PHÁT HUY TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI - Pdf 33

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
"Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, chúng tôi sẽ
đảo lộn cả nước Nga". Câu nói bất hủ ấy của V.I. Lênin cho chúng ta hiểu rõ
tổ chức và vai trò của tổ chức. Người còn nói: "Trong cuộc đấu tranh giành
chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức". Khi
giai cấp đã nắm chính quyền rồi, người còn nói: "Lĩnh vực trọng yếu nhất và
khó khăn nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức".
Thực hiện di huấn của Lênin, những người cộng sản Việt Nam hết sức coi
trọng công tác tổ chức. Khi Đảng đã có đường lối chính trị đúng đắn thì công
tác tổ chức và cán bộ là một nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của
nhiệm vụ cách mạng. Thực hiện nhiệm vụ của một ngành hay một cơ quan
bất kỳ nào trong hệ thống chính trị của chúng ta cũng đòi hỏi có một hình
thức tổ chức thích hợp. Thắng lợi của cách mạng nước ta là minh chứng cho
vai trò của tổ chức.
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của hệ thống các
doanh nghiệp là vấn đề rất hệ trọng trong đường lối phát triển kinh tế, đồng
thời, rất nhạy cảm về chính trị, liên quan tới sự ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước. Vì vậy, quản lý các doanh nghiệp có hiệu quả là một
công việc hết sức quan trọng, mà trong phạm vi nghiên cứu các Doanh nghiệp
công tác tổ chức đóng một vai trò quyết định đối với sự thành bại của Doanh
nghiệp. Căn cứ vào mục tiêu của Doanh nghiệp và sự biến động của môi
trường trong mỗi thời kỳ, các nhà quản trị cấp cao thường đưa ra những quyết
định về tổ chức nhằm tạo ra một cơ cấu tổ chức phù hợp với yêu cầu của
nhiệm vụ.
Tổ chức là nguyên nhân của những nguyên nhân. Tổ chức là một vấn
đề hết sức phức tạp và quan trọng đối với việc thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng và Nhà nước nói chung và của các Doanh nghiệp nói riêng,
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đòi hỏi phải được đối xử như một ngành khoa học, nghĩa là phải được nghiên

của nhân loại. Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập
hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục
tiêu xác định của tập thể đó.
Mặt khác, theo Chester I. Barnard thì tổ chức là một hệ thống những
hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một
cách có ý thức. Nói cách khác, khi người ta cùng nhau hợp tác và thoả thuận
một cách chính thức để phối hợp những nỗ lực của họ nhằm hoàn thành
những mục tiêu chung thì một tổ chức sẽ được hình thành.
2. Những đặc điểm chung của tổ chức
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo các nhà tâm lý học tổ chức thì có 4 đặc điểm chung đối với tất cả
các tổ chức là:
Thứ nhất, kết hợp các nỗ lực của các thành viên : Như chúng ta
thường thấy, khi các cá nhân cùng nhau tham gia và phối hợp những nỗ lực
vật chất hay trí tuệ của họ thì nhiều công việc phức tạp và vĩ đại có thể được
hoàn thành. Chẳng hạn , việc xây dựng các Kim tự tháp, việc đưa con người
lên mặt trăng...là những công việc vượt xa trí thông minh và khả năng của bất
cứ cá nhân nào. Sự kết hợp nỗ lực nhân lên đóng góp của mỗi cá nhân.
Thứ hai, có mục đích chung : Sự kết hợp các nỗ lực không thể thực
hiện được nếu những người tham gia không nhất trí cùng nhau phấn đấu cho
những quyền lợi chung nào đó. Một mục tiêu chung đem lại cho các thành
viên của tổ chức một tiêu điểm để tập hợp nhau lại.
Thứ ba, phân công lao động : Bằng cách phân chia một cách hệ thống
các nhiệm vụ phức tạp thành những công việc cụ thể, một tổ chức có thể sử
dụng nguồn nhân lực của nó một cách có hiệu quả. Phân công lao động tạo
điều kiện cho các thành viên của tổ chức trở nên tài giỏi hơn do chuyên sâu
vào một công việc cụ thể.
Thứ tư, hệ thống thứ bậc quyền lực : Các nhà lý thuyết về tổ chức định
nghĩa quyền lực là quyền ra quyết định và điều khiển hành động của những

