Ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ đối với các quốc gia Đông Nam Á trong lịch sử - Pdf 26

1
Phần 1: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đông Nam Á với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên đặc biệt của mình nằm
giữa trục giao lưu Đông – Tây và Nam – Bắc, từ rất sớm đã trở thành con đường
giao thương trên biển nối thông thế giới Đông – Tây, giữa Trung Hoa với Ấn Độ
và thế giới phương Tây và trở thành ngã tư của các nền văn minh.
Trong một không gian như vậy, những nhóm cư dân Đông Nam Á với bản
sắc riêng của mình, ở một trình độ phát triển nhất định – trước ngưỡng cửa xây
dựng quốc gia dân tộc đã mở rộng cửa giao lưu với thế giới bên ngoài trong các
mối quan hệ đến từ biển. Nổi lên trong đó là mối quan hệ giao thương, buôn bán
với những thuyền buôn đến từ Ấn Độ và Trung Hoa. Chính từ con đường giao lưu,
buôn bán này đã là tiền đề, cơ sở để các cư dân Đông Nam Á tiếp thu, học hỏi ở
hai nền văn hóa lớn của thế giới cổ đại lúc bấy giờ.
Những dấu ấn, ảnh hưởng của hai nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa thể
hiện khá toàn diện và sâu sắc trên nhiều mặt trong suốt lịch sử phát triển của các
quốc gia Ấn Độ sơ kì. Đặc biệt, nền văn hóa Ấn Độ cổ điển với những nét gần gũi
về tâm linh, tôn giáo đã dễ dàng chinh phục các cư dân Đông Nam Á. Họ đã đón
nhận nó một cách hoàn toàn tự nguyện, hòa bình từ đó làm phong phú thêm nền
văn hóa bản địa của mình, xây dựng nên một nền văn hóa rực rỡ đóng góp vào kho
tàng văn hóa chung của loài người.
Chọn đề tài “Ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ đối với các quốc gia Đông
Nam Á trong lịch sử” làm bài tập kết thúc chuyên đề là một vấn đề có ý nghĩa thực
tiễn giúp nâng cao nhận thức về lịch sử văn hóa của dân tộc và khu vực.
2. Lịch sử vấn đề - Giới hạn phạm vi
Tìm hiểu về lịch sử, văn hóa Đông Nam Á trong bối cảnh có sự giao lưu
tiếp xúc với văn hóa truyền thống Ấn Độ từ lâu đã thu hút khá nhiều sự quan tâm
của các học giả với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị.
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của các tác giả, bài tiểu luận chỉ có
tính chất tổng hợp, trình bày lại một cách cơ bản sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
đối với Đông Nam Á trong lịch sử. Trong đó, tìm hiểu sâu hơn về ảnh hưởng của

Chương 4: Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với trường hợp Chămpa.
Phần 2: Nội dung
Chương I. Khái quát về tự nhiên và lịch sử các quốc gia Đông
Nam Á cổ đại
Đông Nam Á là một khu vực rộng lớn với hai khu vực địa lí lục địa và hải
đảo. Thời cổ đại, ngoài vùng trên còn có Hoa Nam (Trung Quốc) ở phía Bắc, ở
phía Tây đến tận Asam của Ấn Độ.
Căn cứ vào những tài liệu khảo cổ học, dân tộc học, các nhà khoa học đã
xác định được phạm vi của khu vực Đông Nam Á thời cổ. Chính trong môi trường
đó mà cơ tầng văn hóa Đông Nam Á ra đời. Đông Nam Á là một trong những nơi
phát sinh loài người. Ở kỉ địa chất Plêixtoxen xuất hiện người Pitêcantơrốp. Tiếp
đó, người hiện đại Homo Sapiens cũng có mặt ở vùng này. Đại chủng Ôtxtralôit
phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á, còn đại chủng Môngôlôit chủ yếu ở Mông Cổ và
Bắc Trung Quốc.
3
Tiếp sau giai đoạn đá cũ, khu vực Đông Nam Á bước vào giai đoạn đồ đá
giữa mà tiêu biểu là văn hóa Hòa Bình. Vào cuối thời kì Hòa Bình, cách đây
khoảng một vạn năm, Đông Nam Á là nơi chứng kiến nền nông nghiệp sơ kì. Do
có địa hình phân tán hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá và rừng nhiệt đới với thảm
thực vật dồi dào và quần thể động vật phong phú. Khác với Trung Quốc, Ấn Độ…
ở Đông Nam Á thiếu những cánh đồng rộng để trồng lúa, để chăn nuôi gia súc lớn.
Diện tích ban đầu để trồng trọt quá ít. Từ thời đá mới đến khoảng 4.000 năm TCN,
cư dân Đông Nam Á có đời sống vật chất và tinh thần cơ bản như sau: đã có thể có
nông nghiệp lúa nước, thuần dưỡng trâu bò, về sau đã biết sử dụng kim loại ở
dạng thô sơ, bước đầu làm quen với kĩ thuật khai thác hải sản. Về đời sống tinh
thần: nơi thờ cúng đặt ở chỗ cao, chôn người chết trong chum hoặc dưới các tràng
thạch, vai trò và vị trí của phụ nữ được đề cao.
Tiếp theo, Đông Nam Á cũng bước vào thời đại đồ đồng với nền văn hóa
Đông Sơn mà tính phổ quát của nền văn hóa này ngày càng được thừa nhận.
Đặc biệt, các hiện vật ở Đông Sơn cũng được tìm thấy ở Thái Lan,

