1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngành công nghiệp có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển nền kinh
tế quốc dân, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của các nƣớc
đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Công nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền quốc dân, đóng góp tích cực
vào sự tăng trƣởng kinh tế trong nƣớc; thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát
triển theo hƣớng công nghiệp hóa hiện đại hóa; góp phần đắc lực vào việc thay
đổi phƣơng pháp tổ chức, phƣơng pháp quản lí sản xuất và nâng cao hiệu kinh tế
xã hội; tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
làm thay đổi sự phân công lao động và giảm mức chênh lệch về trình độ phát
triển giữa các vùng. Công nghiệp có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm mới mà
không ngành sản xuất vật chất nào sánh đƣợc, đồng thời góp phần vào việc mở
rộng sản xuất, thị trƣờng và giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động, góp
phần tích lũy nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và giải quyết các vấn đề
môi trƣờng.
Trong nghị định 192/CP ngày 25/12/1994, đã nêu khái niệm về khu công
nghiệp ở Việt Nam nhƣ sau: “Khu công nghiệp do Chính phủ quyết định thành
lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống”.
Trong những năm qua, các khu công nghiệp Việt Nam đã phát triển mạnh,
đóng góp nhất định vào tăng trƣởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hƣớng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc. Nhiều nhà nghiên cứu
đã quan tâm đến việc phát triển và nâng cao các khu công nghiệp ở Việt Nam.
Để hiểu biết hơn về sự phát triển công nghiệp nói chung và các khu công
nghiệp nói riêng, phục vụ cho việc nghiên việc nghiên cứu và dạy học Địa lý ở
trƣờng Phổ thông sau này tôi đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề: “Nghiên cứu các
khu công nghiệp ở Việt Nam”.
ra những vấn đề trọng tâm cũng nhƣ những vấn đề còn bỏ ngỏ. Trên cơ sở
những tài liệu phong phú đó, việc tổng hợp sẽ giúp chúng ta có một tƣ liệu toàn
diện, khái quát về vấn đề nghiên cứu. Đặc biệt hiện nay, công nghệ thông tin
3
phát triển mạnh, việc khai thác các nguồn tài liệu quan trọng qua Internet sẽ là
nguồn tƣ liệu quý hỗ trợ cho việc tổng hợp các vấn đề nghiên cứu.
3.2. Phương pháp phân tích số liệu thống kê
Phƣơng pháp phân tích thống kê đƣợc sử dụng để mô tả những đặc tính
cơ bản của dữ liệu, thông qua thu thập và xử lí số liệu từ thực tiễn hay qua tài
liệu tham khảo khác, nhằm chứng minh rõ ràng hơn sự phát triển của khu công
nghiệp.
Các số liệu thống kê kinh tế có ý nghĩa nhất định trong việc thể hiện khai
thác tri thức, thông qua đó số liệu thống kê giải trình nhiều vấn đề quan trọng, có
thể so sánh, đối chiếu các số liệu, thể hiện mức tăng trƣởng, trình độ phát triển
của các khu công nghiệp ở Việt Nam.
4. Những đóng góp của khóa luận
Khóa luận hoàn thành sẽ có một số đóng góp cơ bản sau đây:
- Tổng quan và chọn lọc những vấn đề lí luận về khu công nghiệp.
- Điều tra, khảo sát và bƣớc đầu đánh giá thực trạng phát triển và phân bố
các khu công nghiệp ở Việt Nam.
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm có 2 chƣơng:
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam;
Chƣơng 2. Thực trạng phát triển và phân bố các khu công nghiệp ở Việt
Nam.
- Lý thuyết điểm trung tâm của W. Christaller
Vào đầu những năm 30 của thế kỉ XX, hầu nhƣ cùng một lúc đã xuất hiện
các công trình của W. Christaller và A. Loesch. Đƣợc hoàn thiện trên những ý
tƣởng và mô hình của G. Thunen và A. Weber, W. Christaller đã có đóng góp to
lớn vào việc tìm ra tính quy luật phát triển của toàn bộ hoạt động sản xuất vật
chất và phi sản xuất theo không gian.