1. Quy luật mục tiêu rõ ràng và tính hiệu quả của tổ chức
Trong quá trình hoạt động, từng con người hay từng tập thể lớn, nhỏ
đều xác định cho mình một mục tiêu tiến tới. Từ mục tiêu ấy, định hình tổ
chức phù hợp để thực hiện có hiệu quả nhất mục tiêu đó. Vì vậy, tổ chức là
công cụ thực hiện mục tiêu. Mục tiêu càng rõ ràng thì thiết kế tổ chức càng
thuận lợi và việc vận hành tổ chức đạt đến mục tiêu sẽ thuận buồm xuôi gió
và đạt hiệu quả cao nhất. Quy luật này được xem là quan trọng nhất.Tuy
nhiên, việc xác định mục tiêu lại chính là vấn đề nan giải nhất của bất kỳ tổ
chức nào. Mục tiêu là cái đích phải đạt tới của tổ chức, mục tiêu quy định quy
mô và cấu trúc của tổ chức. Khi xác định mục tiêu, người ta thường dùng "cây
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mục tiêu" để xác định và phân loại thành mục tiêu trước mắt hay lâu dài, mục
tiêu của quốc gia, của ngành hay địa phương…
Trong các doanh nghiệp phải xác định mục tiêu chiến lược của mình,
và để đạt được mục tiêu chiến lược người ta thường phân chia thành từng giai
đoạn dài, ngắn khác nhau và xác định mục tiêu cụ thể. Nếu mục tiêu của hệ
thống là mục tiêu chiến lược thì cũng có thể coi mục tiêu của các đơn vị cấu
thành là mục tiêu cụ thể. Và trong trường hợp này, mục tiêu chiến lược của hệ
thống còn là mục tiêu cụ thể của hệ thống lớn hơn. Hiệu quả của tổ chức bắt
đầu từ việc xác định mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể cũng như mục
tiêu của hệ thống và mục tiêu của tổ chức hợp thành.
Xác định mục tiêu là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi người lãnh
đạo hệ thống tổ chức phải tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm lịch sử và dự
báo chính xác tương lai thì mới có thể xác định mục tiêu được đúng đắn.
Người lãnh đạo tổ chức hợp thành phải hiểu sâu sắc mục tiêu của hệ thống để
xác định mục tiêu của tổ chức mình phù hợp với mục tiêu của hệ thống, góp
phần bảo đảm đạt được mục tiêu của hệ thống một cách hiệu quả nhất. Số
lượng mục tiêu càng ít càng tốt và càng ít càng khó đối với người xác định
mục tiêu, hoạch định đường lối. Tổ chức có nhiều mục tiêu thường đạt hiệu

