nghiên cứu xác định kích thước bể tiêu năng hợp lý cho tràn xả lũ hồ ngàn trươi hà tĩnh trên mô hình vật lý - Pdf 22

1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6
1. Ý nghĩa thực tiễn, khoa học của luận văn. 6
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài. 8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 9
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 9
5. Kết quả dự kiến đạt được. 9
6. Bố cục của luận văn. 9
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN. 11
1.1. Tổng quan về tình hình xây dựng đập tràn và tiêu năng sau tràn trong các công
trình thủy lợi, thủy điện ở Việt Nam và trên Thế giới 11
1.2. Tổng quan về bể tiêu năng và tiêu năng đáy sau tràn thực dụng 14
1.2.1. Tình hình xây dựng công trình tràn tiêu năng đáy 14
1.2.2. Tình hình vận hành thực tế ở một số hồ chứa và công trình xả lũ 15
1.3. Ảnh hưởng của chiều sâu, chiều dài bể đến hiệu quả tiêu năng 15
1.4. Các hình thức kết cấu tiêu năng dòng đáy 16
1.4.1. Bể tiêu năng 16
1.4.2. Tường tiêu năng 17
1.4.3. Bể tường kết hợp 17
1.5. Kết luận chương 1 17
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ KÍCH THƯỚC BỂ TIÊU NĂNG
CỦA TRÀN VẬN HÀNH 18
2.1. Lý thuyết mô hình hóa các hiện tượng thủy lực 18
2.1.1. Khái niệm về mô hình 18
2.1.2. Lý thuyết tương tự 19
2.2. Tính toán nối tiếp và tiêu năng sau tràn. 22
2.2.1. Nước nhảy 22
2.2.2. Nối tiếp dòng chảy ở hạ lưu công trình 24
2.3.Tính toán bể tiêu năng sau tràn 28

4.1.3. Quy mô và hình thức công trình 82
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
3
4.1.4. Các thông số chính về công trình 83
4.2. Các số liệu đầu vào 85
4.3. Kết quả tính toán 86
4.3.1. Phương án 1 86
4.3.2. Phương án 2 87
4.4. Phân tích, so sánh kết quả tính toán và kết quả thí nghiệm mô hình 91
KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 93
1. Kết luận 93
2. Những vấn đề còn tồn tại 94
3. Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
4
MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1-1. Bảng thống kê một số hồ đập, đập tràn xây dựng ở Việt Nam sử dụng
biện pháp tiêu năng đáy . 12
Bảng 3-1 : Xác định khả năng xả của tràn PA 1. 50
Bảng 3-2 : Giá trị B
HD
khi xả lũ PA1. 52
Bảng 3-3 : Sự co hẹp dòng chảy ở đầu trụ pin các khoang tràn PA1. 53
Bảng 3-4: Lõm sâu tại hai trụ pin bên PA1. 55
Bảng 3-5: Xác định các thông số tiêu năng PA 1. 58
Bảng 3-6: Năng lượng tiêu hao qua công trình nối tiếp PA 1 60

2
(Q
xả
) chảy tự do qua tràn – Khống
chế MNHL- PA1. 51
Hình 3-6 : Vị trí mố tiêu năng trong bể - PA 2. 63
Hình 3-7: Kích thước mố tiêu năng PA2. 64
Hình 3-8: Đường quan hệ Q
xả
=f
1
(Z
hồ
) và m=f
2
(Q
xả
), chảy tự do qua tràn – Khống
chế MNHL- PA2. 65
Hình 3-9: Bố trí mặt cắt đo lưu tốc và mực nước – PA2. 67
Hình 3-10: Bố trí mặt cắt đo lưu tốc và mực nước – PA2. 68

