LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Phạm Ngọc Khánh,
người đã dành nhiều tâm huyết, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tác giả trong
suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Công ty cổ phần tư vấn xây dựng và
chuyển giao công nghệ Thăng Long 12 đã tạo điều kiện cho tác giả về thời
gian, tài liệu để tham gia khoá học và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến sự quan tâm và giúp đỡ của phòng
Đào tạo Đại học và Sau Đại học, Khoa Công trình trường Đại học thuỷ lợi,
cùng các thầy, cô giáo trường Đại học Thủy lợi đã tạo điều kiện cho tác giả có
cơ hội được học tập, trau dồi nâng cao kiến thức trong suốt thời gian vừa qua.
Sau cùng là cảm ơn các bạn đồng nghiệp và các thành viên trong gia
đình đã có những đóng góp quý báu, động viên về vật chất và tinh thần để tác
giả hoàn thành luận văn này.
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến
của các thầy cô giáo, các Quý vị quan tâm và bạn bè đồng nghiệp.
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành Xây dựng công trình thủy với
đề tài: “Đánh giá và đề xuất giải pháp lựa chọn mặt cắt Đê sông Hồng có
kết hợp với đường giao thông cấp III vùng đồng bằng” được hoàn thành
tại Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi.
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả Khương Đình Vực LỜI CAM ĐOAN
32T1.3.3. Hệ số mái và cơ đê:32T 30
32T1.4. Kết luận chung và những vấn đề đặt ra cần phải đánh giá và đề xuất:32T 31
32TCHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP LỰA CHỌN MẶT CẮT HỢP LÝ ĐÊ SÔNG HỒNG CÓ KẾT
HỢP VỚI GIAO THÔNG CẤP III VÙNG ĐỒNG BẰNG32T 32
32T2.1. Đặt vấn đề:32T 32
32T2.2. Sử dụng lý thuyết phương pháp phần tử hữu hạn để tính toán ổn định, biến dạng
của Đê [13]:32T 33 32T2.2.1. Sơ lược về lý thuyết của phương pháp phần tử hữu hạn:32T 33
32T2.2.2. Lựa chọn phần mềm tính toán:32T 36
32T2.2.3. Giới thiệu phần mềm Geo-Slope:32T 37
32TCHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG TÍNH TOÁN CHO ĐÊ SÔNG HỒNG ĐOẠN QUA ĐỊA
PHẬN TỈNH HÀ NAM32T 42
32T3.1. Giới thiệu tổng quan đê sông Hồng tỉnh Hà Nam [15]:32T 42
32T3.1.1. Cao trình mặt đê:32T 43
32T3.1.2. Mặt cắt ngang đê:32T 43
32T3.1.3. Thân đê, nền đê:32T 44
32T3.1.4. Hiện trạng tuyến đê theo từng đoạn:32T 44
32T3.1.5. Các công trình trên đê:32T 48
32T3.1.6. Hiện trạng các công trình kè bảo vệ đê:32T 49
32T3.1.7. Đánh giá hiện trạng đê sông Hồng tỉnh Hà Nam:32T 49
32T3.2. Tính toán xác định các kích thước mặt cắt đê có kết hợp với giao thông cấp III
vùng đồng bằng:32T 50
32T3.2.1. Lựa chọn đoạn đê để tính toán:32T 50
32T3.2.2. Tính toán xác định cao trình đỉnh Đê:32T 50
32T3.2.3. Bề rộng mặt và nền Đê:32T 53
32T3.2.4. Hệ số mái phía sông, đồng, cơ đê:32T 53
32T3.3. Tính toán ổn định Đê:32T 53
32T3.3.1. Mô hình hóa bài toán và các mặt cắt tính toán:32T 53
32THình 1-2: Sự cố mất ổn định đê do xói lở chân đê32T 22
32THình 1-3: Sự cố trượt mái đê do đê ở trên nền đất yếu32T 22
32THình 1-4: Sự cố đê ở vùng sông cổ32T 23
32THình 1-5: Sự đâm xuyên thủy lực qua tầng đất cứng32T 24
32THình 1-6: Sự cố mất ổn định đê ở vùng có công trình qua đê32T 24
32THình 1-7: Sự nứt gãy nền và thân đê32T 25
