN THỨC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 58
2. TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀM PHÁN 59
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N
HỢP VỚI KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 86
1. QUÁN TRIỆT QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC VỀ VIỆC
XÂY DỰNG CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH Ở VIỆT NAM 86
2. TIẾP THU TINH HOA VĂN HÓA NHÂN LOẠI 89
3. KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TRONG DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM 90
III. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 92
1. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC 92
2. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 94
3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ KHÁC 96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N


văn hóa là một lĩnh vực hết sức đa dạng và phức tạp. Văn hóa ảnh hưởng tới mọi
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 2
khía cạnh của đời sống hàng ngày, trong từng hành động, cử chỉ, Văn hóa không
tác động một cách trực tiếp đến kết quả của những nỗ lực, nhưng bỏ qua văn hóa thì
các nỗ lực có thể sẽ trở thành vô ích.
Hoạt động kinh doanh là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng của văn
hóa rất sâu sắc. Nhà doanh nghiệp, không giống như các kỹ sư, kiến trúc sư, nhà
khoa học, nơi mà nghề nghiệp của họ gắn với những thực tế khách quan, những
công thức, những quy tắc bất di bất dịch của tự nhiên. Nhà doanh nghiệp là người
phải xử lý hàng trăm mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh của mình, với hàng
trăm, hàng nghìn chủ thể mà ngày nay, với sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
gia tăng, và các cơ hội kinh doanh rộng mở ở nước ngoài, có thể phần nhiều các chủ
thể đó là những người đến từ nhiều khu vực địa lý, có nền văn hóa khác nhau với
các cách nhìn nhận, xử lý vấn đề, tính cách và sở thích khác nhau rất nhiều. Không
hiểu biết về văn hóa, không hiểu biết về những giá trị cốt lõi chung đã được đúc rút
về đối tác của mình, nhà doanh nghiệp có thể thấy là đã gần như đối mặt với sự thất
bại.
Quay trở lại tìm hiểu lịch sử Việt Nam với những chiến thắng oanh liệt và hào
hùng chống lại quân xâm lược để dựng nước và giữ nước, các nhà quân sự Việt
Nam đã tổng kết lại rằng thực chất các cuộc chiến tranh chống xâm lược của nước
ta là các cuộc chiến tranh về mặt văn hóa. Cội nguồn sức mạnh chiến thắng của Việt
Nam là do Việt Nam có một bề dày văn hóa hơn hẳn các quốc gia xâm lược và nghệ
thuật quân sự Việt Nam đã biết cách vận dụng tối ưu và linh hoạt bề dày văn hóa đó
vào các đường lối quân sự và thực tiễn chiến đấu. Fons Trompenaars và Charles
Hampden-Turner, cũng như nhiều người khác cũng có nhận định, việc bành trướng
sức mạnh kinh tế của các quốc gia hiện nay, cũng như việc tận dụng tối đa các cơ
hội của hội nhập kinh tế quốc tế tiềm ẩn đằng sau đó là một sự bành trướng và nỗ

hóa nước ngoài, kết hợp linh hoạt, khéo léo với những giá trị truyền thống dân tộc
để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam.
* Phƣơng pháp nghiên cứu: Khóa luận chủ yếu lấy cơ sở phương pháp luận
nghiên cứu là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin về duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm phát triển kinh tế của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 4
nghiên cứu tổng hợp khác nhau như phương pháp đối chiếu - so sánh, phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp mô tả và khái quát hóa đối tượng nghiên cứu.