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
6
MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa thực tiễn, khoa học của luận văn.
Đất nước ta có điều kiện địa hình rất đặc thù, phía Tây là đồi núi cao địa hình
có độ dốc lớn, phía Đông là các vùng đồng bằng lớn ven biển, đồng thời Việt Nam
cũng là nước có hệ thống sông suối dầy đặc trung bình cứ khảng 20 km có một cửa
sông đổ ra biển. Đây là một tiềm năng lớn để xây dựng và phát triển các công trình

trình là hết sức cần thiết. Nó là điều kiện quan trọng để các công trình tháo nước
làm việc an toàn và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Với những công trình có cột nước cao nhưng địa chất nền yếu như nền đất,
nền đá phong hoá mạnh đồng thời lớp nước đệm ở hạ lưu mỏng hoặc những công
trình có cột nước thấp thì việc chọn hình thức tiêu năng kiểu mũi phun là không hợp
lý. Trong trường hợp này chúng ta có thể chọn một trong các hình thức thức tiêu
năng đáy như làm bể tiêu năng, tường tiêu năng hoặc bể tường kết hợp.
Đối với tràn vận hành thì lưu lượng và mực nước xả qua tràn thường xuyên
thay đổi theo thời gian nên hiệu quả làm việc của tràn phụ thuộc rất nhiều vào hình
dạng kích thước của tràn đặc biệt là chiều sâu, chiều dài bể tiêu năng. Chiều sâu bể
quyết định chế độ nối tiếp ở hạ lưu tràn còn chiều dài bể quyết định lớn đến điều
kiện kinh tế và kỹ thuật công trình. Vì vậy tính toán lựa chọn được kích thước hợp
lý của bể tiêu năng sẽ góp phần rất lớn trong việc tiêu hao năng lượng của dòng
chảy giải quyết tốt vấn đề thủy lực sau công trình tháo mang lại hiệu ích chung cho
toàn công trình.
Việc xác định kích thước bể tiêu năng của các công trình hiện nay đều dựa
trên các phương pháp lý thuyết và công thức tính toán chung cho bài toán phẳng.
Trong thực tế mỗi công trình có những điều kiện về địa hình, địa chất, dòng chảy rất
khác nhau, nên việc áp dụng hình thức tiêu năng của từng công trình cần xem xét
đến các đặc điểm riêng của chúng
Khi tính toán bằng các phương pháp lý thuyết không thể đề cập hết được các
yếu tố ảnh hưởng đến công trình tiêu năng. Bởi vậy, bên cạnh kết quả tính toán lý
thuyết, việc kết hợp thí nghiệm mô hình trong những điều kiện biên cụ thể của mỗi
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
8
công trình là cách làm đang được áp dụng rộng rãi hiện nay với các công trình vừa
và lớn .
Công trình tràn xả lũ Ngàn Trươi nằm giữa đập phụ thuộc công trình đầu mối
Ngàn Trươi dự kiến xây dựng trên địa bàn xã Hương Đại huyện Vũ Quang tỉnh Hà
Tĩnh. Tràn kết cấu bằng BTCT, hình thức tràn kiểu thực dụng Ôphixêrốp không

năng
- Thu thập các tài liệu tham khảo.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
9
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu xác định kích thước hợp lý của bể tiêu năng cho tràn vận hành
Ngàn Trươi tỉnh Hà Tĩnh
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
+ Cách tiếp cận:
- Thông qua các tài liệu: Giáo trình thủy công, giáo trình thủy lực, các giáo
trình chuyên ngành về đập tràn - nối tiếp và tiêu năng, các tài liệu chuyên ngành
dịch từ tiếng Nga,
+ Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các lý thuyết, phương pháp,
công thức tính toán trong tài liệu tham khảo hiện hành.
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Thông qua kết quả nghiên cứu thí
nghiệm mô hình của tràn vận hành Ngàn Trươi để so sánh, đối chứng với kết quả
tính toán lý thuyết.
5. Kết quả dự kiến đạt được:
- Đưa ra được quy luật và mối quan hệ tương quan giữa các đại lượng cơ
bản của dòng chảy và tiêu năng.
- Đưa ra được kết quả kích thước hợp lý của bể tiêu năng.
- Kiểm tra, đánh giá độ tin cậy của kết quả thí nghiệm, sử dụng cho thiết kế
cụ thể bể tiêu năng tràn vận hành Ngàn Trươi.
- Là tài liệu tham khảo cho các công trình tương tự.
6. Bố cục của luận văn:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về tình hình xây dựng đập tràn và tiêu năng sau tràn trong các
công trình thủy lợi, thủy điện ở Việt Nam và trên Thế giới.
1.2 Tổng quan về bể tiêu năng và tiêu năng đáy sau đập tràn.