5
Từ công trình đƣợc công bố vào năm 1933, W. Christaller cho rằng không
có khu vực nông thôn nào lại không chịu sự tác động của một thành phố với tƣ
cách nhƣ cực hút. Sự thay đổi của chi phí dành cho kết cấu hạ tầng phụ thuộc
vào vấn đề đô thị hóa. Nhƣ vậy, chi phí kết cấu hạ tầng sẽ tăng lên cùng với quá
trình đô thị hóa và ảnh hƣởng đến chi phí đầu tƣ cho quy hoạch lãnh thổ. Thành
phố là trung tâm đối với tất cả các điểm dân cƣ còn lại của vùng. Các trung tâm
tồn tại theo nhiều cấp, từ thấp đến cao. Các trung tâm cấp cao có khả năng lựa
chọn hàng hóa và dịch vụ đối với các trung tâm cấp thấp hơn, khả năng này
cũng bị hạn chế hơn. Ông cho rằng, thành phố có vai trò nhƣ những cực phát
triển và là hạt nhân cho sự phát triển. Nó trở thành đối tƣợng để đầu tƣ, trên cơ
sở sức hút và mức độ ảnh hƣởng đến các vùng xung quanh, thông qua bán kính
vùng tiêu thụ sản phẩm. Thị trƣờng đƣợc xác định trong giới hạn về bán kính
của vùng tiêu thụ. Ngoài giới hạn này, việc tiêu thụ sản phẩm sẽ không có hiệu
quả kinh tế.
Lý thuyết trung tâm của W. Christaller đã đƣợc A. Loesch hƣởng ứng và
phát triển. Theo A. Loesch, có một điểm trung tâm quan trọng nhất là thành phố,
đầu mối của toàn bộ hệ thống các điểm dân cƣ. Vai trò thƣơng mại và dịch vụ
của nó tác động mạnh mẽ đến các khu vực lân cận chịu ảnh hƣởng của thành
phố.
Đóng góp chủ yếu của W. Christaller và A. Loesch là ở sự khám phá ra quy
luật phân bố không gian của các điểm dân cƣ, phát hiện ra một trật tự trong sự
phân bố giữa các thành phố và nông thôn.
liên kết của chúng là cơ sở quan trọng chi phối đầu vào, đầu ra của các ngành
trong vùng. Quy mô và cƣờng độ của sự liên kết giữa các ngành là một trong
những đặc trƣng của cực tăng trƣởng.
Lý thuyết cực tăng trƣởng đƣợc áp dụng tƣơng đối rộng rãi ở Châu Á, nhất
là ở các nƣớc ASEAN. Nhiều kinh nghiệm đã đƣợc tích lũy và có giá trị đối với
các quốc gia cần huy động vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài.
- Lý thuyết cơ sở xuất khẩu
Theo thuyết này, chỉ có các hàng hóa sản xuất phục vụ cho thị trƣờng bên
ngoài (tức là hàng xuất khẩu) mới đƣợc coi là cơ sở để phát triển kinh tế cho
một vùng. Các hoạt động kinh tế nhƣ vậy tác động đến nhịp độ tăng trƣởng việc
7
làm và thu nhập. Từ đó, nền kinh tế trong một vùng đƣợc chia thành các ngành
cơ bản và các ngành không cơ bản.
Lý thuyết cơ sở xuất khẩu phát triển ở Hoa Kỳ từ trƣớc năm 1950. Lúc đầu,
nó chỉ tập trung nghiên cứu sự phát triển kinh tế của những trung tâm buôn bán
và về sau đƣợc nâng lên thành mô hình phổ biến cho các nƣớc đang phát triển.
Tƣ tƣởng chủ đạo của mô hình cơ sở xuất khẩu là ở chỗ đối với các vùng
kém phát triển cần phải tìm ra khả năng thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế bằng việc
hƣớng ngoại. Nhân tố quan trọng đối với cực tăng trƣởng của vùng là những
thúc đẩy xuất phát từ đòi hỏi ở bên ngoài. Lợi nhuận có đƣợc nhờ lĩnh vực xuất
khẩu là điều kiện cần và đủ để khuyến khích nhu cầu gia tăng thị trƣờng nội địa.
Một số mô hình kinh tế hƣớng vào xuất khẩu đã đƣợc thực hiện thành công ở
Đài Loan, Hàn Quốc, Singapo…
Một dạng khác của lý thuyết này là lý thuyết về sự phụ thuộc mà sau này
trở thành cơ sở lý luận cho chiến lƣợc phát triển hƣớng vào xuất khẩu của nhiều
quốc gia. Nó đƣợc hình thành từ cuộc tranh luận của các nhà kinh tế học ở Mỹ
La Tinh khoảng giữa những năm 50 của thế kỷ XX.
