MỤC LỤC
1.2.1 Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 - 2008.. .3
1.2 Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới các doanh nghiệp Việt
Nam. 7
Khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua đã làm giá cả đầu vào tăng cao như vừa
nói ở trên. Ngoài ra, doanh nghiệp sản xuất nhưng sản phẩm không tiêu thụ
được, không có thị trường để xuất khẩu dẫn đến chí phí bỏ ra nhưng khó
thu hồi. ..........................................................................................................15
Nhưng vào thời điểm đáy khủng hoảng, một số DN đã nhanh tay tập trung vốn mua
dự trữ nhiều nguyên liệu với giá cực rẻ hoặc các DN bất động sản được
hưởng lợi nhờ sự ấm lên của thị trường, nhờ đó trong quý II đã thu lợi
nhuận ấn tượng. Thế nhưng, khi nguồn nguyên liệu giá rẻ đã tiêu thụ hết thì
DN phải mua nguyên liệu theo mặt bằng giá mới, làm cho lợi nhuận từ quý
III bắt đầu suy giảm, thậm chí nhiều đơn vị lỗ nặng....................................16
Tính đến cuối năm 2009, theo báo cáo tài chính của Công ty Dầu Tường An (TAC),
trong quý II, đơn vị đạt doanh thu 686 tỉ đồng và lợi nhuận là 20 tỉ đồng
nhưng sang quý III, doanh thu giảm xuống còn 629 tỉ đồng và bất ngờ... lỗ
68 tỉ đồng. Nguyên nhân lỗ là do doanh số bán hàng giảm, chi phí tài chính
tăng cao. Còn Công ty Đầu tư bất động sản VN (VNI), doanh thu quý II
đạt 6 tỉ đồng và lợi nhuận âm 63 triệu đồng nhưng sang quý III, doanh thu
chỉ còn 35 triệu đồng và bị lỗ 695 triệu đồng... Ngoài ra, nhiều DN khác
như Công ty BaSa (BAS) từ đầu năm đến nay liên tục bị lỗ, Công ty Nước
giải khát Sài Gòn (TRI) tiếp tục bị lỗ quý thứ tư...[22]................................16
Thêm nữa, hậu quả của khủng hoảng đã khiến cho lượt khách du lịch giảm thiều
đáng kể. Theo thống kê của Hãng hàng không quốc gia Vietnam Airlines
công bố lợi nhuận trước thuế năm 2008 chỉ đạt 14 triệu đôla, giảm so với
23 triệu đôla của năm trước đó.Lợi nhuận bị giảm mặc dù doanh thu toàn
tổng công ty đạt 1.56 tỉ đôla, so với 1.27 tỉ đôla trong năm 2007. Trong nửa
đầu năm ngoái, hãng lỗ mất 83 tỉ đồng Việt Nam (chừng 5 triệu đôla), khi
giá dầu toàn cầu đạt đỉnh, nhưng phục hồi trong nửa cuối năm.[24]...........16
Ngoài ra, thông tin từ công ty chứng khoán – ngân hàng ngoại thương Việt Nam,
phương diện về vốn, lao động, thị trường kinh doanh…v.v. Từ đó cho thấy được
những giải pháp của chính phủ nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua thời kì
khó khăn . Thêm nữa tôi cũng xin cung cấp những thông tin cho thấy chính bản
2
thân các doanh nghiệp cũng sẽ đã và đang nỗ lực để vượt qua khủng hoảng tài
chính toàn cầu.
Nội dung đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của nó tới nền kinh tế
Việt Nam.
Chương 2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau
khủng hoảng.
CHƯƠNG 1
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.2.1 Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2007 - 2008.