32THình 1-8: Sự cố thấm ở chân mái hạ lưu32T 25
32THình 1-9: Sự cố thấm do khuyết tật trong thân đê32T 26
32THình 1-10: Sự cố ở vùng tiếp giáp khi tôn cao32T 26
32THình 2-1: Các dạng phần tử thường sử dụng trong PTHH32T 34
32THình 3-1: Hiện trạng mặt đê trải đá dăm cấp phối32T 45
32THình 3-2: Hiện trạng mặt đê bê tông nhựa asphalt32T 45
32THình 3-3: Hiện trạng mặt đê trải bê tông xi măng32T 46
32THình 3-4: Mặt cắt địa chất tại vị trí K136+760 đê hữu Hồng32T 54
32THình 3-5: Trường hợp 132T 54
32THình 3-6: Bình đồ khu vực nghiên cứu32T 56
32THình 3-7: Mặt cắt ngang nghiên cứu tại K136+76032T 57
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
32TBảng 1-1: Bảng thống kê chiều dài đê sông Hồng theo các tỉnh32T 12
32TBảng 1-2: Bảng thống kê một số trận vỡ đê lớn32T 27
32TBảng 3-1: Các trường hợp tính toán ứng với các vị trí mở rộng mặt đê32T 54
32TBảng 3-2: Tổng hợp các chi tiêu cơ lý của vật liệu32T 58
32TBảng 3-3: Thống kế các mực nước tính toán32T 61
32TBảng 3-4: Các chỉ tiêu chính về đất đắp đê32T 87
32TBảng 3-5: Kết quả ổn định trượt mái dốc của các trường hợp tính toán ứng với các trường
hợp vị trí mở rộng mặt đê32T 88
32TBảng 3-6: Kết quả phân tích ứng suất biến dạng các trường hợp tính toán ứng với các vị trí
- 2 -
Chính phủ, một số vấn đề cấp bách cần giải quyết mà quy chuẩn hiện hành
chưa có, hoặc chưa rõ gồm:
1) Việc xác định mặt cắt ngang đê sông phù hợp với điều kiện từng
vùng còn nhiều hạn chế cả về cơ sở khoa học và thực tiễn.
2) Thiếu cơ sở khoa học để xác định:
- Tuyến đê xây dựng mới và điều chỉnh cục bộ tuyến đê hiện có theo
hướng tăng cường ổn định, kết hợp đa mục tiêu và phát triển bền vững.
- Đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp đê trên nền đất yếu phù hợp
với điều kiện tự nhiên từng vùng.
Một trong những vấn đề lớn đó là vật liệu để đắp đê khi mà đê cần mở
rộng để kết hợp với giao thông, đảm bảo khả năng chịu tải cho giao thông,
nhưng cũng cần đảm bảo khả năng chống thấm nhất là đoạn đê cần điều
chỉnh cục bộ tuyến và trên nền đê yếu. Hình 1: Đê hữu Hồng có khá ít phương tiện đi lại-Tắc đường đầu đường Pháp Vân
sông Hồng
QL 1A
Đê hữu Hồng
5-6m - 3 -
Hình 2: Nhiều đoạn đê sông Hồng mặt đê nhỏ và xuống cấp nghiêm trọng
Hiện nay, phát triển kinh tế là một trong những chiến lược quan trọng
của Đảng và Nhà nước. Trong đó thì xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy
kế mở rộng đê; Xử lý nền đê cũ khi tải trọng gia tăng; Vấn đề lún lệch giữa
hai phần đê mới và đê cũ; Sử dụng vật liệu gia cố nền để đảm bảo tính thấm
và khả năng chịu tải; Nghiên cứu vật liệu làm móng đường để giảm chiều dày
lớp móng; Phương án đường đồng cốt hay lệch cốt; Tất cả các vấn đề đó
dẫn đến lãng phí, không phù hợp với từng đoạn đê có các điều kiện thực tế
khác nhau. Vì vậy với đề tài “Đánh giá và đề xuất giải pháp lựa chọn mặt
cắt Đê sông Hồng có kết hợp với đường giao thông cấp III vùng đồng
bằng” tác giả sẽ giải quyết được các nhược điểm vừa nêu trên.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu:
1- Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay trong
lĩnh vực thủy lợi đặc biệt về đê điều và giao thông vùng đồng bằng.
2- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu thực đo.
3- Phương pháp phần tử hữu hạn.
4- Phương pháp so sánh.
5- Phương pháp hệ thống điều tra thực địa.
- 5 -
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về đê sông Hồng:
1.1.1. Lịch sử đê sông Hồng:
Sông Hồng bắt nguồn từ dãy núi Nhụy Sơn (cao 1776m) ở gần hồ Đại
Lý thuộc huyện Nhị Đô, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng Tây
Bắc – Đông Nam chảy vào Việt Nam ở cửa khẩu Hà Khẩu (Lào Cai) qua 7
tỉnh đổ ra biển bằng 10 cửa, cửa chính là cửa Ba Lạt (Nam Định).
Hình 1-1: Bản đồ lưu vực sông Hồng - Thái Bình
Trước khi người Pháp đặt tên cho Sông Hồng, nó đã có rất nhiều tên
Sau hiệp định Quý Mùi (1883) và hiệp ước Patanot (1885) nước ta
hoàn toàn chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp.
Ngay từ những ngày đầu của nền đô hộ, Chính quyền bảo hộ Pháp đã
phải đối mặt với nạn lũ lụt Bắc Kỳ. Đặc biệt sau trận lũ năm 1888 đã gây - 7 -
thiệt hại nặng nề cho đồng bằng sông Hồng và sông Đuống thuộc địa hạt
tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 28/6/1895 Toàn quyền Đông Dương Rutso (Rousseau) ra nghị
định thành lập Ủy ban đê điều tối cao (Commission Superrieureder digues) tại
Hà Nội. Nhiệm vụ nghiên cứu tổng thể mạng lưới đê điều hiện có ở Bắc Kỳ.
Đệ trình lên toàn quyền Đông Dương những dự án có liên quan đến các quy
chế kỹ thuật quản lý đê điều. Ủy ban này được nhóm họp vào các năm 1896,
1904, 1905, 1906, 1915, 1926.
Trong giai đoạn từ 1885 đến 1915 chính quyền bảo hộ Pháp đã đắp
thêm một số vùng để bảo vệ những vùng đô thị đông đúc và nhất là có nhiều
người Pháp và cơ sở kinh tế của Pháp. Đó là hệ thống đê La Thành bao quanh
Hà Nội, hệ thống đê bao quanh thành phố Nam Định. Ngoài ra đắp thêm hai
vùng lớn đáng kể ở tả ngạn sông Hồng. Từ Vân Thượng với triền cao vùng
Phúc Yên bảo vệ vùng Bắc Đuống. Vùng nữa qua tỉnh lộ 196, qua Lực Điền
(Hải Hưng) để bảo vệ phần lớn tỉnh Hưng Yên.
Trong những năm từ 1884 đến 1915 (theo Gôchie) khối lượng đắp đê
toàn Bắc Kỳ khoảng 12 triệu m
P
3
P.
Những dự án về đắp đê, thoát lũ trong thời kỳ thuộc Pháp đều với mục
đích bảo vệ Hà Nội khỏi bị ngập lụt. Nhờ vậy lũ lịch sử 1945, 52 đoạn đê
trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ bị vỡ nhưng đê Hà Nội vẫn đứng vững.
Ngoài đê chính, huyện Thanh Trì đắp tuyến đê bối bao gồm 7 xã:
Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú, Yên Sở, Yên Mỹ, Duyên Hà, Vạn Phúc. Với
diện tích 2000ha, dài 14,5km, mặt rộng từ 3m đến 4m, cao trung bình 2m,
khối lượng trên 17 vạn mét khối. - 9 -
Từ những năm 1958 đến 1961 toàn thành phố đã huy động lực lượng
đắp đê khối lượng 1.480.000m
P
3
P, tu bổ 29.000mP
3
P đá các loại, ước tính trên 1,4
triệu ngày công.
