LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Hương
Giang ” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi. Các số liệu được đưa ra
trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2013
TÁC GIẢ
Hoàng Ngọc Tuấn LỜI CẢM ƠN
Hình 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức 34
Hình 2.2 : Quá trình lập hồ sơ dự thầu 39
Hình 2.3 : Quá trình xem xét và ký hợp đồng 43
Hình 2.4 : Các bước triển khai thi công xây lắp và quản lý công trình 45
Hình 3. 1 : Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty 82
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPTV Cổ phần tư vấn
ĐT Đầu tư
XD Xây dựng
QĐ Quyết định
BQP Bộ Quốc Phòng
HĐQT Hội đồng quản trị
CP Chính Phủ
1.1.3. Lợi thế cạnh tranh 3
1.1.4. Vị thế cạnh tranh 3
1.1.5. Khả năng cạnh tranh 4
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu
thầu xây lắp 7
1.2.1. Một số vấn đề về đấu thầu 7
1.2.2. Cạnh tranh trong đấu thầu 12
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu
xây lắp 17
CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY LẮP VÀ PHÂN
TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG HƯƠNG GIANG
31
2.1. Giới thiệu về Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Hương Giang 31
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 31
2.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý 34
2.1.3. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh 37
2.1.4. Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
trong 3 năm gần đây 38
2.2.1. Quá trình đấu thầu xây lắp 38
2.2.2. Kết quả đấu thầu xây lắp 50
2.3. Phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của công ty 57
2.3.1. Phân tích đánh giá khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của công ty theo
phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp xây lắp. 57
2.3.2. Phân tích, đánh giá các nhân tố nội tại của công ty 60
2.3.3. Phân tích, dánh giá các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh
tranh trong đấu thầu của công ty 73
2.3.4. Tổng hợp kết quả phân tích, đánh giá về khả năng cạnh tranh trong đấu
thầu xây lắp của công ty 77
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá là một xu thế được hình thành từ lâu, hiện đang phát triển mạnh
và lan rộng ra hầu hết các nước trên toàn thế giới. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế tạo
cơ hội để các quốc gia có thể tận dụng và phát huy lợi thế so sánh của mình, thúc
đẩy, duy trì tăng trưởng bền vững, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội nhờ việc phân
bổ các nguồn lực có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cần nhận thức rằng toàn cầu hoá là
quá trình phân chia lại thị trường thế giới bằng biện pháp kinh tế. Mức độ cạnh
tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài ngày càng gay gắt do thực hiện
những cam kết về mở cửa thị trường. Chính vì vậy, khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp sẽ là yếu tố quan trọng nhất quyết định một quốc gia sẽ là “người hưởng lợi”
hay “kẻ chịu thiệt” trong quá trình toàn cầu hoá. Như vậy thì nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập
kinh tế khu vực và trên thế giới, và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
là một nội dung cần được quan tâm. Nếu không làm được điều này, doanh nghiệp
không chỉ thất bại trên “sân khách” mà còn gánh chịu hậu quả tương tự trên chính
“sân nhà”.
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, ngành xây dựng đã có những bước tiến đáng kể
theo hướng hiện đại. Không chỉ trong lĩnh vực xây dựng công trình, vật liệu xây
dựng, kiến trúc và quy hoạch xây dựng mà còn cả những lĩnh vực khác: phát triển
đô thị và nhà ở, năng lực xây dựng công trình có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu xây dựng. Tuy đã lớn mạnh về nhiều mặt, nhưng nhìn chung khả
doanh nghiệp.
- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các
phương pháp: điều tra, khảo sát số liệu, phân tích - tổng hợp, tham khảo ý kiến
chuyên gia.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây
lắp của doanh nghiệp xây dựng.
- Phạm vi nghiên cứu là khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công
ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Hương Giang.
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Dựa trên hệ thống hoá lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói
chung và khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng nói riêng
và trên cơ sở phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình đấu thầu
của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Hương Giang để tìm ra giải pháp
nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của công ty.
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trong
đấu thầu xây lắp của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Hương Giang.
tiện lợi.