Bản chất của khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng sản xuất “thừa”. Biểu
hiện của khủng hoảng trước hết là ở chỗ, hàng hóa không tiêu thụ được, tư bản
không thu hồi được chi phí sản xuất, nhiều xí nghiệp bị phá sản, đóng cửa, số
người thất nghiệp tăng lên. Trong thời kì khủng hoảng, sản xuất thừa hàng hóa
không phải là tuyệt đối mà là tương đối. Nghĩa là, thừa hàng hóa chỉ là thừa so
với nhu cầu có khả năng thanh toán, chứ không phải thừa so với nhu cầu thực tế
của xã hội.[2, Tr. 139]
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 - 2008 là khủng hoảng tài
chính, mà thực chất là sự mất khả năng thanh toàn của các tổ chức tài chính, ngân
hàng do sự đổ vỡ bong bong bất động sản nhà ở. Tiếp theo là sự khan hiểm tín
dụng do sự mất khả năng thanh toán đó gây ra. Đây là đợt khủng hoảng có tính
thế kỷ, bởi nó không chỉ có quy mô lớn và tác động sâu rộng khắp thế giới, mà
đây cũng là lúc để người ta nhìn lại mô hình và các lý thuyết làm cơ số cho sự
phát triển của CNTB hàng chục năm qua.[3, Tr.31]
4
160 năm đã phải nộp đơn phá sản với món nợ lớn nhất từ trước đến nay trong
lịch sử nước Mỹ những 613 tỷ USD.
Sau sự việc này hệ thống tài chính thế giới lâm vào cảnh lúng túng cực độ.
Trước tình hình đó, tập đoàn tài chính Merrill Lynch đã “ tự bán mình” cho ngân
hàng Mỹ (Bank of America). Đến ngày 16/9/2008, FED phải đồng ý chi 85 tỷ
USD để cứu tập đoàn bảo hiểm hàng đầu thế giới AIG cũng đang ngấp nghé bên
bờ vực sụp đổ bởi các khoản bảo hiểm độc hại.
Đến cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2008 thế giới chứng kiến sự sụp đổ của
hàng loạt ngân hàng lớn, thị trường tín dụng bị tê liệt, khủng hoảng lan rộng và
nhanh sang tất cả các khu vực khác trên thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính và
kinh tế toàn cầu đến nay đã hình thành rõ nét với sức tàn phá ghê ghớm. Ngày
25/9/2008, Washington Mutual bị cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ phong
tỏa, đây là sự sụp đổ một ngân hàng tiết kiệm lớn nhất trong lịch sử của Mỹ với
khoản lỗ 19 tỷ USD. Vào ngày 29/9/2008, ngân hàng lớn thứ sáu của Mỹ
Machvia đã thua lỗ 17,2 tỷ USD, cổ phiếu giảm 93% và bị ngân hàng CityGroup
mua lại với giá 2,2 tỷ USD.[9, Tr.4]
Tình trạng thị trường tài chính đóng băng ngày càng tồi tệ khiến ngân hàng
trung ương Mỹ, Anh, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất
hàng loạt để khơi thông đồng vốn.
Nước Mỹ chiếm 25% GDP của toàn cầu và một tỷ lệ lớn trong các giao
dịch tài chính quốc tế, nên tác động của cuộc khủng hoảng ở Mỹ không chỉ ở
trong nước Mỹ mà còn vượt cả ra ngoài biên giới Mỹ, tác động tới các nền kinh
tế khác trên thế giới. Sau Mỹ, đến Singapore, Nhật Bản, rồi đến các nước dùng
đồng tiền chung EURO cũng tuyên bố suy thoái, các nước mới nổi và đang phát
triển cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Vào tháng 10/2008, FED, ECB và bốn ngân
hàng trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh
hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc đại
suy thoái năm 1929 – 1933.
5
dẫn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới năm 2008 suy giảm, chỉ
đạt khoảng 1600 tỷ USD, giảm 10% so với mức 1833 tỷ USD năm 2007.
[ 6,Tr.17]
Trước tình hình này Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ ( Fed) đã hạ lãi suất
nhiều lần từ mức 5,25% vào tháng 8/2007 xuống 1% vào tháng 10/2008. Thêm
nữa, đầu năm 2009 Fed cũng giảm cả lãi suất chiết khấu xuống còn 1,25% so với
1,75% trong tháng 10/2008 và mức 5% trong thời điểm cuối năm 2007. Hành
động này nhằm giảm chi phí các khoản vay từ Fed của các ngân hàng thương
mại, góp phần làm tan băng thị trường tín dụng. [ 6, Tr.37]
Ngoài ra, chính quyền G.Bush đã đưa ra chương trình cứu trợ tài chính trị
giá 700 tỷ USD mà Quốc hội nước này đã thông qua sau nhiều lần sửa đổi. Đối
với người dân, hầu hết sẽ nhận được một khoản tín dụng thuế là 400 USD trong
khi các cặp vợ chồng sẽ nhận được khoản tín dụng thuế 800 USD. Nhiều sinh
viên sẽ nhận được khoản tín dụng thuế cho học phí là 2.500 USD. Những người
mua nhà lần đầu tiên có thể nhận được một khoản tín dụng thuế lên đến 8.000
USD.