* Kết cấu: Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp gồm ba chương chính:
- Chƣơng I: Tổng quan về văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa và kinh
doanh
- Chƣơng II: Tác động của văn hóa nƣớc ngoài tới hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp Việt Nam
- Chƣơng III: Hƣớng tiếp thu các giá trị văn hóa quốc tế kết hợp với các giá
trị văn hóa truyền thống để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập
và một số khuyến nghị
Khóa luận này không phải là tài liệu đầu tiên nghiên cứu về văn hóa hay tác
động của văn hóa đến hoạt động kinh doanh. Đồng thời do giới hạn về thời gian
nghiên cứu, cũng như những hạn chế trong tìm hiểu và nhận thức, khóa luận tốt
nghiệp này không tránh khỏi có nhiều thiếu sót.
bởi việc nhìn nhận văn hóa theo các cách thức khác nhau như thế càng làm cho vấn
đề được hiểu biết phong phú và toàn diện hơn.
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 6
1.1 Theo nghĩa gốc từ
Về mặt từ nguyên, nghĩa của “văn” là xăm thân, và nghĩa gốc của văn hóa là
nét xăm mình mà qua đó người khác nhìn vào để nhận biết mình.
Theo bộ Từ Hải (bản năm 1989) thì văn hóa vốn là một cách biểu thị chung
của hai khái niệm “văn trị” và “giáo hóa” (Internet - Thư viện mở). Cách hiểu này,
phần nhiều bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa tại phương Đông. Trong tiếng Hán
cổ, từ “văn ” đã bao hàm ý nghĩa “văn” là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức,
trí tuệ con người có thể đạt được bằng cách tu dưỡng. Còn chữ “hóa” là việc cảm
hóa, giáo dục và hiện thực hóa cái đẹp của “văn” trong thực tiễn đời sống.
Theo tiếng Anh, văn hóa là “culture” có nguồn gốc từ “agriculture” nghĩa là
nông nghiệp. Điều này có lẽ xuất phát từ quan điểm cho rằng văn hóa được tạo
dựng, bồi đắp, ngày càng đa dạng và trở nên rõ rệt, tách hẳn ra thành một phần quan
trọng của đời sống từ khi bắt đầu có nông nghiệp trồng trọt, tức là từ khi xã hội loài
người thoát khỏi cuộc sống săn bắt hái lượm, bắt đầu có sản xuất thặng dư.
Tương tự như vậy, tại các nước phương Tây nói chung, trong tiếng Đức, văn
hóa là “kultur”, cũng giống như “culture” trong tiếng Pháp, đều xuất phát từ chữ
Latinh “cultus” có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực; nói
ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó, từ “cultus” được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh
vực xã hội chỉ sự vun trồng nhân cách, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng
của con người.
Như vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có
một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người (bao gồm
cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và
cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả.”
1.2.2 Theo nghĩa thông thƣờng
Văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con người. Trong phạm vi
này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học, ) và văn hóa nghệ thuật (văn
học, điện ảnh) được coi là hai phân hệ chính của hệ thống văn hóa.
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 8
1.2.3 Theo nghĩa hẹp
Văn hóa được coi như một ngành, ngành văn hóa - nghệ thuật để phân biệt với
các ngành kinh tế - kỹ thuật khác. Cách hiểu này thường kèm theo cách đối xử sai
lệch về văn hóa: coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động đứng ngoài kinh tế, sống được là
nhờ trợ cấp của nhà nước và “ăn theo” nền kinh tế.
Trong ba cấp độ nghiên cứu trên về thuật ngữ văn hóa, hiện nay người ta
thường dùng văn hóa theo nghĩa rộng nhất, và đó cũng chính là nghĩa hiểu về thuật
ngữ văn hóa của khóa luận tốt nghiệp này.
Tóm lại, có thể thấy đặc điểm chung của các khái niệm về văn hóa là: văn hóa
được đúc kết, lan truyền và chia sẻ từ thế hệ này sang thế hệ khác, văn hóa không
những được chuyển tiếp từ bố mẹ sang con cái, mà còn được truyền bá thông qua
các tổ chức xã hội, các hội văn hóa, từ các chính phủ đến các trường học, chùa
chiền, nhà thờ, Các cách nghĩ và cách cư xử thông thường được hình thành và duy
trì bởi các áp lực và xu thế của xã hội.
Khóa luận này chủ yếu sử dụng cách hiểu về văn hóa của Czinkota: “văn hóa
là một hệ thống những cách ứng xử đặc trưng cho các thành viên của bất kỳ một xã
hội nào. Hệ thống này bao gồm mọi vấn đề, từ cách nghĩ, nói, làm, thói quen, ngôn
ngữ, sản phẩm vật chất và những tình cảm - quan điểm chung của các thành viên
đó”, bởi khái niệm này có phần cụ thể hơn nên thuận tiện hơn cho việc nghiên cứu
của khóa luận về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, đồng thời sử dụng yếu tố văn
hóa như là một nguồn lực quan trọng nhằm mục tiêu gia tăng năng lực cạnh tranh