Cạnh tranh của các doanh nghiệp là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên
thị trường nhằm tạo lợi thế cho mình và thu được nhiều lợi nhuận hơn, là sự tranh
giành về lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường, bao gồm những người mua và
những người bán.
* Phân loại cạnh tranh:
- Phân loại theo chủ thể tham gia thị trường:
+ Cạnh tranh giữa người bán với người bán: đây là sự cạnh tranh giữa
2
những người cùng sản xuất hay cùng bán một loại hàng hoá, dịch vụ hay loại
hàng hoá thay thế. Những người bán sẽ cạnh tranh nhau về chất lượng sản phẩm,
giá cả, phương thức cung ứng hay chế độ khuyến mãi và chế độ hậu mãi.
+ Cạnh tranh giữa người mua với người mua: trường hợp này ít khi xảy ra hay
chỉ xảy ra khi sản phẩm họ cần mua khan hiếm.
+ Cạnh tranh giữa người bán với người mua: thực chất đó là sự thoả thuận về
giá cả sản phẩm hay dịch vụ nào đó.
- Phân loại theo tính chất cạnh tranh:
+ Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán, các sản
phẩm của những người bán là đồng nhất hay hoàn toàn giống nhau.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán có
những sản phẩm không đồng nhất với nhau.
+ Cạnh tranh độc quyền: trên thị trường chỉ có một hoặc một số rất ít người
bán một loại sản phẩm dịch vụ nào đó nên người bán tự quyết định giá của sản
phẩm hay dịch cụ đó.
- Phân loại theo thủ đoạn cạnh tranh:
+ Cạnh tranh lành mạnh: doanh nghiệp sử dụng các giải pháp đúng với quy định
của pháp luật nhằm đảm bảo tính công bằng trong môi trường kinh doanh.
+ Cạnh tranh không lành mạnh: doanh nghiệp sử dụng các giải pháp, những
thủ đoạn trái với các quy định của pháp luật, trái với đạo đức trong kinh doanh
qua chỉ tiêu thị phần tuyệt đối và tương đối.
Thị phần tuyệt đối =
Lượng hàng hóa ( hoặc doanh thu) tiêu
thụ của doanh nghiệp
x100% (Công thức1.1)
Tổng lượng hàng hóa ( hoặc doanh thu)
tiêu thụ trên thị trường
Thị phần tương đối =
Thị phần tuyệt đối
của doanh nghiệp
x 100% (Công thức1.2)
Thị phần tuyệt đối của đối thủ cạnh
tranh lớn nhất ( hoặc trực tiếp nhất)
Vị thế cạnh tranh giống như một bức ảnh chụp doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh ở một thời điểm cụ thể. Do đó vị thế cạnh tranh mang bản chất “tĩnh”
4
1.1.5. Khả năng cạnh tranh
1.1.5.1. Các quan niệm về khả năng cạnh tranh
Có nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp :
- Quan niệm tương đối phổ biến: khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp chính
là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi
trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước.
- Quan niệm khác cho rằng: khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện
Doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả thì năng suất càng cao, chi phí đầu vào
càng thấp nên doanh nghiệp sẽ có lợi thế hơn so với doanh nghiệp khác.
c) Chất lượng của sản phẩm và các quá trình sản xuất
Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng danh tiếng của sản phẩm tạo uy tín
đối với khách hàng. Nâng cao chất lượng quá trình sản xuất sẽ giảm được thời gian,
giảm lãng phí do sản xuất ra những sản phẩm hỏng.
d) Khả năng đổi mới của doanh nghiệp
Đổi mới bao gồm cải tiến và sáng tạo mới sản phẩm, quá trình sản xuất, cơ cấu
tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Đổi mới thể hiện sự linh hoạt và năng động thích ứng với các điều kiện của môi
trường kinh doanh.