4
Đến khoảng thiên niên kỉ II TCN, cư dân Đông Nam Á đã dần dần chiếm
lĩnh các con sông lớn như Mê Công, Mê Nam, Iraoadi, sông Hồng, sông Mã…
Những con sông đó cùng với biển Đông có thể coi là phương tiện hinh thành giữa
các cộng đồng, cư dân trong vùng. Điều đó thể hiện trong những nét tương đồng
của cư dân các quốc gia Đông Nam Á.
Ngay trong thời kỳ tiền sử và sơ sử đã có sự giao lưu của cư dân Đông Nam
Á với các vùng Hoa Hạ và với Ấn Độ. Đó là mối quan hệ hai chiều. Cư dân Bắc
Đông Nam Á đã tiếp thu với văn hóa phương Bắc. Còn người phương Bắc đã tiếp
thu các thành tựu của các tộc phương Nam: những kinh nghiệm trồng lúa nước,
trồng chè, trồng dâu, nuôi tằm…
Đối với Ấn Độ, ngay từ thời kỳ này đã có sự giao lưu với khu vực Đông
Nam Á. Những điểm tương đồng về khí hậu, gần gũi về địa lý tộc người, là cơ sở
ban đầu cho điều đó. Những tộc người ở Đông Ấn có quan hệ mật thiết với một số
tộc người Đông Nam Á tiền sử, trước hết là nhóm tộc người thuộc ngôn ngữ Môn
– Khơme. Cả Ấn Độ và Đông Nam Á đều nằm trong vùng khí hậu châu Á, gió
mùa. Sự tương đồng đó đã tạo điều kiện cho các tộc cư dân Ấn Độ sớm có sự giao
lưu kinh tế, văn hóa với vùng Đông Nam Á.
Như vậy, trước khi có sự xâm nhập chính thức của nền văn minh Ấn Độ,
Trung Hoa, ở Đông Nam Á đã định hình một chỉnh thể. Mặc dù có những nét đặc
thù so với văn minh Trung Quốc, Ấn Độ, giữa Đông Nam Á và hai khu vực lớn
nói trên vẫn có sự giao lưu sơ khởi. Mặt khác, chính nhờ có bản sắc của mình
trước các yếu tố ngoại lai, các tộc người Đông Nam Á bước vào thời kì mới: thời
kì dựng nước và giữ nước.
Trong khoảng 10 thế kỉ đầu công nguyên, ở Đông Nam Á có hàng loạt
quốc gia nhỏ ra đời và phát triển. Thoạt đầu, trên vùng lục địa và hải đảo Đông
Nam Á có hàng chục tiểu quốc phân tán ở các địa bàn hẹp, riêng lẻ và thỉnh
thoảng cũng có những cuộc xung đột, tranh chấp với nhau.
Do nhu cầu trao đổi, bán các vật quý của địa phương mình để đổi lấy đồ thủ
công cao cấp và đồ trang sức của Ấn Độ, Tây Á mà việc buôn bán bằng đường

và thượng lưu sông Mê Công. Đến giữa thế kỉ XV, các vua thuộc triều Authaya đã
chinh phục các nước khác thống nhất miền đồng bằng Mê Nam, lập nên vương
quốc Thái;
Vương quốc Campuchia: ở thế kỉ V, xã hội có giai cấp và nhà nước của
người Khơme đã được hình thành. Lúc đầu họ sống ở phía Bắc sau lấn dần xuống
phía Nam;
Vương quốc Lào: năm 1353, Pha Ngừm đã tập hợp, thống nhất các bộ lạc
lại, lập nên quôc gia mới gọi là Lan Xang.
Như vậy, trừ nước Văn Lang – Âu Lạc, từ sau CN, các vương quốc (hay
tiểu quốc) lần lượt đã được hình thành ở Đông Nam Á. Sau khi nhà nước được
thành lập, đời sống kinh tế xã hội và văn hóa ở Đông Nam Á có điều kiện phát
triển. Do ở vị trí địa lí thuận lợi, các nước Đông Nam Á được các nhà thám hiểm,
hàng hải, buôn bán lui tới; các hải cảng trở thành các trạm dừng chân của các đoàn
thuyền buôn với tiềm lực ngoại thương lớn. Đó chính là tiền đề cho sự giao lưu,
tiếp xúc văn hóa với bên ngoài.
Chương II. Vài nét về văn hóa Ấn Độ
1. Nguồn gốc và yếu tố cấu thành.
Ấn Độ là một địa hình tam giác lớn, một “tiểu lục địa” ở Nam Á, bị ngăn
cách với thế giới bên ngoài bởi Ấn Độ Dương và dãy núi Himalaya hùng vĩ.
6
Địa hình Ấn Độ rất đa dạng và được chia làm ba khu vực rõ rệt: vùng núi
Himalaya, vùng đồng bằng sông Ấn – Hằng và cao nguyên Đêcan. Địa hình chia
cắt là nguồn gốc phân tán Ấn Độ thành các tiểu quốc từ xa xưa.
Sự đa dạng của Ấn Độ còn thể hiện ở các mặt xã hội, dân tộc, ngôn ngữ,
tôn giáo… sự phân tán về chính trị. Tuy vậy, sự đa dạng, phức tạp của Ấn Độ từ
thời xa xưa vẫn được xem như trong một thể thống nhất.
Ngoài nguồn gốc lịch sử, văn minh Ấn Độ còn được cấu thành bởi những
yếu tố khác.
Nền văn minh trên bán đảo Ấn Độ phát triển một cách đều đặn lạ thường từ
thời Mohengiô – Đarô cho đến ngày nay, một xứ sở mà nền văn minh đã có từ bao

Các chủng tính ở trên một vùng nhất định, có cùng nghề nghiệp, nghi lễ tôn
giáo, cùng một hạng người trong xã hội. Thoạt đầu, Vacna được dựa trên cơ sở
phân biệt màu da. Dần dần, trong xã hội Ấn Độ đã hình thành một hệ thống Vacna
với bốn đẳng cấp chính:
+ Đẳng cấp quý tộc tăng lữ Bàlamôn
+ Đẳng cấp Ksatơria, gồm quý tộc, vương công, võ sĩ
+ Đẳng cấp bình dân Vaisa gồm hầu hết người bình dân Aryan
+ Đẳng cấp Suđra là cư dân bản địa bị người Aryan chinh phục
Ngoài bốn đẳng cấp chính, còn có một số đẳng cấp bị coi là thấp hèn nhất,
như Paria, Chandala… với biết bao quy định ngặt nghèo được đặt ra: hôn nhân
giữa các đẳng cấp bị cấm, người Paria không được cắt tóc, không được đưa đồ
uống cho người Bàlamôn, thậm chí không được dẫm lên bóng người Bàlamôn…
3
Việc phân chia đẳng cấp vô lý đó được giải thích bằng các tôn giáo và được
các thành kiến tôn giáo củng cố, duy trì lâu dài trong lịch sử Ấn Độ. Ở Ấn Độ cổ
đại, có không ít những người nô lệ, song đó không phải là những nô lệ điển hình
như ở phương Tây mà là nô lệ gia trưởng tùy thuộc vào gia đình chủ và cũng có
nô lệ của tập thể.
Đến thời kì trung đại, ngoài chế độ Vacna còn có chế độ Giati, có nghĩa gốc
là thị tộc, bộ lạc. Tuy giống Vacna ở chỗ chia cư dân thành các nhóm xã hội đóng
kín, song Giati lạ có những mặt khác. Do có sự biến đổi của xã hội mà địa vị các
Giati có thay đổi và khác nhau tùy theo từng vùng do vai trò của nghề nghiệp mà
họ đảm nhận.
Gia đình: Tế bào cơ sở của xã hội Ấn Độ truyền thống là gia đình, vào đầu
thời kỳ Vêđa, địa vị của phụ nữ được coi trọng. Về sau, do sự phát triển của xã hội
mà vị trí người đàn ông đã được đề cao hơn và ngày càng được củng cố bởi các
quan niệm tôn giáo. Một số lớn gia đình Ấn Độ là gia đình đồng tộc gồm bố mẹ,
anh, chị, con cháu nội ngoại, đầy tớ… Đó là loại gia đình phụ hệ với quyền lực rất
lớn của người đàn ông. Sau nữa, do ảnh hưởng của đạo Hồi mà vị trí của người
phụ nữ càng suy giảm.