chỉ giáo dục những giá trị đã ổn định mà còn giáo dục cả những giá trị đang hình
thành.
Ngoài ra, cũng có thể nhận biết văn hóa thông qua các đặc trưng sau:
- Văn hóa mang tính tập quán: Văn hóa quy định những hành vi được chấp
nhận hay không được chấp nhận trong một xã hội cụ thể, hình thành những ứng xử,
thói quen chung xử lý tình huống tương tự nhau trong một cộng đồng. Tuy nhiên,
không phải mọi tập quán đều tốt đẹp và phù hợp với xã hội hiện đại. Có những tập
quán đẹp, tồn tại lâu đời như một sự khẳng định những nét độc đáo của một nền văn
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 10
hóa này so với nền văn hóa kia, nhưng cũng có những tập tục hủ lậu, khó chấp nhận
trong thời đại ngày nay, cần phải thay đổi và tạo dựng những nét văn hóa mới.
- Văn hóa mang tính cộng đồng: Văn hóa là một đặc trưng cơ bản, riêng có
của xã hội loài người và do con người xây dựng, củng cố và bồi đắp qua nhiều thế
hệ. Văn hóa không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng,
tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong xã hội. Văn hóa như là một sự
quy ước chung cho các thành viên trong cộng đồng. Đó là những lề thói, những tập
tục mà một cộng đồng người cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, mặc định trong
tiềm thức của mỗi thành viên trong cộng đồng. Một người nào đó làm khác đi sẽ bị
toàn bộ cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý những việc làm
của anh ta có thể không có gì là phi pháp.
- Văn hóa mang tính dân tộc: Văn hóa tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận
chung của từng dân tộc mà người dân tộc khác không dễ gì hiểu được. Mỗi dân tộc
khác nhau có những đặc trưng văn hóa không giống nhau, do đó, tính dân tộc cũng
khác nhau. Vì thế mà một câu chuyện cười có thể làm cho người dân các người
phương Tây cười vỡ bụng mà người dân Châu Á không thấy có gì hài hước. Vì vậy,
cùng một thông điệp ở các nước khác nhau có thể mang ý nghĩa hoàn toàn khác
nhau.

học được từ những nơi khác, những nền văn hóa khác.
- Văn hóa luôn tiến hóa: Một nền văn hóa không bao giờ tĩnh tại và bất biến.
Ngược lại, văn hóa luôn luôn thay đổi và rất năng động. Nó luôn tự điều chỉnh cho
phù hợp với trình độ và tình hình mới. Trong quá trình hội nhập và giao thoa với
các nền văn hóa khác, nó có thể tiếp thu các giá trị tiến bộ, hoặc các giá trị tích cực
của các nền văn hóa khác. Ngược lại, nó cũng tác động ảnh hưởng tới các nền văn
hóa khác.
Việc nắm bắt được những nét đặc trưng của văn hóa cho chúng ta có một tầm
nhìn bao quát, rộng mở và một thái độ hết sức quan trọng và thận trọng với những
vấn đề văn hóa, đặc biệt là những ảnh hưởng ngầm nhưng không kém phần mạnh
mẽ và to lớn của văn hóa. Mọi sự kết luận vội vàng hoặc một sự thiếu trách nhiệm
trong các chính sách và hành động liên quan đều có thể làm thui chột khả năng sáng
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 12
tạo văn hóa, đồng thời tạo ra những hậu quả xấu cho sự phát triển của xã hội nói
chung, của nền kinh tế và hoạt động kinh doanh nói riêng. Nhận biết đầy đủ và sâu
sắc những đặc trưng này sẽ giúp chúng ta xác định được biểu hiện và vai trò của
văn hóa trong đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh nói riêng,
và quan trọng hơn là thấu hiểu các tác động của văn hóa nước ngoài đến nhận thức
và phương thức vận hành các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong thời
đại hội nhập hiện nay, từ đó có những cách thức điều chỉnh hoạt động kinh doanh
phù hợp với các tác động của văn hóa, đồng thời chuyển tải các yếu tố văn hóa tiến
bộ, thích hợp vào hoạt động kinh doanh để gia tăng năng lực cạnh tranh.
3. Các yếu tố cấu thành văn hóa
Văn hóa là một đối tượng phức tạp và đa dạng, do đó, có nhiều cách để phân
loại các yếu tố cấu thành văn hóa. Các nhà xã hội học cho rằng văn hóa có ba yếu tố
chủ yếu là văn hóa thích ứng với môi trường tự nhiên, văn hóa tổ chức cộng đồng
và văn hóa sinh hoạt tinh thần. Còn giáo sư Trần Quốc Vượng trong “Cơ sở văn hóa