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
11
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về tình hình xây dựng đập tràn và tiêu năng sau tràn
trong các công trình thủy lợi, thủy điện ở Việt Nam và trên Thế giới. [13]
Trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay có rất nhiều hồ chứa nước đã và
đang được xây dựng. Các công trình này được xây dựng ở các vùng trung du và
miền núi đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của các vùng nói riêng và
của đất nước nói chung góp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị, quốc phòng và
an ninh.
Trong các hệ thống hồ chứa thì tràn xả lũ là một phần không thể thiếu nó
chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư xây dựng công trình. Sự làm việc
hiệu quả của tràn xả lũ quyết định đến hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống. Vì
vậy việc tính toán, lựa chọn phương án tràn xả lũ và tiêu năng sau tràn có ý nghĩa
rất quan trọng. Việc lựa chọn hình thức, bố trí tràn xả lũ và tiêu năng sau tràn tùy
thuộc vào điều kiện địa hình, địa chất, giải pháp bố trí tổng thể công trình, điều kiện
quản lý vận hành…
Theo số liệu thống kê, đến năm 2003 cả nước đã có 1967 hồ chứa có dung
tích từ 0,2 triệu m
3
trở lên với tổng dung tích trữ là 24,82 tỷ m
3
nước và thống kê có
được cho thấy ở các hồ chứa sự cố hư hỏng của đập chính do nguyên nhân hư hỏng
tràn chiếm một tỷ lệ đáng kể và hầu hết là sự cố lớn. Theo số liệu điều tra năm 1992
ở nước ta, trong số các hồ chứa đã xây dựng chỉ có 39,1% đập, đập tràn làm việc
bình thường , trong khi 38,7% có hư hỏng nhỏ và 22,2% có hư hỏng lớn. Cũng theo
số liệu điều tra của Cục Thủy lợi, sự cố công trình mà mà nguyên nhân xuất phát từ
việc hư hỏng của tràn có tỷ lệ như sau: Hồ có dung tích từ 5 ÷ 10 triệu m
3

m
3
/s
1
Hồ chứa nước Suối
Hai
1958-
1964
Đất 29 Tràn tự do 80
2
Hồ chứa nước Đồng
Mô – Ngải Sơn
1969-
1974
Đất 20 Tràn có cửa van 90
3
Hồ chứa nước Đại
Lải
1959-
1961
Đất 12,5 Tràn đỉnh rộng 474,6
4
Hồ chứa nước
An Mã
Đất 27,5
Tràn hình cong
không chân
không

5

2010
Đất 32
Tràn thực dụng
có cửa van, dốc
nước
654
9 Hồ Sông Ray
2006-
2010
Đất 35
Tràn có cửa van
điều tiết
2400
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
13
10 Hồ Nước Trong
2006-
2010