+ Đạo Phật (Buddhism): là tôn giáo thế giới xuất hiện sớm nhất, đã và đang
đóng vai trò quan trọng trong lịch sử các dân tộc châu Á. Quê hương của đạo Phật
là một xứ sở nhỏ ở Đông Bắc Ấn Độ. Từ khi xuất hiện (vào cuối thế VI TCN) cho
đến nay đạo Phật đã được truyền bá tới hầu hết các nước Đông Á và Đông Nam Á.
Tuy nhiên, chính tại quê hương của đạo Phật, số phật tử chỉ chiếm chưa đến 1%.
+ Đạo Giaina (Jainism): Đạo Giaina hay còn gọi là đạo thiền do Mahavina
sáng lập vào thế kỉ VI TCN, cùng thời với sự ra đời của đạo Phật. Về sự tích ra đời
và giáo lý căn bản, đạo Giaina khá giống đạo Phật. Giaina giáo đặc biệt đề cao
Ahimsa (không mưu hại sinh linh) và sống theo chủ nghĩa khổ hạnh.
+ Đạo Xích (Sikhism): Đạo Xích ra đời trên cơ sở kết hợp đạo Hinđu và
đạo Hồi. Người đứng đầu tôn giáo này là pháp sư Guru. Trong lịch sử đạo Xích
chỉ có 10 Guru. Guru thứ 10 thành lập một đạo quân tôn giáo để chống lại sự đàn
áp của Hồi giáo. Trong mấy thế kỉ tồn tại, tín đồ đạo Xích thường bị lợi dụng gây
nhiều hoạt động khủng bố, ám sát…
2.2 Thần thoại và văn học
Ở Ấn Độ, thần thoại đã in dấu đậm nét lên đời sống, vừa thể hiện những
khát vọng tâm linh cao siêu, vừa thấm đượm sâu sắc tính trần tục của con người
trần thế.
Gắn liền với tôn giáo, thần thoại bắt nguồn cùng sự ra đời và lan tỏa của
các tôn giáo ở Ấn Độ, đồng thời thần thoại cùng tồn tại và phát triển với triết học
và đôi khi hòa tan với nhau.
9
Kinh Vêđa và các tác phẩm cổ điển đã ghi lại những truyện thần thoại cổ
xưa của Ấn Độ nhằm lí giải về nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc các loài và thủy tổ
loài người… Những quan niệm về vũ trụ, về tự nhiên, con người… trong thần
thoại Ấn Độ cũng biến đổi dần theo quá trình biến đổi của đời sống vật chất, tinh
thần, tôn giáo và xã hội của họ.
Những biểu tượng thần thoại chủ yếu được đề cập tới là các vị phúc thần,
hung thần, các thần linh làm những nhiệm vụ trấn giữ bầu trời, trái đất, nhà cửa,
ao hồ, sông suối… Các biểu tượng về loài vật cũng chiếm vị trí quan trọng. Loài

sức độc đáo, được xây dựng từ thế kỉ II TCN. Khoảng 500 bức bích họa ở Agianta
mô tả sự tích đức Phật Thích Ca với nhiều màu sắc, nhiều nét vẽ linh hoạt để lại
giá trị mỹ thuật rất cao, bao đời qua vẫn không phai mờ. Ở miền Tây và miền
10
Trung Ấn Độ như Bhaja, Kacla, Elêphanta… cũng có nhiều chùa hang tương tự
của đạo Phật, đạo Giaina và đạo Hinđu. Các đền thờ vùng Trung và vùng Nam
thường hợp thành những quần thể di tích rất đặc biệt, mang đậm bản sắc dân tộc.
Nét tiêu biểu nhất trong nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ là tượng Phật và tượng
Thần của đạo Hinđu. Những bức tượng Phật Thích Ca bằng đá và một số ít bằng
đồng thường được thể hiện ở ba tư thế: đứng – tượng trưng quyền lực, ngồi – thiền
định, nằm chống tay lên thái dương – nhập tịch Niết Bàn. Đối với đạo Hinđu, có
một số ít là tượng Brahma và Visnu, còn phần nhiều là tượng thần Siva.
Các tượng thần hoặc được thể hiện như người, hoặc là hình ảnh các hóa
thân như lợn rừng, nhân sư mình người đầu sư tử. Có thể thấy tượng thần Siva ở
khắp các miền Ấn Độ với con mắt thứ ba ở giữa trán (con mắt hướng nội tâm)
cùng những dấu hiệu khác như tượng bò rừng Nanđin là vật cưỡi của thần, hoặc
trụ đá Linga là biểu tượng sinh thực khí nam giới. Bên cạnh tượng thần linh còn có
nhiều tượng thú vật gắn liền với một điển tích tôn giáo như tượng sư tử ở cột đá
Sacnat, tượng voi và bò rừng ở khu đền Mahabalipurami, tượng khỉ Hanuman ở
miền Nam Ấn Độ cũng như các loài vật mang tính thần linh như chim thần
Garuđa, rắn thần Naga, thủy quái Makara…
Đạo Hồi cũng ghi dấu ấn đậm nét trong nền kiến trúc và nghệ thuật điêu
khắc Ấn Độ. Những nhà thờ Hồi giáo, các cung điện, lăng tẩm mang nhiều dáng
dấp Ảrập, Ba Tư hay cũng đã “Ấn hóa” với những đặc điểm kiến trúc Ấn Độ.
Đêli, Phatecpua Sikri và Agra là 3 thành phố trung tâm kiến trúc đạo Hồi vì đã
từng là kinh đô của các vương triều Hồi giáo. Tháp Kutup Minar ở Đêli, cao 73m
gồm 5 tầng với 376 bậc cuốn vòng dẫn lên đỉnh, được xây dựng vào đầu thế kỉ
XIII. Tòa thành Lan Kila (Thành Đỏ) có bức tường thành cao 22m bằng sa thạch
đỏ, bên trong có nhiều cung điện, giáo đường nguy nga lộng lẫy. Còn rất nhiều
công trình kiến trúc cùng những tác phẩm hội họa và điêu khắc tạo nên niềm tự