trình độ tiếp thu và vận dụng các kiến thức khoa học, hệ thống kiến thức được con
người phát minh, nhận thức và được tích lũy lại, bổ sung nâng cao và không ngừng
đổi mới qua các thế hệ.
- Các phong tục tập quán là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng
ngày như nên mặc như thế nào, cách sử dụng các đồ dùng ăn uống trong bữa ăn,
cách xử sự với những người xung quanh, cách sử dụng thời gian, Phong tục, tập
quán là những hành động ít mang tính đạo đức, mà chủ yếu là những cách thức đã
được mặc định để xử lý các tình huống phổ biến của toàn bộ cộng đồng. Tập tục có
ý nghĩa lớn hơn nhiều so với tập quán, nó là những quy tắc được coi là trọng tâm
trong đời sống xã hội, việc làm trái tập tục có thể gây nên những hậu quả nghiêm
trọng.
- Thói quen là những cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành từ trước.
Cách cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn trong một xã hội riêng biệt.
Thói quen thể hiện cách sự vật được làm, cách cư xử được dùng khi thực hiện
chúng. Ở nhiều nước trên thế giới, thói quen và cách cư xử hoàn toàn khác nhau. Ở
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 14
các nước Latinh có thể chấp nhận đến trễ, nhưng ở Anh và Pháp, sự đúng giờ là giá
trị. Hoặc người Mỹ thường sử dụng phấn bột sau khi tắm nhưng người Nhật cảm
thấy như thế là làm bẩn lại.
- Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể người được
các thành viên chấp nhận, còn thái độ là sự đánh giá, sự cảm nhận, sự phản ứng
trước một sự vật dựa trên các giá trị. Ví dụ nhiều người Nhật cho rằng dùng hàng
nước ngoài là không yêu nước, trong khi đó, không ít người dân Việt Nam cho đến
nay vẫn khá chuộng hàng ngoại.
- Ngôn ngữ là một yếu tố hết sức quan trọng của văn hóa vì nó là phương tiện
được sử dụng để truyền thông tin và ý tưởng, giúp con người hình thành nên cách
nhận thức về thế giới và có tác dụng định hình đặc điểm văn hóa của con người. Ở

chương, âm nhạc, kiến trúc,
- Tôn giáo ảnh hưởng lớn đến cách sống, niềm tin, giá trị và thái độ, thói quen
làm việc và cách cư xử của con người trong xã hội đối với nhau và với xã hội khác.
Chẳng hạn, ở những nước theo đạo Hồi, vai trò của người phụ nữ bị giới hạn trong
gia đình, hầu như rất khó tham gia các hoạt động xã hội, kinh tế hoặc chính trị. Thói
quen làm việc chăm chỉ của người Mỹ là được ảnh hưởng từ lời khuyên của đạo tin
lành,
- Giáo dục là yếu tố quan trọng để hiểu văn hóa. Trình độ cao của giáo dục
thường dẫn đến năng suất cao và tiến bộ kỹ thuật. Giáo dục cũng giúp cung cấp
những cơ sở hạ tầng cần thiết để phát triển khả năng quản trị. Đây chính là yếu tố
quyết định sự phát triển của văn hóa vì nó sẽ giúp các thành viên trong một nền văn
hóa kế thừa được những giá trị văn hóa cổ truyền và học hỏi các giá trị mới từ các
nền văn hóa khác nhau.
- Cách thức tổ chức xã hội thể hiện qua cấu trúc xã hội của xã hội đó. Tuy cấu
trúc xã hội gồm nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nổi lên hai đặc điểm cơ bản giúp
phân biệt các nền văn hóa. Đặc điểm đầu tiên là mức độ coi trọng tính cá nhân của
xã hội. Các xã hội phương Tây có xu hướng nhấn mạnh ưu thế của tính cá nhân
trong khi nhiều xã hội khác lại coi trọng tập thể hơn. Đặc điểm thứ hai là khoảng
cách phân cấp của xã hội. Một số xã hội có khoảng cách phân cấp giữa các giai cấp
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 16
cao và mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp thấp, như Ấn Độ hoặc Anh.
Ngược lại, một số xã hội khác có khoảng cách phân cấp thấp nhưng mức độ linh
hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp cao như Mỹ.
4. Các lớp văn hóa
Trong tác phẩm “Văn hóa tổ chức về sự lãnh đạo”, Schein, E., Jossey-Bass,
San Fransisco, 1985, cho rằng một cách hữu ích để xem văn hóa bắt nguồn từ đâu
là: văn hóa là cách một cộng đồng người giải quyết các vấn đề và thống nhất trong