sự liên kết giữa các tổ chức thành viên trật tự hay hỗn loạn, điều khiển được
hay không điều khiển được.
Hệ thống là một tập hợp gồm các phần tử liên kết với nhau trong những
mối liên hệ nhất định với những tính chất nhất định. Cốt lõi của quan điểm hệ
thống khi xem xét một tổ chức là phát hiện và phân tích các mối quan hệ và
tính chất của các mối quan hệ đó giữa các yếu tố hay các chức năng của đối
tượng. Các mối quan hệ này buộc các yếu tố, các bộ phận lại với nhau trong
một cấu trúc, chúng tạo nên sự thống nhất giữa bộ phận và toàn thể của tổ
chức hay của hệ thống. Quan điểm hệ thống này được các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mac - Lênin nêu lên thành luận điểm khoa học trong học thuyết
duy vật biện chứng về sự thống nhất vật chất của thế giới và mối quan hệ giữa
chúng. Lý thuyết hệ thống đã tạo ra khả năng cho con người mô tả, phân tích,
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xử lý các mối quan hệ đa dạng giữa các đối tượng phức tạp của thực tiễn, của
hệ thống tổ chức.
Quan hệ cơ bản nhất xác định hoạt động của hệ thống tổ chức là quan
hệ vào - ra của hệ thống tổ chức. Xem xét quan hệ vào ra là xem xét chức
năng hoạt động của hệ thống tổ chức, đồng thời cũng là xét hệ thống trong
trạng thái mở, trong sự tương tác của môi trường, chứ không phải là một hệ
thống khép kín. Về mặt thực tiễn, quan hệ vào ra là căn cứ chủ yếu để xem
xét khả năng hoạt động và hiệu quả của tổ chức và của hệ thống. Quy luật hệ
thống không chỉ cho ta thấy cấu trúc của tổ chức, mà còn chỉ cho ta cách quản
lý hay điều khiển tổ chức hoặc hệ thống tổ chức. Qúa trình điều khiển là quá
trình tác động lên hệ thống để biến cái vào thành cái ra theo mục tiêu thiết kế
của hệ thống.
Trong hệ thống tổ chức cần quy định rõ quyền hạn trách nhiệm và mối
quan hệ của các tổ chức cùng cấp và các cấp trong hệ thống, Trong hệ thống
tổ chức thường bắt đầu từ tổ chức cơ sở, dù nhỏ thì tổ chức cơ sở cũng mang
đầy đủ tính chất của một tổ chức. Khi tính điều khiển được của tổ chức vượt

nhiều và thường xuyên đổi tên làm cho các tổ chức mất cả truyền thống của
mình, một tổ chức khoa học nằm ở vùng giao thoa của nhiều môn khoa học
khác nhau không thể ghép vào một tổ chức khoa học nào mà phải lập ra một
tổ chức riêng mang tính đặc thù của ngành khoa học giao thoa đó. Đây là quy
luật hết sức khắc nghiệt. Tuy nhiên, xác định tính đồng nhất không phải lúc
nào cũng làm được, nhất là khi hệ thống còn chịu sự tác động của các tổ chức
khác.
4. Quy luật vân động không ngừng và vận động theo quy trình của
tổ chức
Bất kỳ một tổ chức nào sau khi ký quyết định thành lập hoặc giấy phép
hành nghề, nó bắt đầu hoạt động, hoạt động liên tục, hoạt động không ngừng.
Khi tổ chức ngừng hoạt động là tổ chức bị phá sản hay giải thể. Hoạt động là
điều kiện tồn tại của tổ chức, tổ chức cũng như cơ thể sống, sự vận động là lẽ
sống của nó. Vận động của hệ thống tổ chức không chỉ liên tục mà còn vận
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động toàn thể từ những tổ chức hợp thành đến hệ thống. Tổ chức được thiết
kế để thực hiện mục tiêu, quá trình thực hiện mục tiêu là quá trình vận động
của tổ chức, nếu tổ chức không vận động thì không có cách gì để thực hiện
mục tiêu. Nói quy luật động không ngừng là mới chỉ nói một vế, còn vế thứ
hai là vận động theo quy trình của tổ chức, quy trình được quy định cụ thể
trong điều lệ hoạt động của tổ chức. Tuy vận động không ngừng nhưng bộ
máy tổ chức không phải là động cơ vĩnh cửu, mà nó cũng cần năng lượng để
hoạt động. Nguồn năng lượng đó chính là các quyết định của cơ quan quản lý,
sản phẩm của bộ máy lãnh đạo và quản lý là các quyết định, việc tổ chức và
thực hiện các quyết định là nhiệm vụ chính của nó. Đó chính là năng lượng
mà lãnh đạo cấp cho bộ máy tổ chức. Do đó, cần ban hành và thực hiện chế
độ chuẩn bị và thông qua các quyết định. Tuân thủ quy luật khách quan này,
khi thiết kế tổ chức, ngoài thiết kế hệ thống, còn phải xác định cơ chế vận
hành của bộ máy tổ chức, bảo đảm cho tổ chức vận động không ngừng và