để lấy thai nhi ra khỏi bụng mẹ, giải phẩu thẩm mĩ, vá môi, chữa mũi, tai… người
Ấn Độ rất quan tâm đến khoa trường sinh học, chú ý phòng bệnh, giữ vệ sinh. Hai
thầy thuốc nổi danh ở Ấn Độ cổ đại là Charaka (thế kỉ I – II), ngự y của vua
Kaniska và Suskuta (thế kỉ IV). Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, giới Vaidyas (y sĩ) rất
được mọi người tôn trọng.
3. Quá trình lan tỏa và thâm nhập của văn minh Ấn Độ đến khu vực
Đông Nam Á
Người Ấn Độ đã biết đến Đông Nam Á khá sớm. Ramayana có nhắc đến
đảo Giava và Xumatơra. Theo các tài liệu cổ của Ấn Độ, mối quan hệ giữa bán
đảo Hindustan với xứ Đông Nam Á có từ lâu. Có khả năng từ xưa, người Ấn Độ
đến đây tìm vàng vì các tài liệu đó gọi đây là xứ sở vàng hay đảo vàng
Niddesa, một thư tịch Phật giáo bằng tiếng Pali đã kể tên các địa danh
người Ấn thường qua lại: Takkola ở Bắc Mã Lai, Kapuradvipa, Nakikeladvipa và
Đảo Vàng – chỉ vùng Inđônêxia. Như vậy có khả năng, ngoài vàng, người Ấn Độ
xưa kia đến buôn bán các sản vật quý, đá quý, gia vị, hương liệu… với Đông Nam
Á để trao đổi ở các xứ khác.
Đặc biệt sau Đại hội Phật giáo (năm 242 TCN) ở kinh đô Pataliputra, hoàng
đế Asôca đã cho nhiều nhà tu hành đến truyền bá đạo Phật ở các xứ thuộc Đông
Nam Á mà trước hết là Xâylan, Miến Điện, Mã Lai, Sumatơra…
Tại lưu vực sông Mê Nam, người ta đã tìm thấy bằng chứng về điêu khắc
và kiến trúc kiểu Phật giáo Amaravati. Có thể kể thêm những hiện vật tìm thấy ở
Óc Eo (Nam Bộ, Việt Nam), tượng Phật ở Đồng Dương (Quảng Nam), ở
Sumatơra… Tóm lại có nhiều bằng chứng cho thấy có sự ảnh hưởng của văn hóa
Ấn Độ đến Đông Nam Á từ những thế kỉ TCN.
Từ thế kỉ I, II trở đi ảnh hưởng đó càng mạnh do từng đợt sóng di cư từ Ấn
Độ tràn sang phía Đông và Đông Nam, đến Xâylan, Miến Điện, Mã Lai, Giava,
Sumatơra, Bocnêo, Xiêm, Campuchia… một số khác đi ra biển. Quá trình này
diễn ra trong một thời gian dài.
12
Người Ấn di dân trực tiếp (hoặc qua khâu định cư trung gian) đều do nhà

phạm sẽ bị khai trừ khỏi đẳng cấp. Quy định ngặt nghèo đó phần nào cản trở việc
xuất dương của họ. Những tín đồ Phật giáo và các tôn giáo khác đã gạt bỏ được
những trở ngại về tâm lí đó. Nhờ tinh thần truyền giáo và không có thành kiến
chủng tộc, Phật giáo đã mở đường cho người Ấn Độ đến Đông Nam Á. Các tôn
giáo khác cũng phát triển thuận lợi ở “vùng đất mới”. Dần dần, cản trở tâm lý đối
với việc “xuất dương” mất đi và trong số những người Ấn Độ đến Đông Nam Á
giai đoạn đầu người ta còn thấy có cả các tu sĩ Bàlamôn.
Như vậy, nguyên nhân chính của việc truyền bá văn hóa Ấn Độ ra bên
ngoài là do hoạt động của các thương nhân, thủy thủ và sự truyền bá tôn giáo ở
miền ngoại Ấn và sự tăng trưởng giao lưu kinh tế đã kéo theo việc đẩy mạnh giao
lưu văn hóa giữa Ấn Độ với Đông Nam Á.
13
Theo sau các thương nhân, thủy thủ và nhà tu hành là những người thuộc
tầng lớp trí thức thượng lưu, những người thuộc đẳng cấp vũ sĩ Ksatơra bị thất thế,
các tăng lữ Bàlamôn vứt bỏ thành kiến xuất dương. Đất đai Đông Nam Á, nơi có
một cơ tầng văn hóa gần gũi với Ấn Độ, điều kiện tự nhiên phong phú với dân cư
hiền lành, mến khách đã hấp dẫn họ. Những địa bàn dần trở thành nơi cư trú riêng
của người Ấn Độ. Tại những nơi này, dần dần hình thành các trung tâm văn hóa,
kinh tế với những biểu hiện ngày càng rõ nét của văn hóa Ấn Độ, đồng thời có sự
đan xen với văn hóa địa phương.
Ở những nơi thuận lợi, từ các tổ chức kinh tế sơ khởi đã hình thành quốc
gia chính trị có tổ chức. Các quốc gia Đông Nam Á loại này được các học giả
phương Tây gọi là các quốc gia “Ấn Độ hóa”. Mặc dù cách dùng như vậy không
chính xác lắm vì các quốc gia Đông Nam Á vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc
đậm nét của mình, có nền tảng khác Ấn. Chúng ta dùng thuật ngữ “Ấn Độ hóa” đó
với ý nghĩa để chỉ các quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ.
Vậy thực chất của công cuộc “Ấn Độ hóa” là gì? Đây không phải là một
cuộc xâm lược bằng vũ lực để chiếm đất đai, di dân lập ấp, mà đó là một sự thâm
nhập hòa bình không có kế hoạch vạch ra từ đầu. Các quốc gia “Ấn Độ hóa” đó lại
không lệ thuộc gì đến Ấn Độ, mà chỉ duy trì các mối liên hệ văn hóa và văn minh

ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Ảnh hưởng đó chỉ thấy rõ trong những thế kỉ đầu của
công nguyên, mà trước hết là Phật giáo.
Phật giáo vào Giao Châu từ rất sớm, có rất nhiều ý kiến nhất trí cho rằng,
Phật giáo đã thâm nhập đến Giao Châu bằng cả đường biển từ phương Nam và
đường bộ từ phương Bắc. Ở đời Hán, có ba trung tâm Phật giáo thì Luy Lâu (Giao
Châu) là một trong số đó và có thể sớm hơn hai trung tâm Bành Thành và Lạc
Dương (Trung Quốc).
Cuối thế kỉ II, học giả Mâu Bác xứ Thương Ngô (Quảng Tây) sang Giao
Châu để học về đạo Phật. Người thứ hai sau Mâu Tử từ Trung Quốc sang vào đầu
thế kỉ III là Tăng Hội. Tại Giao Châu, Tăng Hội nghiên cứu đạo Phật, biên dịch
sách từ tiếng Phạn sang tiếng Hán.
Cũng trong thế kỉ III, có hai tăng sĩ nữa sang truyền đạo Phật ở ta là Chi
Lương Cương Tiếp và Maha kỳ Vực. Chi Lương Cương Tiếp đến Giao Châu dịch
Kinh Pháp Hoa Tam Muôi, còn Maha Kỳ Vực (người Tây Trúc, Ấn Độ) đến Giao
Châu rồi sang Trung Quốc. Thế kỉ V, Đạt ma đề bà (người Ấn Độ) đến Giao Châu
để giảng về phương pháp thực hành Thiền học. Còn Thiền sư Huệ Thắng được
mời sang cả Bành Thành để chỉ bày Thiền pháp Đại thừa cho miền Giang Đông.
Giai đoạn thứ hai của việc truyền bá đạo Phật bắt đầu từ thế kỉ VI.
Tinidachilưu là người Ấn Độ sang Trường An (Trung Quốc) rồi sang Giao Châu.
Ông đã ở đây 15 năm và có nhiều học trò, trong đó có sư Pháp Hiền nổi tiếng.
Có thể nhận thấy, nếu như từ đầu công nguyên đến thế kỷ VI chỉ có các sư
Ấn Độ sang truyền bá đạo Phật thì giai đoạn này chủ yếu có các nhà sư từ Trung
Quốc sang. Từ đây, nhiều chùa chiền đã được xây dựng từ Phong Châu, Hoan
Châu và Ái Châu. Nhiều sư tăng địa phương bắt đầu đi sâu vào giáo lý nhà Phật và
Phật giáo trở thành một lực lượng xã hội.
Cũng từ đây, một số nhà sư Giao Châu thông thạo kinh Phật, giỏi chữ Phạn
đã đi nghiên cứu Phật Giáo tận Ấn Độ hoặc đến kinh đô nhà Đường. Nhiều nhà sư
được mời sang Trung Quốc để giảng kinh cho vua Đường. Các danh sư người Việt
như Vân Kỳ, Mộc xoa đề bà, Trí Hạnh, Đại Thắng Đăng… đã sang Ấn Độ.
7

gắn bó hữu cơ với cảnh sắc dân tộc, “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”.
Trong văn học dân gian, Phật (Bụt) được nhắc đến nhiều trong chuyện cổ
tích. Về mặt ngôn ngữ, chữ “Bụt” bắt nguồn từ chữ Budda còn chữ chùa là là từ
chữ Stupa của tiếng Phạn. Đôi khi, hình tượng Phật giáo chỉ là cái vỏ bên ngoài,
còn tín ngưỡng dân gian là nội dung chủ yếu. Tồn tại một dòng Phật giáo dân gian
mà có người coi là sự hòa đồng giữa Phật giáo Ấn Độ với văn hóa Việt Nam
truyền thống. Sự cộng sinh ấy cho phép dạng Phật giáo dân gian tồn tại lâu dài mà
không bị mất đi như một số Thiền phái khác.
Ảnh hưởng của Phật giáo khá rõ nét trong văn học Đại Việt. Ở thời Lý, số
đông thi sĩ là nhà sư, họ sáng tác theo tinh thần Phật giáo. Đến thời Trần, văn học
Nho giáo dần dần lấn lướt văn học Phật giáo.
Về văn học dân gian, có khá nhiều truyện cổ Việt có nguồn gốc Ấn Độ. Sử
thi của Mahabharata kể về cục thịt của Gadhari đã sinh ra 100 con trai có thể là
khởi đầu cho mô típ truyện Âu Cơ đẻ bọc trăm trứng. Sách Lĩnh Nam trích quái
16
được biên tập từ thời Trần có chép truyện Hồ Tôn Tinh được coi như một bản tóm
tắt biến thể của sử thi Ramayana.
Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cũng thể hiện qua phong cách kiến trúc,
điêu khắc ở một số đền chùa miền Bắc Việt Nam.
Trên đây là những biểu hiện của văn hóa Ấn Độ ở địa bàn Đại Việt. Tuy
vậy, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến khu vực Bắc Việt Nam chưa thật lớn.
Càng về sau, ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa càng lấn lướt do việc Nho giáo
càng ngày càng chiếm địa vị thống trị trong xã hội Đại Việt.
2. Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ với vương Phù Nam
Theo truyền thuyết, Kaundinya – một tăng lữ Bàlamôn từ Bắc Ấn Độ đến
đây sáng lập ra vương quốc Phù Nam, khởi đầu chính thức cho việc truyền bá văn
hóa Ấn Độ. Song tài liệu thành văn về vương quốc này rất ít ỏi. Sử Trung Quốc
ghi lại rằng, khoảng vào năm 375, vương quốc Phù Nam được đặt dưới sự trị vì
của vua người Ấn Chanđan. Dù đánh giá ở dưới góc độ nào thì các vị vua có gốc
gác Ấn Độ mở đầu cho một thời kỳ “Ấn Độ hóa” lần thứ hai.