nhất của môi trường xung quanh. Đặc trưng cơ bản của lớp văn hóa này là rất dễ
nhận thấy nhưng lại khó đoán định được ý nghĩa đích thực của nó vì các nền văn
hóa khác nhau có những biểu hiện khác nhau về cùng một vấn đề hoặc có cùng một
biểu hiện nhưng lại khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về ý nghĩa. Nhờ lớp văn
hóa bề ngoài và đặc trưng cơ bản này mà người ta có thể nhận biết các nền văn hóa
khác nhau không mấy khó khăn. Mỗi biểu hiện, phản ứng của cá nhân liên quan đến
văn hóa bề ngoài thường nói nhiều về việc họ đến từ cộng đồng nào, dân tộc nào
hơn là về các đánh giá của họ đối với các tình huống trong cuộc sống. Chẳng hạn
như, khi ai đó cười, vì điều đó thể hiện bạn đang làm cho họ vui, thì đó là một
người phương Tây. Nhưng khi họ cười, không hẳn vì bạn đã làm cho họ vui, mà có
thể là họ đang cho rằng bạn có hành động khiếm nhã, hoặc làm họ khó chịu, thì rất
nhiều khả năng đó là một người Nhật. Cũng như vậy, ở một số nền văn hóa, hành
động hạ mình có thể bị xem thường và coi đó là một hành động hèn kém. Tuy
nhiên, người ta cũng nhận định rằng đối với văn hóa Nhật Bản thì hãy đề phòng
những người Nhật đang tự hạ thấp mình, bởi trong người anh ta lúc nào cũng tràn
đầy nhiệt huyết, sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù.
4.2 Các chuẩn mực và giá trị
Lớp thứ hai của văn hóa là các chuẩn mực và giá trị, hay nói cách khác chính
là những giá trị được công nhận. Các giá trị được công nhận này bao gồm hệ thống
giá trị, quan điểm và phong tục tập quán. Hệ thống giá trị là những niềm tin và
chuẩn mực được các thành viên trong xã hội đó chấp nhận. Chuẩn mực là cảm nhận
chung của một nhóm cộng đồng xã hội có được về cái gì được gọi là “đúng” và
“sai”. Các chuẩn mực có thể phát triển trên một cấp độ chính thức như là các văn
bản luật, và trên một cấp độ không chính thức như là sự kiểm soát của xã hội. Mặt
khác, giá trị lại quyết định “tốt” và “xấu” có nghĩa là gì, và từ đó có liên quan chặt
Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn Kú Minh - A3 - K43 - KT§N 18
chẽ đến các quan niệm chung của cộng đồng. Còn quan điểm là sự đánh giá những

19
sâu vào trong tiềm thức của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Những vấn đề diễn ra
liên tục và thường xuyên cuối cùng đã được giải quyết một cách tự động. Các vấn
đề của đời sống hàng ngày được các thế hệ sau giải quyết theo những cách hiển
nhiên đến nỗi các phương pháp giải quyết không hề xuất hiện trong tiềm thức của
họ nữa. Các biện pháp giải quyết biến mất khỏi nhận thức của họ và trở thành một
phần hệ thống của mỗi cá nhân về các giả định tuyệt đối. Họ mặc nhiên hành động
theo những giả định có sẵn, và không thể giải thích gì hơn về việc tại sao họ hành
động như thế.
Cách tốt nhất để kiểm tra liệu nó có phải là một giả định cơ bản hay không là
khi câu hỏi đó gây ra sự bối rối hay tức giận. Khi hỏi về các giả định cơ bản, nghĩa
là đang hỏi những câu hỏi chưa bao giờ được hỏi trước đó. Nó có thể dẫn đến
những cái nhìn sâu hơn từ bên trong, nhưng nó cũng có thể gây ra sự khó chịu.
Khi phân tích về cấu trúc của văn hóa trong tác phẩm “Chinh phục các làn
sóng văn hóa”, Fons Trompenaars và Charles Hampden-Turner kết luận những thay
đổi trong văn hóa xảy ra vì con người nhận ra rằng các phương cách làm việc cũ đã
không còn hiệu quả nữa. Không khó khăn gì để thay đổi văn hóa khi con người đã
nhận ra sự tồn tại của cộng đồng đang gặp nguy hiểm, khi đó sự tồn vong được xem
là ưu tiên hàng đầu.
5. Nền tảng của sự khác biệt giữa các nền văn hóa
Thông qua sự phân tích về các lớp văn hóa, có thể nói mọi nền văn hóa đều tự
phân biệt nó với các nền văn hóa khác bằng cách chọn những phương án giải quyết
riêng đối với các tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Sự khác biệt văn
hóa thể hiện qua ba nội dung chủ đạo: những việc phát sinh trong quan hệ giữa
người này với người khác; những thứ đến theo thời gian và những thứ liên quan đến
môi trường. Từ những phương án mà các nền văn hóa khác nhau lựa chọn để giải
quyết các vấn đề giống nhau này, trong tác phẩm “Hệ thống xã hội”, Parsons, T.,
Free Press, New York, 1951, Parsons đã đề xuất bảy khía cạnh chính của văn hóa
bao gồm chủ nghĩa phổ biến và chủ nghĩa đặc trưng, chủ nghĩa cá nhân và chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status