Sau những năm 1961 thành phố Hà Nội mở rộng, hệ thống đê điều tăng
lên 110 km, 16 kè, 38 cống các loại. Công tác xây dựng và củng cố đê vẫn
được tiến hành đều đặn từng năm.
Gia Lâm đắp tuyến đê sông Đuống như đoạn Nha Thôn, Hàn Lạc,
Đổng Viên, kè Sen Hồ, Gia Thượng. Thanh Trì đắp đoạn Thanh Lương. Từ
Liêm tu bổ đê Nhật Tân, Phú Gia. Đông Anh kè Xuân Canh, nhà máy gạch
Sau nhiều năm lũ nhỏ, năm 1964 lũ lên vượt báo động 3 (+11.70). Đê
Hà Nội bộc lộ rõ nhiều khuyết tật, vòi đục ở Nha Thôn, bãi sủi ở hạ lưu kè
Sen Hồ, hạ lưu kè Đổng Viên (Gia Lâm), các vòi nước ở hạ lưu đê Nhật Tân,
Phú Thượng, Nghi Tàm (Từ Liêm), đê Bùng (Thanh Trì). Thành phố đã phải
xử lý ngay mùa lũ và sau khi lũ rút đã kịp thời củng cố đoạn đê này.
Từ Liêm củng cố toàn quyền từ Thượng Cát đến Nghi Tàm dài 12,5km,
với khối lượng ngót 10 vạn mét khối, di chuyển 250 hộ dân ven đê, huy động
mỗi ngày 2000 dân công.
Từ năm 1961-1965 toàn thành phố đã đắp trên 2,1 triệu mét khối đất
Đài phát thanh Việt Nam và khu công nghiệp Thượng Đình.
Từ năm 1966 đến 1968 huyện Từ Liêm đắp đê chính và đê bối, khắc
phục hậu quả 3 vị trí bị ném bom. Khối lượng tới gần 30 vạn mét khối.
Huyện Thanh Trì mặt mở rộng từ 5-6m, xóa trạch đoạn Vạn Phúc -
Đông Mỹ, đắp phản áp các đoạn Lĩnh Nam, Yên Sở, Ngũ Hiệp.
Huyện Gia Lâm và Đông Anh cũng tập trung nâng cao trình mặt đê,
xóa trạch củng cố những vị trí ném bom.
Trên 30 vị trí được tu bổ như Bát Tràng, Đa Tốn, Đông Dư, Cự Khối,
Thạch Bàn, thị trấn Gia Lâm, Thanh Am, Hội Xá, Hoàng Long, Kim Sơn, Lệ
Chi, Yên Thường, Yên Viên, Phù Đổng, Trung Màu
Huyện Đông Anh đắp đoạn Du Ngoại, Sáp Mai, kè Xuân Trạch, Hào
Bối, Mai Lâm, Vĩnh Ngọc, Đông Trù và đắp đê bối Võng La - Hải Bối.
Gia Lâm còn đắp đê bao Quán Tình, Việt Hưng, ngã ba thị trấn Yên
Viên, nhà máy gạch Cầu Đuống với khối lượng 10 vạn mét khối.
Hệ thống đê điều phải đối phó với lũ lớn liên tiếp những năm 1968,
1969, 1970, đặc biệt là năm 1971 đã diễn ra lũ lịch sử.
Năm 1969 (+13.20), năm 1970 (+12.05), năm 1971 (+14.13), cao hơn
mực nước lũ 1945 (+12.90). - 11 -
1.1.1.6. Giai đoạn 1975 đến nay:
Thành phố Hà Nội được mở rộng thêm các huyện ngoại thành. Đê Hà
Nội cũng được kéo dài trên 356km đê các loại, trong đó trên 200km sông
Hồng, sông Đuống có 40kè và trên 300 cống dưới đê. Khối lượng tu sửa lớn
thuộc các huyện mới sát nhập.