phát triển vào thế kỉ VIII.
Đến thời kì Ăngco (thế kỉ IX – XV) các nhà vua tìm đến tín ngưỡng Vua –
Thần, một tín ngưỡng bắt nguồn từ sự sùng bái thần Siva của Ấn Độ. Đây là một
sáng tạo độc đáo của người Khơme trên cơ sở văn hóa Ấn Độ. Thần Siva được
nhân hóa dưới dạng nhà vua, còn vua được thần hóa dưới dạng tượng thần Linga
của Siva. Chùa tháp mô phỏng ngọn núi vũ trụ Mêru, nơi ở của thần Indra, chúa tể
của thần linh theo quan niệm của người Ấn Độ. Vị trí của Phật giáo Đại thừa cũng
có sự thay đổi. Trước thế kỉ XIII, Phật giáo lưu hành ở Ăngco là Phật giáo Đại
thừa. Từ giữa thế kỉ XIII, với sự xâm nhập của người Thái, Phật giáo Tiểu thừa
dần dần đi vào nhân dân, loại bỏ các tôn giáo khác và giữ địa vị độc tôn, chính
thống trong tín ngưỡng Khơme cho đến tận ngày nay.
Trong bộ máy nhà nước, tầng lớp tăng lữ Bàlamôn nắm trong tay những
chức vụ quan trọng khác của chính quyền. Họ vừa là những giáo chủ chi phối mọi
hoạt động tôn giáo trong cả nước, vừa là các đại thần thân cận của nhà vua trong
chính quyền thế tục. Có thể thông qua tầng lớp quý tộc tăng lữ, mà văn hóa Ấn
Độ, nhất là văn học, sử thi, luật pháp thâm nhập sâu vào văn hóa Ăngco.
Về chữ viết, trước thế kỉ VII, chữ Phạn là văn tự thông dụng và chính thức
trong triều đình. Từ thế kỉ VII trở đi, trên cơ sở kiểu chữ Phạn, hệ thống chữ viết
kiểu Khơme được sáng tạo. Chữ Khơme dần dần thay chữ Phạn. Các bài văn bia
viết theo kiểu luật thơ Ấn Độ thể hiện trình độ học vấn thời kì Ăngco.
Về văn học, hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana đã đem lại cho dân tộc
Campuchia nguồn cảm hứng thú vị và dồi dào để xây dựng nên nền văn hóa dân
tộc riêng. Ở Campuchia, nếu Mahabharata sớm bị lãng quên vì nó nói đến sự tranh
chấp nội bộ hoàng tộc, thì Ramayana, ca ngợi những lý tưởng cao đẹp, dưới dạng
Khơme hóa thành Riêm Kê vẫn sống mãi với thời gian. Riêm Kê ra đời từ thế kỉ
IX đến thế kỉ XIV như là mốc ghi nhớ thời kì ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và
xây dựng vương quyền Campuchia.
Về kiến trúc, đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất của văn hóa Ăngco truyền
thống qua các công trình xây dựng Ăngco. Trong 6 thế kỉ liên tục, kinh đô Ăngco
được tô điểm bằng hàng loạt những công trình xứng đáng là kì quan của thế giới.

của xứ sở này. Từ Giava xuất phát từ Savađripa hoặc “xứ sở của cây kê” (ngày
nay Ấn Độ, Giava có nghĩa là cây kê). Chính mối quan hệ đó đã góp phần làm ra
đời các quốc gia Ấn Độ hóa đầu tiên.
Các quốc gia cổ (Taruma ở Giava, Catuli ở Sumatra…) dùng chữ Phạn
trong văn tự, gọi tên vua theo cách của người Ấn Độ và theo tôn giáo Ấn Độ (đạo
Phật và đạo Hinđu). Tại Inđônêxia, đạo Phật và Hinđu giáo song song tồn tại cho
đến thế kỉ XIII. Từ thế kỉ XIII, người Ấn theo đạo Hồi cũng đưa Hồi giáo đến đây.
Tôn giáo mới phát triển nhanh chóng và đẩy lùi các tôn giáo cũ. Thế lực đạo Hồi
về sau lớn đến mức mà, vào thế kỉ XV, một số quý tộc Hồi giáo dựa vào người Ấn
– Hồi để thành lập các tiểu quốc, thậm chí, chính người Ấn Hồi cũng lập nên một
số tiểu quốc. Một số tiểu quốc Hồi giáo đã ra đời. Quần chúng khi đối lập giai cấp
thống trị cũng xa dần các tôn giáo gắn liền với nó. Văn hóa Phật giáo, Hinđu giáo
bị đẩy lùi. Dấu vết chủ yếu chỉ còn lại trên đảo Bali. Tại Bôrôbuđua (Giava) toàn
bộ cuộc đời Phật tổ được khắc trên đá lưu giữ đến tận ngày nay.
Về ngôn ngữ, người Giava đã học tập mẫu tự Ấn Độ bằng chữ Phạn để tạo
ra chữ viết riêng của mình.
Về văn học, hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana được biên soạn lại từ
thế kỉ X, XI, nhiều tập thơ nổi tiếng mà đề tài rút ra từ sử thi Ấn Độ đã xuất hiện.
19
Ở khu đền Prambanam trên đảo Giava có nhiều phù điêu minh họa câu chuyện về
hoàng tử Rama và công chúa Sita.
Về nghệ thuật, có thể nhận thấy các điệu múa nổi tiếng của Giava, Bali bắt
nguồn từ Ấn Độ.
6. Ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ với Lào
Có thể nói, lịch sử xã hội – chính trị của nước Lào từ trước thế kỉ XIV, nhất
là từ trước thế kỉ XI được biết đến quá ít ỏi. Các tài liệu về sự ảnh hưởng của văn
hóa Ấn Độ đối với Lan Xang cũng không nhiều.
Về ngôn ngữ, gia nhập vào vốn cổ của tiếng Lào, có một khối lượng từ đa
tiết trong tiếng Phạn, nhất là tiếng Pali (về triết học, tôn giáo, văn hóa, khoa học)
qua con đường kinh viện, song khi trở thành tiếng dân gian, các từ này được biến