tông
đầm
lăn
72
Tràn thực dụng
có cửa van điều
tiết

11 Hồ Tả Trạch 2006 Đất 56
Tràn có cửa van
điều tiết

16 Thủy điện Đami
1997-
2001
Đập
đá đổ
80 Tràn bên tự do
17 Thủy điện A Vương
2004-
2008

tông
đầm
lăn
72
Tràn có cửa van
điều tiết

18
Thủy điện
Tuyên Quang
2002-
2007
Đá đổ

tông
bản
mặt
92,2
Tràn có cửa van
điều tiết

>
h
c
’’ để đảm bảo có nước nhảy ngập ổn định và tiêu năng tập trung.
Trong tiêu năng đáy, lưu tốc ở đáy rất lớn, mạch động mãnh liệt, có khả năng
xói lở cao vì thế trong khu vực nước nhảy ( sân sau) phải bảo vệ bằng bê tông, bê
tông cốt thép. Khi nền đá xấu đoạn nối tiếp sau sân sau ( sân sau thứ hai) cũng cần
được bảo vệ một cách thich đáng. Muốn tăng hiệu quả tiêu năng thì thường trên sân
sau người ta làm thêm các thiết bị tiêu năng phụ như mố, ngưỡng, dầm tiêu năng …
để cho sự xung kích nội bộ của dòng chảy càng mãnh liệt hơn và ma sát gữa dòng
chảy với các thiết bị đó cũng có tác dụng tiêu hao một phần năng lượng. Ngoài ra
các thiết bị tiêu năng phụ còn có tác dụng dâng cao mực nước ở sân sau, đẩy dòng
chảy có lưu tốc lớn ở đáy lên trên mặt giảm tác hại xói lở nâng cao hiệu quả tiêu
năng. Biện pháp này có hiệu quả tốt và được sử dụng rộng rãi. Tiêu năng dòng đáy
thường được dùng với các công trình có cột nước thấp, địa chất nền tương đối kém,
mực nước hạ lưu không lớn lắm. Khi cột nước cao tháo lưu lượng lớn lúc này h
c
’’

rất lớn để đáp ứng yêu cầu có nước nhảy ngập sau công trình thì đòi hỏi chiều sâu
nước hạ lưu rất lớn, như vậy phải đào sâu bể tiêu năng hoặc làm tường tiêu năng
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
15
cao hoặc phải làm nhiều cấp tường nối tiếp nhau và sân sau thứ hai cũng cần bảo vệ
kiên cố hơn. Khi đó thì hình thức tiêu năng đáy sẽ tốn kém hơn và không phù hợp.
Trong những năm gần đây các công trình thủy điện, thủy điện kết hợp thủy
lợi được phát triển nhanh, trong lúc kinh nghiệm thiết kế của nước ta vẫn còn khá
hạn chế, nhiều nghiên cứu của nước ngoài chưa được cập nhật áp dụng vào thực tế
của Việt Nam. Mặt khác các công thức tính toán mà chúng ta áp dụng hiện nay đều
là những công thức kinh nghiệm của rất nhiều tác giả đưa ra đẫn tới những kết quả

’’
để đảm bảo sinh nước nhảy ngập. Nhưng nếu chiều sâu bể
quá lớn sẽ dẫn tới hiện tượng nước nhảy quá ngập, lúc này dòng nước lại luồn ở
dưới đáy và phá hủy lòng dẫn ở hạ lưu công trình, làm giảm hiệu quả tiêu năng
Chiều dài bể cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế kỹ thuật của
công trình nếu ta làm bể quá dài thì đảm bảo tiêu năng tập trung trong bể (gói trọn
nước nhảy) nhưng sẽ không kinh tế và ngược lại nếu bể ngắn thì không không gói
được nước nhảy dẫn đến hiệu quả tiêu năng của bể không cao.
Việc xác định chiều sâu và chiều dài bể tiêu năng của các công trình hiện nay
đều dựa trên các phương pháp lý thuyết và công thức tính toán chung cho bài toán
phẳng. Trong thực tế mỗi công trình có những điều kiện về địa hình, địa chất, dòng
chảy rất khác nhau, nên việc áp dụng hình thức tiêu năng của từng công trình cần
xem xét tính đến các đặc điểm riêng của chúng.
Khi tính toán bằng các phương pháp lý thuyết không thể đề cập hết được
các yếu tố ảnh hưởng đến công trình tiêu năng. Bởi vậy, bên cạnh kết quả tính toán
lý thuyết, cần kết hợp thí nghiệm mô hình với những điều kiện biên cụ thể để xác
định kích thước bể tiêu năng hợp lý đảm bảo hiệu quả tiêu hao năng lượng cao nhất
cho mỗi công trình
1.4. Các hình thức kết cấu tiêu năng dòng đáy [16], [4], [8]
Kết cấu tiêu năng dòng đáy gồm có các hình thức sau : Đào bể tiêu năng, xây
tường tiêu năng và bể tường kết hợp
1.4.1. Bể tiêu năng
Đây là biện pháp được áp dụng phổ biến ở các công trình tiêu năng dòng
đáy nhất là ở các công trình có địa chất nền mềm yếu, tầng đá gốc nằm sâu. Hình
thức này tạo ra chế độ chảy ngập khi qua ngưỡng bể nên chỉ cần tiêu năng một lần ,
tuy nhiên nếu chiều sâu bể quá lớn thì việc thi công sẽ gặp khó khăn khi đó phương
án đào bể tiêu năng không kinh tế.