Đổi mới có thể được coi là yếu tố quan trọng nhất tạo nên lợi thế cạnh tranh
do đó tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Nếu đổi mới thành công sẽ tạo
nên tính độc đáo của doanh nghiệp mà doanh nghiệp khác không có được.
e) Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Khả năng cung cấp cho khách hàng đúng hàng hoá, dịch vụ mà họ cần tại
thời điểm mà họ yêu cầu.Cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chất lượng tốt,
tính năng ưu việt hơn những sản phẩm còn lại trên thị trường được coi là phục vụ
tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
- Sự hoàn hảo của dịch vụ trước, trong và sau bán hàng ngày càng trở thành
nhân tố quan trọng thu hút sự trở lại của khách hàng, tăng uy tín của doanh nghiệp,
nuôi dưỡng sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp
f) Khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phục vụ
kinh
doanh
sẽ bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh.
h) Uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp và của sản phẩm7
Chữ “tín” trong kinh doanh ngày nay ngày càng có ý nghĩa quan trọng vì nó
giúp giảm thiểu các chi phí giao dịch, nuôi dưỡng các mối quan hệ bền vững giữa
doanh nghiệp với các đối tác. Nhờ có sự tín nhiệm với doanh nghiệp, với sản phẩm
của doanh nghiệp, khách hàng sẽ quay trở lại mua hàng.
Một vấn đề rất quan trọng liên quan đến nâng cao uy tín của doanh nghiệp là
khả năng doanh nghiệp phát triển thành công các thương hiệu mạnh. Nếu sản phẩm
của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích khách hàng nhanh chóng đi
đến quyết định mua hàng, nhờ đó mà thị phần của doanh nghiệp gia tăng. Nhưng
đánh giá thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ ở số lượng các thượng hiệu mạnh
hiện doanh nghiệp đang có mà quan trọng là phải đánh giá được khả năng phát triển
của doanh nghiệp.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu
thầu xây lắp
1.2.1. Một số vấn đề về đấu thầu
1.2.1.1. Mục đích, ý nghĩa của đấu thầu
* Đối với Nhà nước:
- Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đầu tư
xây dựng, hạn chế và loại trừ được các t́nh trạng như: thất thoát, lãng phí vốn đầu tư
và các hiện tượng tiêu cực khác trong xây dựng cơ bản.
- Đấu thầu xây lắp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành
xây lắp.
- Đấu thầu xây lắp là động cơ, điều kiện cho các doanh nghiệp trong ngành
xây dựng cơ bản cạnh tranh lành mạnh với nhau trong cơ chế thị trường, thúc đẩy
luật về đấu thầu.
- Nhà thầu là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định:
+ Tư cách hợp lệ của nhà thầu là tổ chức
Nhà thầu là tổ chức có tư cách hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau đây:
~ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư được cấp theo
quy định của pháp luật hoặc có quyết định thành lập đối với các tổ chức không có
đăng ký kinh doanh trong trường hợp là nhà thầu trong nước; có đăng ký hoạt động
do cơ quan có thẩm quyền của nước mà nhà thầu mang quốc tịch cấp trong trường
9
hợp là nhà thầu nước ngoài;
~ Hạch toán kinh tế độc lập;
~ Không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lành
mạnh, đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả;
đang trong quá trình giải thể.
+ Tư cách hợp lệ của nhà thầu là cá nhân
Nhà thầu là cá nhân có tư cách hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau đây:
~ Năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật của nước mà cá
nhân đó là công dân;
~ Đăng ký hoạt động hợp pháp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp do cơ
quan có thẩm quyền cấp;
~ Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu, đứng
tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn (sau đây gọi là nhà
thầu tham gia đấu thầu). Nhà thầu tham gia đấu thầu một cách độc lập gọi là nhà
thầu độc lập. Nhà thầu cùng với một hoặc nhiều nhà thầu khác tham gia đấu thầu
trong một đơn dự thầu thì gọi là nhà thầu liên danh. Nhà thầu là nhà thầu xây dựng
trong đấu thầu xây lắp, là nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm hang hoá, là nhà tư
vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác
- Giá gói thầu là giá trị được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng mức
đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành.
- Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự
thầu.Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá.
- Giá đề nghị trúng thầu là giá do bên mời thầu đề nghị trên cơ sở giá dự thầu
của nhà thầu được lựa chọn trúng thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh các sai lệch theo yêu
cầu của hồ sơ mời thầu.
- Giá trúng thầu là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm cơ
sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng.