Đối với chính phủ Đức, ngày 13/1/2009 đã nhất trí với gói kích thích kinh
tế trị giá 50 tỷ Euro ( 67 tỷ USD) nhằm giúp nền kinh tế Đức vượt qua thời kỳ
suy thoái. Trong kế hoạch này, khoảng 17 tỷ Euro được chi cho cơ sở hạ tầng và
khoảng 18 tỷ Euro là để giảm thuế cho các các nhân và doanh nghiệp. [6, Tr.27]
Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho những nền kinh tế lớn mạnh
nhất nhì trên thế giới cũng phải lúng túng trước những quyết định về chính sách
của mình, những chính sách mà chưa từng được đưa ra để cứu nền kinh tế suy
thoái từ trước cho tới nay.
1.2 Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới các
doanh nghiệp Việt Nam.
1.3 Các doanh nghiệp thiếu vốn sản xuất.
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam bị ảnh hưởng lớn. Thị trường vốn của Việt Nam đang bị tác
7
cao hoặc đứng trước sự lựa chọn giữa việc vay vốn ngân hàng với lãi suất cao để
tiếp tục sản xuất. Tính đến năm 2010, doanh nghiệp đã kinh doanh có lãi hơn.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã phải ngậm ngùi bỏ qua những hợp
đồng xuất khẩu có giá trị do thiếu vốn.
Đối với hàng nông sản, ngoài mặt hàng gạo, sắn lát khó khăn về đầu ra thì
các mặt hàng khác đều có triển vọng tốt về xuất khẩu trong năm nay. Năm 2010,
do thời tiết không thuận nên mùa vụ thất bát. Theo thông tin từ Chánh văn phòng
Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, ông Trần Đức Tụng thì, vụ mùa hồ tiêu năm nay trên
thế giới sản lượng giảm từ 20-25%, sản lượng tiêu của Việt Nam cũng giảm xấp
xỉ 20%. Sản lượng của ngành điều năm 2010 cũng giảm từ 20-30%. Do sản
lượng giảm nên giá cả xuất khẩu của các mặt hàng nông sản như điều, tiêu đứng
ở giá cao. Đại diện Hiệp hội Điều cho rằng, giá điều nhân xuất khẩu trong 6
tháng cuối năm có thể sẽ tăng thêm 14% nữa so với mức giá hiện nay. Hiện tại,
rất nhiều doanh nghiệp điều đã kí được hợp đồng với giá rất tốt. Dù tình hình
xuất khẩu khả quan về lượng cũng như giá. Tuy nhiên, các hiệp hội cho rằng, do
không tiếp cận được với nguồn vốn nên các doanh nghiệp trong ngành không thể
dự trữ đủ nguyên liệu cho sản xuất.
Mặt khác, do lãi suất lên cao trong thời điểm các doanh nghiệp thu mua
nguyên liệu cho nên các doanh nghiệp ngành điều mới chỉ mua được 300.000 tấn
điều thô trong nước và nhập khẩu khoảng 100.000 tấn. Hiện ngành điều cần có
1.100 tỷ đồng để mua hết lượng hạt điều thô còn tồn đọng trong nước khoảng
50.000 tấn và 5.700 tỷ đồng để nhập khẩu 350.000 tấn điều thô đáp ứng cho nhu
cầu sản xuất 6 tháng cuối năm.
Giá điều thô nhập khẩu đang ở mức 1.100 USD/tấn. Đến nay, ngành điều
đã sản xuất gần hết lượng nguyên liệu đã thu mua được. Năng suất sản xuất của
ngành điều Việt Nam là 650.000 tấn/năm. Còn đối với ngành cà phê, do không có
tiền nên các doanh nghiệp chỉ mua dự trữ được 7-8% so với kế hoạch là 200.000
tấn trong lúc giá cà phê xuống thấp ở thời gian qua. Như vậy, doanh nghiệp cà
9
phê trong nước lại càng chịu thêm nhiều áp lực với các đơn vị liên doanh với
đến giữa tháng 6 phải điều tiết, sẽ có phần nào ảnh hưởng đến sản xuất. Hơn nữa,
giá đầu vào cho sản xuất tiếp tục tăng nhanh hơn giá bán sản phẩm, nên hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không cao; việc vay vốn tín dụng cho
đầu tư cũng như cho hoạt động xuất khẩu hạn chế, nhiều dự án không vay được,
trong khi vốn ngân sách thuộc kế hoạch năm 2010 không đáp ứng nhu cầu và một
số dự án đã có khối lượng thực hiện cao, nên khả năng bảo đảm tiến độ đầu tư rất
khó khăn. [12]