con người sử dụng lực lượng thực tiễn. "Những con người thực hiện lực
lượng thực tiễn" ở đây chính là tổ chức và tổ chức việc thực hiện. Rút kinh
nghiệm không thành công của các nhà yêu nước tiền bối và tiếp thu chủ nghĩa
Mác - Lênin, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã bắt đầu sự nghiệp lãnh đạo cách mạng
Việt Nam bằng việc để rất nhiều tâm chí và tiến hành một cách rất cụ thể,
công phu việc xây dựng tổ chức Đảng cách mạng và các tổ chức quần chúng
xung quanh Đảng. Khi Đảng đã cầm quyền, Người lại đầu tư nhiều công sức
chỉ đạo xây dựng chính quyền cách mạng thực sự là công bộc của dân, xây
dựng lực lượng vũ trang thực sự từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ.
Trong di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân Người đã nhấn mạnh: Đảng ta
đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác.
Sau hơn nửa thế kỷ lãnh đạo thành công cách mạng Việt Nam, năm
1982, Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: Tổ chức là một khâu quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi đường
lối, chính sách của Đảng. Đảng ta không những đã thể hiện bản lĩnh độc lập,
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tự chủ, sáng tạo trong việc đề ra đường lối cách mạng, mà còn cả trong tổ
chức thực hiện, nên đã nhân sức mạnh của dân tộc ta lên gấp nhiều lần, chiến
thắng các kẻ thù hùng mạnh và tàn bạo nhất thời đại.
Muốn cho tư tưởng, đường lối, chính sách được thực hiện, phải có tổ
chức, phải tổ chức con người lại với những phương tiện nhất định, chỉ đạo
mọi người hành động theo đúng những mục tiêu, phương hướng do tư tưởng
đó xác định. Chính trên ý nghĩa ấy, chúng ta nói: Khi Đảng đã có đường lối,
nhiệm vụ chính trị đúng đắn thì công tác tổ chức, cán bộ và công tác quản lý
bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị. Đường lối nhiệm
vụ chính trị và công tác tổ chức, quản lý có mối liên hệ hữu cơ, không thể
tách rời nhau.
Bên cạnh những thành công, thắng lợi vĩ đại đó, chúng ta cũng còn

các vấn đề của tổ chức.
II. NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ
1. Tính tối ưu
Cơ cấu chức năng quản lý phải bảo đảm mối quan hệ tốt nhất giữa các
khâu và các cấp quản lý phải được thiết lập nên những mối quan hệ hợp lý với
số lượng cấp quản lý ít nhất trong hệ thống nhờ đó cơ cấu tổ chức quản lý sẽ
mang tính năng động cao, luôn luôn đi sát và phục vụ mục đích đề ra của hệ
thống.
2. Tính linh hoạt
Cơ cấu tổ chức quản lý phải có khả năng thích ứng linh hoạt với bất kỳ
tình huống nào xảy ra trong hệ thống cũng như ngoài môi trường.
3. Tính tin cậy
Cơ cấu tổ chức quản lý phải đảm bảo tính chính xác của tất cả các
thông tin được sử dụng trong hệ thống nhờ đó đảm bảo sự phối hợp với các
hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận hệ thống.
4. Tính kinh tế
Cơ cấu tổ chức quản lý phải sử dụng chi phí quản lý đạt hiệu quả cao
nhất. tiêu chuẩn xem xét yêu cầu này là mối tương quan giữa chi phí dự định
bỏ ra và kết quả sẽ thu về.
5. Tính bí mật
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đòi hỏi giữ gìn nội dung hoạt động của mỗi phân hệ và của cả hệ
thống, chống sự rò rỉ thông tin cho các hệ thống ngoài, sự thường xuyên theo
dõi của các hệ thống khác.
III. NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC
1. Nguyên tắc xác định theo chức năng
Một vị trí công tác hay một bộ phận được định nghĩa càng rõ ràng theo
các kết quả mong đợi, các hoạt động cần tiến hành, các quyền hạn được giao
và các mối liên hệ thông tin với các vị trí công tác hay bộ phận khác, thì