20
quốc gia chịu ảnh hưởng Ấn Độ trong khu vực Đông Nam Á lại lấy khuôn mẫu tổ
chức chính trị và thiết lập vương quyền theo mô hình Ấn Độ. Thoạt nhìn thì dường
như đây là một nghịch lí. Có thể thấy ở hiện tượng hơi đặc biệt này hai nguyên
nhân: một là, các quốc gia mới hình thành ở Đông Nam Á cần có một mẫu hình
phù hợp để thiết lập vương quyền; hai là, thế mạnh ghi chép thành văn bản về mọi
phương diện của Ấn Độ cổ đại, từ nghệ thuật, trò chơi đến pháp luật và chính trị.
Chính thông qua những văn bản do người Ấn đem tới mà các quốc vương ở Đông
Nam Á đã học được và đem sử dụng những ghi chép của các văn bản đó vào tổ
chức quốc gia của mình. Hơn thế nữa, khi đã tự nguyện tiếp thu thì bao giờ sự tiếp
thu đó cũng đến nơi đến chốn và triệt để. Vương quốc cổ Chămpa không nằm
ngoài quỹ đạo chung của cả khu vực Đông Nam Á.
Trong những tài liệu mà bia kí cung cấp, chúng ta biết chắc rằng các vua
chúa Chămpa không chỉ đã biết tới mà còn rất thông hiểu các trước tác về chính
trị, luật pháp, đạo pháp của Ấn Độ cổ đại, như: Luận về chính trị, Luận về đạo
pháp, Luật Manu… Ví dụ, bia Mỹ Sơn
9
ca ngợi vua Jaya Indravarman IV là người
hiểu mọi điều trong Đharmasatra và theo theo con đường của Manu (nhân vật
huyền thoại được coi là đã viết bộ luật Manu). Còn hoàng thân Pâng, khi lên ngôi
vua, đã được tán tụng bằng một loạt những thuật ngữ lấy từ Arthasastra.
Theo những quan niệm truyền thống của Ấn Độ, vua chính là hiện thân của
thần trên mặt đất. Mỗi khi làm lễ đăng quang, vị thần tế chính thường hướng tới
các thần linh, đọc những lời như sau: “Người lên ngôi hôm nay có một uy quyền
hùng mạnh; từ hôm nay trở đi, người đó chính thức trở thành thần, vậy các thần
hãy bảo vệ ông ta”
10
. Như vậy là ở Ấn Độ, vua thường được gắn với một nguồn
gốc thần linh nào đó. Tác giả của bộ sách Arthasastra cũng cho rằng vua có nguồn
gốc thần thánh, là người thực thi chức năng của thần Indra (chúa tể của các thần)

bảo trợ hào phóng cho nghệ thuật, văn học…
Việc các vua Chămpa tự ví mình với Siva có thể “đem lại hạnh phúc cho
đất nước Chămpa”, coi mình như “Indra của các vị thần trên trái đất” hay so sánh
mình như Vikrama “nâng quả đất lên bằng hai cánh tay”… phần nào minh họa
một cách hình tượng cho chức năng và nhiệm vụ của vua chúa Chămpa. Để làm
được chức năng bảo vệ thần dân và đất nước của mình, các vua Chămpa hiểu rõ
những gì mình phải làm theo đúng những quy định của “luật thiêng” mà các trước
tác đã ghi lại. Bia kí Chămpa đã ghi nhiều về các vua của mình. Bia ở Pô Nagar ca
ngợi vua Indravarman III là người thông thái, hiểu biết sáu bộ triết học bắt đầu
bằng Mimansa (nghiên cứu các kinh Vệ đà), rồi đến các học thuyết của Phật, văn
Phạn của Panini, các bài luật, các truyền thuyết và Uttarakalpa cua Siva giáo. Văn
bia cuối thế kỉ XI ở Mỹ Sơn cho biết, vua Harivarman thông thạo trong việc thi
hành bốn phương pháp tu luyện: saman, đàra, đanđa và bheđa và rèn luyện tinh
thần bằng tĩnh tâm, còn hoàng thân Pâng (sau này sẽ làm vua) thì rất am hiểu bộ
sách Arthasastra. Bia Mỹ Sơn còn ca ngợi hoàng thân Pâng là người có 32 dấu
hiệu đã thắng được lục tặc: tham, sân, si, dục vọng, kiêu mạn, làm những điều sai
trái, đã tu thiền, am hiểu yoga…
Các vua Chămpa, cũng như các vua Ấn Độ, là những người nhiệt thành với
các tôn giáo. Bia kí cho biết, hầu như tất cả các vua Chămpa đều hào phóng trong
việc hiến đất đai, tiền của và nô lệ cho các đền miếu của những tôn giáo khác
nhau. Điều này cũng đã được thể hiện trong phần trình bày về ảnh hưởng của tôn
giáo Ấn Độ đến Chămpa.
Mặc dầu, về nguyên tắc, ngôi vua được truyền theo huyết thống (thường là
cho con cả), nhưng “luật pháp thiêng liêng” cũng như các văn bản khác của Ấn Độ
không cho phép những hoàng tử yếu đuối, bệnh tật nối ngôi. Arthasastra nhấn
mạnh: “Vua không được truyền ngôi, thậm chí cho người con duy nhất, nếu người
con đó nông nổi, trác táng”.
13
Trong trường hợp đó và trường hợp vua chết mà
không có con nối dõi thì triều thần phải họp lại để chọn vua.

Phạm Văn (người Trung Quốc) lên ngôi sau khi hãm hại các con của Phạm Dật
vào năm 336 thì vương triều thứ nhất của Chămpa chấm dứt, nhường chỗ cho
vương triều thứ hai (336 – 420); vương triều thứ ba (420 – 528) bắt đầu bằng việc
Phạm Dương Mại – một người không rõ lai lịch lên ngôi; vương triều thứ tư được
thiết lập bởi vua Rudravarman I vào năm 529 và chấm dứt vào năm 757 khi
Rudravarman II chết; vào băm 759, khi mà lịch sử Trung Quốc gọi Chămpa là
Hoàn Vương, một vương triều mới ra đời – vương triều thứ năm. Cứ như thế cho
đến ngày cuối cùng của vương quốc, triều đình Chămpa liên tục bị thay vua đổi
chúa, đến nỗi giai đoạn từ giữa thế kỉ XII trở đi, người ta không thể định được
thành các vương triều như trước nữa.
Từ những sự kiện vừa nêu, chúng ta thấy khá rõ một điều là, ở Chămpa,
giữa các vua chúa luôn có sự thoán đoán hoặc thay thế theo một nguyên tắc: kẻ
nào mạnh thì thắng, hoặc kẻ nào không có đủ phẩm chất làm vua phải rút lui – một
nguyên tắc khác hẳn với truyền thống trung quân của Trung Quốc và các nước
chịu ảnh hưởng của Trung Quốc (trong đó có Việt Nam). Mà những nguyên tắc
23
vừa nêu, lại chính là truyền thống chính trị được ghi thành “thánh luật” của Ấn Độ
cổ đại.
Ở Ấn Độ, ngay vào thời kì hậu Vệ đà, đã xuất hiện một phong tục: các thủ
lĩnh phụ thuộc phải thần phục và nộp cống cho các thủ lĩnh mạnh hơn. Trong các
văn bản thời kì đó, chúng ta đã gặp các thuật ngữ “Adhiratja” và “Samrat”, nghĩa
là “đế vương” – vị vua có các chư hầu. Không phải ngẫu nhiên mà Arthasastra
khuyên các vua yếu, trong trường hợp cần thiết, nên tự nguyện thần phục bá quyền
các nước láng giềng mạnh hơn.
Từ những “thánh luật” quy định việc thần phục lẫn nhau giữa các thủ lĩnh,
đã đẻ ra ngay từ thời xa xưa ở Ấn Độ những xu hướng quân phiệt. Điều này đã
được ghi trong Arthasastra:“Vị vua yếu cần phải giữ hoà bình, còn vị vua mạnh thì
phải tiến hành chiến tranh”.
14
Theo các nhà nghiên cứu, chính những xu hướng