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
17

18
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ KÍCH THƯỚC BỂ TIÊU
NĂNG CỦA TRÀN VẬN HÀNH
2.1. Lý thuyết mô hình hóa các hiện tượng thủy lực [9], [12]
2.1.1. Khái niệm về mô hình
2.1.1.1. Mô hình
Mô hình là hình ảnh của tư duy hay là một sản phẩm vật chất tạo ra bằng các
vật liệu khác nhau nhằm phản ánh hoặc giống đối tượng nghiên cứu và những kết
quả nghiên cứu đó đem đến những thông tin chính xác về đối tượng cần nghiên cứu
trong thực tế.
2.1.1.2. Mô hình hóa
Mô hình hóa là sự biểu thị bằng hình ảnh các công trình hoặc hiện tượng của
thực tế, bằng công cụ vật lý và toán học hợp lý để có thể nghiên cứu hiệu quả, toàn
diện và tối ưu công trình hoặc hiện tượng đó
2.1.1.3. Mô hình vật lý
Mô hình vật lý là mô hình dựa trên sự tương tự giữa hai hệ thực thể. Mô hình
thủy lực là một loại mô hình vật lý, thường được chế tạo với tỷ lệ bé hơn và đặt
trong phòng thí nghiệm. Vật liệu dùng trong mô hình thủy lực cũng phải đảm bảo
tương tự như trong thực tế.
Mô hình hóa hiện tượng thủy lực dựa trên lý thuyết tương tự. lý thuyết tương
tự xuất phát từ sự phân tích toán học hoặc phân tích thứ nguyên các đại lượng ảnh
hưởng đến hiện tượng nghiên cứu. Các định luật hay tiêu chuẩn tương tự cho phép
chúng ta chuyển những kết quả thu được trên mô hình sang thực tế.
2.1.1.4. Mô hình toán
Mô hình toán được thành lập dựa trên sự tương tự giữa thực tế và tư duy. Sự
tương tự đó cho phép nghiên cứu thực tế bằng sự giúp đỡ của hệ thống tư duy tưởng
tượng vật lý phức tạp, được miêu tả bằng hệ phương trình vi phân riêng có thể giải
được bằng phương pháp số, giải tích hoặc đúng dần
Mô hình toán một hiện tượng vật lý đươc tạo thành:
- Từ một mô hình thực.

2.1.2.1. Tương tự hình học.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
20
Nếu chúng ta chế tạo mô hình giảm nhỏ so với công trình thực tế thì hình
dạng của công trình cũng tương ứng phù hợp. Mọi góc tương ứng không đổi, mọi
kích thước đều được giảm nhỏ theo cùng một tỷ lệ. Ta gọi đó là tương tự hình học
giữa mô hình và thực tế. Tỷ lệ giữa độ dài trong thực tế (l
t
) và độ dài tương ứng trên
mô hình (l
m
) gọi là tỷ lệ hình học.

m
t
l
l
l
=
λ
(2-1)
Nếu λ
l
là hệ số không đổi cho toàn bộ mô hình thì tỷ lệ vê diện tích và thể tích là:

2
l
m
t
s

(2-3)
Nếu tỷ lệ độ dài theo ba phương là

mx
tx
lx
l
l
=
λ
;
my
ty
ly
l
l
=
λ
;
mz
tz
lz
l
l
=
λ

Thì tỷ lệ lưu tốc điểm là

mx

=
λ
;
my
ty
ay
a
a
=
λ
;
mz
tz
az
a
a
=
λ

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
21
Khi chúng ta có tỷ lệ lưu tốc và tỷ lệ gia tốc là hằng số thì chúng ta có được
tương tự động học

lz
lylx
λλλ
==
;
t

. a
tz
;
P
mx
= m
m
. a
mx
; P
my
= m
m
. a
my
; P
mz
= m
m
. a
mz
;
Từ đó ta có
22
2
1

.
.
.