Trong thực tế người quản lý thường cố bắt cấp dưới phải có trách
nhiệm về các công việc mà họ không có đủ quyền hạn cần thiết. Điều này có
thể làm cho việc thực hiện các công việc mất đi tính khả thi. Ngược lại, đôi
khi quyền hạn được giao đủ, nhưng người được uỷ quyền lại không có trách
nhiệm phải sử dụng đúng đắn quyền hạn đó. Trong trường hợp này hậu quả
thật là tai hại, quyền hạn sẽ bị lạm dụng để mưu cầu những lợi ích riêng.
5. Nguyên tắc về tính tuyệt đối trong trách nhiệm
Cấp dưới phải chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ trước
cấp trên trực tiếp của mình, một khi họ đã chấp nhận sự phân công và quyền
hạn thực thi công việc, còn cấp trên không thể lẩn tránh trách nhiệm về các
hoạt động được thực hiện bởi cấp dưới của mình trước tổ chức.
6. Nguyên tắc thống nhất mệnh lệnh
Mối quan hệ trình báo của từng cấp dưới lên một cấp trên duy nhất
càng hoàn hảo, thị mâu thuẫn trong các chỉ thị sẽ càng ít và ý thức trách
nhiệm cá nhân trước các kết quả cuối cùng càng lớn.
Mặc dù có khả năng một cấp dưới nhận được sự uỷ quyền của nhiều
cấp trên, những khó khăn thực tiễn trong việc phải phục vụ nhiều "ông chủ" là
điều không tránh khỏi. Nghĩa vụ cơ bản mang tính cá nhân, và quyền hạn
được giao bởi nhiều người cho một người rất có thể sẽ dẫn tới những mâu
thuẫn cả về quyền hạn lẫn trách nhiệm.
7. Nguyên tắc quyền hạn theo cấp bậc
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Việc duy trì sự phân quyền đã định đòi hỏi các quyết định trong phạm
vi quyền hạn của ai phải được chính người đó đưa ra chứ không được đẩy lên
cấp trên.
Từ nguyên tắc này có thể thấy rằng nếu người quản lý mong muốn giao
phó quyền hạn một cách có hiệu quả, họ phải đảm bảo rằng việc uỷ quyền là
rõ ràng đối với cấp dưới. Họ cũng nên tránh lòng ham muốn ra các quyết định
thay cho cấp dưới.

các bộ phận chịu trách nhiệm về lợi nhuận theo sản phẩm, khách hàng hay địa
dư.
IV. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ CẤU TỔ CHỨC
Khi xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý ta cần quan tâm tới những nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của việc hình thành, phát triển và hoàn thiện
cơ cấu tổ chức quản lý
Có thể quy thành hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức của
doanh nghiệp:
1. Nhóm các nhân tố thuộc đối tượng quản lý
♦ Tình trạng và trình độ phát triển của công nghệ sản xuất của
doanh nghiệp.
♦ Tính chất và đặc điểm sản xuất: Chủng loại sản phẩm, quy mô
sản xuất, loại hình sản xuất.
2. Nhóm nhân tố thuộc lĩnh vực quản lý
♦ Quan hệ sở hữu tồn tại trong doanh nghiệp.
♦ Mức độ chuyên môn hoá và tập trung hoá các hoạt động quản trị.
♦ Trình độ cơ giới hoá và tự động hoá các hoạt động quản lý, trình
độ kiến thức tay nghề của cán bộ quản lý, hiệu suất lao động của họ.
♦ Quan hệ phụ thuộc giữa số lượng người bị lãnh đạo, khả năng
kiểm tra của người lãnh đạo đối với hoạt động của những người cấp dưới.
♦ Chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp với đội ngũ cán bộ quản lý

18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
V. NHỮNG THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU TỔ CHỨC
1. Chuyên môn hoá
Chuyên môn hoá là quá trình nhận diện những công việc cụ thể và
phân công các cá nhân hay nhóm làm việc đã được huấn luyện thích hợp đảm
nhiệm chúng. Do đó trong tổ chức, một cá hay một nhóm làm việc có thể
chuyên sâu vào một công việc hay công đoạn nào đó trong quá trình sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status