Đặc biệt năm 1983 khu vực Phú Xá, Chương Dương bị lở bãi suốt
chiều dài 800m, có nguy cơ uy hiếp hai quận Ba Đình và Hoàn Kiếm. Thành
phố đã cho xây dựng kè hộ bờ Phú Xá - Chương Dương dài gần 1000m, kè đá
từ chân được thả rồng đá nhiều lớp. Vùng xói sâu được thả cụm cây xa bờ.
bảo +13.40m tại Hà Nội. Thu nhỏ mặt trạch bằng tường chắn đá xây. Mở rộng
mặt đê, xây dựng hệ thống đo áp trên đê
1.1.2. Hiện trạng, đặc điểm đê sông Hồng:
Hiện tại đê sông Hồng tính cả 2 bên bờ có chiều dài khoảng 420km,
phân bố theo các tỉnh như sau:
Bảng 1-1: Bảng thống kê chiều dài đê sông Hồng theo các tỉnh
TT Tỉnh
Bờ hữu
Bờ tả
Tổng
Từ Km
Đến
Km
Dài
(km)
Từ Km
Đến
Km
Dài
(km)
1
Vĩnh Phúc
0
48+165
48,165
48,165
2
64,081
64,081
6
Thái Bình
133+050
200+000
67,38
67,38
Tổng
420,813
(Nguồn: Tổng cục Thủy lợi)
1.1.2.1. Đặc điểm địa hình – địa mạo:
Vùng tuyến đê sông Hồng thuộc kiểu địa hình tích tụ đồng bằng, được
thành tạo bởi các trầm tích sông, có bề mặt khá bằng phẳng, cao độ 4m -12m,
trung bình 6m - 7m, thấp dần theo chiều dòng chảy của sông, cao nhất ở phía - 13 -
1.1.2.2.1. Trầm tích Đệ Tứ khu vực đê:
Theo kết quả nghiên cứu của Đoàn địa chất Hà Nội năm 1999, trầm
tích Đệ tứ khu vực đê bao gồm các phân vị địa tầng từ dưới lên như sau:
+ Thống Pleistoxen dưới, hệ tầng Lệ Chi (aQ
R
1
Rlc);
+ Thống Pleistoxen giữa - trên, hệ tầng Hà Nội (a, apQ
R
II – III
RP
1
Phn);
+ Thống Pleistoxen trên, hệ tầng Vĩnh Phúc (a,lQ
R
m
RP
2
Pvp);
+ Thống Holoxen, bậc dưới- giữa hệ tầng Hải Hưng (Q
R
IV
RP
1-2
Phh):
- Phụ hệ tầng dưới (1bQ
R
IV
RP
1-2
PtbR
2
R);
Ở vùng tuyến đê sông Hồng khu vực Hà Nội, hầu như có mặt tất cả các
phân vị địa tầng trên. Tuy nhiên, do chịu tác động mạnh của dòng chảy nên
chiều dày, phạm vi phân bố, thành phần của trầm tích Đệ tứ ở đây có đặc
điểm biến đổi phức tạp hơn so với vùng xung quanh.
1.1.2.2.2. Địa tầng và các tính chất cơ lý:
Theo quan điểm địa chất công trình, dựa vào các tài liệu điều tả địa chất
công trình được tiến hành từ năm 1985 đến 1996 của Công ty tư vấn xây dựng
Thủy lợi 1 (HEC1), Viện nghiên cứu khoa học Thủy lợi, Trường đại học Mỏ -
Địa chất, có thể phân chia trầm tích Đệ tứ nền đê sông Hồng, thành các phức
hệ địa tầng nguồn gốc và các nguyên địa chất công trình (lớp đất) từ trên
xuống như sau:
1) Tầng đất thân đê (kí hiệu: 1a). Đất đắp cơ đê và á sét lấp hồ ao đê
(1b), á cát và cát lấp hồ ao, hoặc vun đống để khai thác vật liệu xây dựng (1c). - 15 -
2) Tầng bồi tích hiện đại: gồm có á sét, á cát (2a), cát (2e) phân bố ở
thượng lưu đê cũ và bãi bồi (bãi ven sông và giữa sông) chiều dày từ 5m ÷
10m, nơi đáy đê là lớp cát (2e) với chiều dày 2m÷ 4m.
3) Tầng bồi tích trẻ:
- Á sét nặng, dẻo mềm (2), đất sét mịn (2b), phân bố không liên tục,
chiều dày từ 0 ÷ 5m.