- Trình tự thực hiện đấu thầu gồm các bước: chuẩn bị đấu thầu, tổ chức
đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu,
11
thông báo kết quả đấu thầu, thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp
đồng.
1.2.1.3. Các hình thức lựa chọn nhà thầu
a. Đấu thầu rộng rãi
Đối với đấu thầu rộng rãi, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự. Trước
khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều
kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông báo trên
tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước và của Bộ, ngành
địa phương.
Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham
gia đấu thầu. Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn
chế sự tham gia của các nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà
thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.
Đấu thầu rộng rãi là hình thức áp dụng chủ yếu trong đấu thầu.
mở để xem xét, thương thảo.
- Đấu thầu hai giai đoạn: được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi,
đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ
thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:
+ Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu nộp
đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao đổi với
từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai.
+ Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã tham
gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm : đề xuất về kỹ
thuật; đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu.
1.2.2. Cạnh tranh trong đấu thầu
1.2.2.1. Cạnh tranh trong đấu thầu
Qua các tài liệu tham khảo và tình hình thực tế, luận văn xin đưa ra hai cách
tiếp cận như sau :
* Cạnh tranh trong đấu thầu theo nghĩa hẹp: Cạnh tranh trong đấu thầu là quá
trình các doanh nghiệp xây dựng ganh đua nhau đưa ra các giải pháp về kỹ thuật,
13
tiến độ thi công và khả năng tài chính để xây dựng công trình thoả mãn một cách tối
ưu các yêu cầu của bên mời thầu. Như vậy, theo cách hiểu này sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp xây dựng chính là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp nhằm mục
đích chiến thắng trong các cuộc đấu thầu.Với khái niệm này sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp chỉ thu hẹp trong sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng tham gia
một cuộc đấu thầu mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
suốt quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia đấu thầu nhiều công trình khác nhau.
Vì vậy, nếu chỉ dựa theo quan niệm này thì việc xác định chiến lược cạnh tranh của
sẽ phiến diện và không đầy đủ.
* Cạnh tranh trong đấu thầu theo nghĩa rộng: Cạnh tranh trong đấu thầu là sự
đấu tranh gay gắt giữa các nhà thầu kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm thông tin, đưa ra các
+ Chỉ cạnh tranh đấu thầu xây lắp công trình hay đấu thầu sản xuất các sản
phẩm khác
+ Trong phạm vi đấu thầu các công trình xây dựng chỉ đấu thầu các công trình dân
dụng và công nghiệp hay đấu thầu cả các công trình giao thông, thuỷ lợi
+ Cạnh tranh trong đấu thầu trong phạm vi một vùng lãnh thổ hay trong phạm
vi cả nước.
+ Cạnh tranh đấu thầu các công trình xây dựng thuộc một loại dự án(nhóm
A,B,C) hay đấu thầu xây lắp công trình của tất cả các loại dự án.
Cạnh tranh trong đấu thầu theo chiều rộng đòi hỏi doanh nghiệp phải :
+ Đa dạng hoá năng lực sản xuất để có thể đấu thầu xây lắp nhiều loại công
trình cũng như sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khác.
+ Nghiên cứu thị trường và phân đoạn thị trường để xác định các thị trường
mục tiêu.
+ Cân đối năng lực kỹ thuật, công nghệ, tài chính và nhân lực để lựa chọn và
quyết định phạm vi đấu thầu phù hợp.
- Cạnh tranh trong đấu thầu theo chiều sâu: tức là cạnh tranh bằng hàm lượng chất
xám của doanh nghiệp trong đấu thầu, bao gồm các vấn đề chính sau :
+ Khả năng áp dụng các công nghệ tiến tiến trong sản xuất thi công của doanh
nghiệp.
+ Năng lực quản lý sản xuất thi công đảm bảo chất lượng công trình, đảm bảo
tiến độ thời gian và tiết kiệm chi phí
15
+ Mức độ nổi tiếng của thương hiệu doanh nghiệp.
Cạnh tranh trong đấu thầu theo chiều sâu đòi hỏi doanh nghiệp phải:
+ Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9000
+ Phải có chiến lược đầu tư và phát triển nguồn nhân lực, đổi mới máy móc
thiết bị công nghệ thi công.