tiểu vương. Cũng các bia kí, đôi chỗ, còn có nói tới một vài tổ chức hành chính
của Chămpa, như đô thị, quận…
Từ những tư liệu vừa dẫn ra ở trên, chúng ta thấy rõ một điều là: Chămpa
đã mô phỏng một cách khá trung thành những quy tắc tổ chức chính trị của Ấn Độ
như chia đất nước thành các quận, huyện, làng mạc, đô thị, như việc sử dụng một
loạt những chức quan phụ trách những công việc khác nhau: thượng thư, tư lệnh
quân đội, quan tư pháp, tiểu vương, lãnh chúa, quan phụ trách hương hoả của
vua… Hơn thế nữa, tên gọi các chức quan hay các đơn vị hành chính đều có
nguồn gốc từ các thuật ngữ Ấn Độ như: đại vương (maharaja), tư lệnh (agras-
enapati), tướng (senapati), đại tướng (mahà senapati), thượng thư (amatya), đô thị
(pura hay nagara)…
Những bằng chứng khảo cổ học cũng như dân tộc học cho biết, khi người
Ấn tới, những cư dân Chămpa đã sống trong một xã hội tiền nhà nước, nghĩa là
trong xã hội đã có một tầng lớp tù trưởng lớn hay những thủ lĩnh lớn. Những
người Ấn chắc hẳn đã bén rễ vào tầng lớp xã hội bên trên này ở giai đoạn đầu khi
họ tới đây. Một điều tự nhiên là, các thủ lĩnh hay các tù trưởng của Chămpa đã rất
nhanh chóng tiếp nhận những cách tổ chức xã hội và chính quyền của Ấn Độ để
tạo lập ra những quốc gia, những nhà nước lớn.
Do đó, có thể nói, “tính vương quyền hay mục đích thiết lập và củng cố
vương quyền là đặc trưng đầu tiên, nổi bật nhất của quá trình bành trướng và du
nhập văn hoá Ấn Độ vào Chămpa cũng như vào các quốc gia cổ đại khác ở Đông
– Nam Á”.
15
Các đại diện tầng lớp trên của Chămpa đã tiếp nhận, thông qua người
Ấn, hầu như tất cả những thành tựu văn hoá của Ấn Độ là để phục vụ cho việc
thiết lập và củng cố vương quyền theo mô hình Ấn Độ. Không phải ngẫu nhiên mà
hầu như tất cả những di sản văn hoá Chămpa hiện còn đều mang tính vương quyền
và phục vụ vương quyền. Đặc trưng này không chỉ riêng cho Chămpa mà còn
chung cho các quốc gia cổ đại khác ở Đông – Nam Á. Điều này đã lý giải vì sao
khi các vương triều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ sụp đổ thì những ảnh hưởng Ấn

2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo
Bằng chứng cho thấy niên đại sớm nhất mà Phật giáo được truyền đến
Chămpa là tấm bia kí Võ Cạnh viết bằng chữ Phạn có niên đại thế kỉ III – V được
tìm thấy gần Kauthara (Nha Trang). Tấm bia cho biết về một triều vua đầu của
Chămpa mà người sáng lập có tôn hiệu là Sri Mara. Bia còn nói tới ảnh hưởng rất
rõ của văn hoá Ấn Độ, của các tăng lữ Ấn Độ đối với tôn giáo và xã hội của
vương quốc này. Chỉ qua vài dòng chữ Phạn viết theo kiểu chữ Amaravati như
“Lokasỳ- aya gatàgati” (Sự chết hoặc sự phục sinh của thế giới này) hay “Prajànàn
karuna” (Từ bi trắc ẩn đối với chúng sinh), các nhà kho học cho rằng nội dung tấm
bia toát lên tư tưởng của Phật giáo. Với tấm bia Võ Cạnh, chúng ta có một “bằng
chứng vật chất đầu tiên và cũng là cổ nhất ở Đông Nam Á nói về Phật giáo ở khu
vực này”.
16
Dù tôn giáo chính của Chămpa là Siva giáo, tuy nhiên, trong những thời
điểm nhất định trong lịch sử đất nước, dấu ấn Phật giáo vẫn rất quan trọng. Biểu
trưng rõ nét là các tượng Phật. Khi nói đến điêu khắc Chămpa thời Phật giáo hưng
thịnh không thể không nói đến nghệ thuật Đồng Dương. Không phải ngẫu nhiên
mà danh xưng “Phật viện Đồng Dương” được dùng để đặt tên cho cả một phong
cách nghệ thuật Chămpa ở một giai đoạn nhất định. Các hiện vật điêu khắc và
trang trí Đồng Dương thật phong phú và đa dạng: Tượng Phật, tượng Bồ Tát,
tượng Môn thần (Dvarapala), tượng người lễ bái. Ngoài ra còn có những phù điêu
tuyệt đẹp trang trí cầu kì. Chất liệu bằng đồng, đá, bằng đất nung bền chặt. Trong
nền điêu khắc Chămpa, các nghệ phẩm thuộc phong cách Đồng Dương có những
sắc thái đặc biệt: cung mày nối liền nhau gờ lên và lượn sóng, môi dày có viền,
mũi rộng và dẹt… Đẹp nhất, độc đáo nhất trong phong cách Đồng Dương là các
môn thần. Các vị thần này được tạc trong nhiều tư thế: Đứng trên khuôn mặt động

Trích đoạn Sự ảnh hưởng đến nghệ thuật kiến trúc Sự ảnh hưởng đến nghệ thuật điêu khắc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status