- Á sét nhẹ, á cát chứa các chất hữu cơ có kí hiệu (3b), á cát kí hiệu (3a)
phân bố cục rải rác ở nền đê các đoạn: Hồ Tây - Trúc Bạch, Bùng, Đông Mỹ
với chiều dày từ 0,2m đến 5m hoặc 6m.
- Á sét nặng - sét hữu cơ (3) phân bổ chủ yếu ở vùng Liên Trung, Đông
Mỹ với chiều dày từ 3m ÷ 7m.
P
-2
P ÷ 10P
-3
P cm/s.
b) Nhóm 2: Đất yếu, sức chịu tải kém, dễ bị lún không đều, tính thấm
không lớn, đó là:
- Lớp (3) á sét nặng - chứa chất hữu cơ φ = 4 ÷ 5
P
o
P, c = 0,04 ÷ 0,05
kg/cm
P
2
P.
- Lớp (5) đất sét chứa hữu cơ φ = 4
P
o
P, c = 0,05 kg/cmP
2
P.
c) Nhóm 3: đất có cường độ khá tốt, gồm các loại đất dẻo cứng đến
mềm, có hệ số thấm K nhỏ, khả năng chịu tải tốt, đó là các lớp:
- Lớp (2), (2b) á sét đến sét có K < 10
P
-5
P cm/s, φ = 8 ÷ 12P
o
P, c = 0,15 ÷
0,20 kg/cm
- 17 -
chính là những dấu hiệu cho phép cảnh báo để chuẩn bị những biện pháp
phòng chống lũ lớn trên đồng bằng Bắc Bộ.
b, Ảnh hưởng của công trình thủy điện Hòa Bình:
Từ năm 1987, công trình Hòa Bình ngày càng tác động mạnh mẽ hơn,
làm thay đổi rỡ rệt chế độ lũ hạ lưu sông Hồng từ Việt Trì về Hà Nội và ở
đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình. Quá trình lũ ở hạ du công trình Hòa
Bình có 3 dạng chính: Quá trình lũ bị điều tiết với dạng tựa như lũ tự nhiên,
quá trình dạng sóng xả với nhánh lên và xuống gần như dốc đứng, và quá
trình dạng sóng ngừng xả hoặc giảm xả đột ngột, với các nhánh lên và xuống
gần như dốc đứng. Ngoài ra, còn có tác dụng phối hợp 3 dạng điển hình này.
Thời gian truyền lũ về hạ lưu khi lũ chỉ bị điều tiết thông thường tương đương
với thời gian truyền trong tự nhiên, nhưng khi có sóng xả, ngừng xả với biên
độ và bước sóng khác nhau thì thời gian truyền lũ ở thời điểm đóng và mở đột
ngột cửa xả bị rút ngắn so với tự nhiên tới 3-6h, trên đoạn Hòa Bình - Hà Nội.
Chế độ dòng chảy dạng sóng xả và ngừng xả ở hạ lưu phải được đặc biệt lưu
ý trong bảo vệ đê và các khu bãi sông Hồng. Hồ Hòa Bình làm giảm mực
nước hạ lưu sông Hồng khi lũ lên, làm tăng mực nước khi lũ xuống, lớn nhất
tới trên 2m, thường giảm đỉnh lũ lớn và làm chậm (12-30 h) đỉnh lũ hạ lưu
sông Hồng tại Hà Nội, đồng thời phụ thuộc rõ rệt vào tỷ lệ dòng chảy 3 sông
Đà, Thao, Lô trong tổ hợp dòng chảy hạ lưu. Công trình có hiệu quả lớn trong
chống lũ cho Hà Nội và ở đồng bằng Bắc Bộ, mặc dù hoạt động của các công
trình có tác động khác nhau ở những thời kỳ khác nhau.
1.1.2.3.2. Điều kiện địa chất thủy văn khu vực:
Vùng đê sông Hồng do các thành tạo trầm tích đệ tứ, có tính thấm và
thấm nước không đồng đều. Trong các trầm tích đệ tứ có hai tầng thấm nước
chủ yếu là tầng thấm nước không áp hoặc áp lực yếu phân bố không liên tục
và tầng thấm nước có áp phân bố liên tục trên toàn vùng.