.
t
ly
m
tmym
m
tyt
my
ty
Py
t
lm
tlm
P
P
λ
λλ
λ
===

22
2
1.
.
t
lzm
tmzm


lvm
λλλλλ
ρρ
==
nên
2
4
t
l
P
λ
λ
λλ
ρ
=

hoặc thay
t
l
v
λ
λ
λ
=
ta rút ra được
22
.
.
vlP

nm
r
Lg
V
Lg
V
F






=






=

22
(2-4)
Trong đó:
V: Lưu tốc dòng chảy
L: Độ sâu dòng chảy
g: Gia tốc trọng trường ( g=9,81 m/s
2
)

: Bán kính thủy lực trong mô hình.
Nói một cách chặt chẽ thì tiêu chuẩn Froude được áp dụng khi lực nhớt có
thể bỏ qua so với trọng lực, số Reynolds bé nhất trên mô hình phải không nhỏ hơn
giá trị giới hạn (Re
gh
) nào đó. Nghĩa là khi đó tiêu chuẩn Reynolds không có hiệu
lực,dòng chảy ở khu tự động mô hình hay khu sức cản bình phương.
2.2. Tính toán nối tiếp và tiêu năng sau tràn. [8], [14]
2.2.1. Nước nhảy.
2.2.1.1. Định nghĩa
Nước nhảy là hiện tượng thủy lực nảy sinh trong quá trình dòng chảy chuyển
từ trạng thái chảy xiết sang chảy êm. Hiện tượng này được đặc trưng bởi khu luồng
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
23
chính chảy xuôi, mở rộng đột ngột và khu chảy xoáy chuyển động vòng quanh tại
chỗ trên mặt khu luồng chín
C
B
A
KK
h
k
a
Ln
h''
h'
khu luông chính
khu n
uoc xoáy



+ Nước nhảy tại chỗ khi h
’’
c
= h
h

+ Nước nhảy ngập khi h
’’
c
< h
h
.
Trong đó
h
h
: Chiều sâu dòng chảy ở hạ lưu công trình
h
’’
c
: Là độ sâu liên hiệp với độ sâu dòng chảy tại mặt cắt co hep h
c
.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
24
- Theo trị số Froude trước nước nhảy

hg
V
F

mặt cắt co hẹp C-C . Tại mặt cắt co hẹp, độ sâu dòng chảy (h
c
) là nhỏ nhất và lưu
tốc đạt giá trị lớn nhất. Khi đó h
c
< h
k
do vậy nối tiếp chảy đáy trong trường hợp
này bắt buộc phải qua nước nhảy. Gọi h
c
’’
là độ sâu liên hiệp với h
c
và h

là độ sâu
liên hiệp với h
h
.
a. Nếu h
’’
c
= h
h
(hay h

h
= h
c
) có nước nhảy tại chỗ, năng lượng thừa sẽ tiêu

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
25
Trường hợp 2: Dòng chảy ở hạ lưu là dòng chảy xiết
Trong trường hợp này dòng chảy ở hạ lưu không qua nước nhảy. so sánh độ
sâu co hẹp h
c
với độ sâu bình thường của dòng chảy trong kênh dẫn hạ lưu có các
dạng nối tiếp sau đây.
a. Nếu h
c
= h
o
ngay tại mặt cắt co hẹp thì có dòng chảy đều (với h
o
là độ sâu
chảy đều)
b. Nếu h
c
> h
o
sau mặt cắt co hẹp độ sâu dòng chảy sẽ giảm dần và hình
thành đường nước đổ b
2
.
c. Nếu h
c
< h
o
sau mặt cắt co hẹp độ sâu dòng chảy sẽ tăng dần và có đường
nước dâng c


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status