1.5 Thị trường đầu ra bị thu hẹp.
* Thị trường xuất khẩu.
Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng
23 – 25 %. Không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu của Việt Nam sang
thị trường Mỹ, mà cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ còn tác động gián tiến đến
tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang EU và Nhật Bản – hai thị trường xuất
khẩu quan trọng của Việt Nam. Do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người
tiêu dùng của các thị trường này cũng cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu nhập khẩu
đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm. Tỷ trọng của thị trường EU
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16.5%
trong khi năm 2007 là 18%.[6, Tr38]
Về nông sản xuất khẩu, đến tháng 12/2008 giá các mặt hàng nông sản xuất
khẩu của Việt Nam đã giảm mạnh. So với thời điểm giá cao nhất trong năm thì
giá gạo giảm 58%, cà phê giảm 24%, cao su giảm 48%, hạt điều, hạt tiêu đều có
mức giảm 20%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 12/2008
đạt 1,15 tỷ USD, giảm 2% so với tháng 11/2008 ( đạt 1,17tyr USD), giảm 34% so
với tháng 7/2008 – tháng đạt kỷ lục 1,75 tỷ USD. Xuất khẩu nông sản gặp nhiều
trở ngại do việc thanh toán quốc tế. Tình trạng này xảy ra nhiều ở các doanh
nghiệp xuất khẩu gỗ, chè, thủy sản, cà phê. [16,tr.18]
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng
1-2009 ước tính đạt 3,8 tỉ USD, giảm 18,6% so với tháng 12-2008 và giảm
11
24,2% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 1-2009
gia nhập WTO. Cơ cấu chi tiêu của khu vực tư nhân và của Chính Phủ đã có
những chuyển biến tích cực theo hướng giảm chi tiêu và tăng tích lũy để đầu tư
tạo vốn.
Bảng 1.1: Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội tính theo % GDP
Đơn vị: %
STT Cơ cấu tống sản phẩm
quốc nội.
1990 1995 2000 2005 2006 2007
1 Tiêu dùng tư nhân 84,8 73,6 66,5 63,5 63,3 64,9
2 Tiêu dùng Chính phủ 12,3 8,2 6,4 6,2 6,0 6,1
3 Đầu tư (tạo lập vốn) 12,6 27,1 29,6 35,6 36,8 41,7
4 Xuất khẩu ròng -9,2 -9,1 -2,5 -4,2 -5,0 -13,4
(Nguồn: ADB, Tổng cục Thống kê)
Trong giai đoạn trước năm 2007, cơ cấu GDP đã duy trì ở mức tích cực
với tốc độ tạo lập vốn đầu tư duy trì trong khoảng 35% - 36%, tạo điều kiện thúc
đẩy tăng trưởng trong trung và dài hạn. Trong năm 2007, với việc gia nhập WTO,
nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp đổ vào nước ta đã kéo theo việc gia tăng
thâm hụt thương mại, đặc biệt trong hai quý cuối năm 2007. Kết quả là, thâm hụt
thương mại năm 2007 lên tới 14,1 tỷ USD, chiếm khoảng 13,4% GDP. Tuy
nhiên, phần này được bù đắp hoàn toàn bằng 8 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài, và 6,24 tỷ vốn đầu tư gián tiếp và lượng kiều hối đạt kỷ lục 6,18 tỷ USD.
Khuynh hướng này tiếp tục kéo dài sang năm 2008, cùng với việc biến động giá
tăng của hầu hết các hàng hóa nhập khẩu đầu vào sản xuất ở Việt Nam khiến
thâm hụt thương mại lên tới 18 tỷ USD, đạt mức kỷ lục và chiếm khoảng 16,1%
GDP. Tuy nhiên, năm 2008 cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong huy
13