Theo thuyết này, trong điều kiện thế giới có sự phụ thuộc lẫn nhau thì các
nƣớc đang phát triển chỉ có thể phát triển đƣợc bằng cách dựa vào nguồn vốn và
khu vực I.
Tổ chức xã hội của cộng đồng ngày càng phát triển, nhu cầu của con
ngƣời ngày càng cao và đa dạng. Dựa vào những thành tựu của cuộc cách mạng
kỹ thuật, con ngƣời đã chế biến những sản phẩm khai thác từ thiên nhiên (khu
vực I), hoặc tạo ra những sản phẩm mới không có trong tự nhiên. Phần đông lực
lƣợng lao động chuyển từ khu vực I sang khu vực II (công nghiệp).
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu về dịch vụ nói chung ngày
càng lớn và không ngừng gia tăng về khối lƣợng cũng nhƣ về loại hình. Đó là
các dịch vụ thƣơng mại, vui chơi giải trí, du lịch nghỉ dƣỡng, ngân hàng, tài
chính, thuế quan… Đội ngũ cán bộ phục vụ trong lĩnh vực dịch vụ ngày càng
tăng lên. J. Fourastier xếp các loại hoạt động nói trên vào lao động khu vực III
và gọi chung là lao động dịch vụ.
Lý thuyết ba khu vực hoạt động có giá trị nhất định. Để đánh giá trình độ
phát triển của một nƣớc, có thể xem xét tỉ lệ lao động giữa 3 khu vực. 3 khu vực
9
hoạt động kinh tế, về đại thể trùng với 3 thời kỳ phát triển của nền (văn minh
nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp). Lý thuyết
này có liên quan đến việc xác định các ngành chủ đạo trong tổ chức lãnh thổ.
- Các lý thuyết thuộc trường phái địa lý Xô Viết
Trong trƣờng phái địa lý Xô Viết, đáng lƣu ý là lý thuyết chu trình sản
xuất năng lƣợng của N.N. Colaxopxki đƣợc đề ra năm 1947. Kế thừa tƣ tƣởng
này nhiều nhà địa lý Xô viết đã bổ sung, hoàn thiện và đƣa ra 14 chu trình sản
xuất năng lƣợng (EPS) bao gồm: EPS kim loại đen, EPS kim loại màu, EPS
nhiên liệu cứng (than, đá, dầu), EPS hóa học quặng mỏ, EPS hóa học kim loại
hiếm, EPS công nghiệp dầu khí, EPS silicat, EPS kỹ thuật thủy lợi, EPS sử dụng
nhiệt năng dƣới sâu, EPS công nghiệp gỗ, EPS nông –công nghiệp, EPS đại
dƣơng, EPS công nghiệp chế biến và EPS sinh hóa.
Các kiểu EPS đƣợc hình thành trên cơ sở tài nguyên thiên nhiên khác
nhau và tạo ra hàng loạt sản phẩm không giống nhau. Những kết hợp EPS ra đời
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp không phải là hiện tƣợng bất biến. So với
nông nghiệp, tổ chức lãnh thổ công nghiệp có thể thay đổi trong một thời gian
tƣơng đối ngắn. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì trong thời đại ngày nay sự
tiến bộ khoa học, công nghệ diễn ra rất nhanh, nhu cầu của thị trƣờng và cả bản
thân thị trƣờng cũng thƣờng xuyên thay đổi. Vì vậy, tổ chức lãnh thổ muốn tồn
tại và phát huy tác dụng thì không thể sơ cứng và chậm biến đổi, mặc dù về lý
thuyết, mỗi hình thái kinh tế - xã hội sẽ có các kiểu tổ chức lãnh thổ công nghiệp
tƣơng ứng.
Ở nƣớc ta, số lƣợng các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ công
nghiệp không nhiều. Tuy nhiên, tổ chức lãnh thổ công nghiệp có thể đƣợc coi là
việc bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp, các cơ sở phục vụ cho hoạt
động công nghiệp, các điểm dân cƣ, cùng kết cấu hạ tầng trên phạm vi một lãnh
thổ nhất định, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên trong cũng nhƣ bên
ngoài lãnh thổ đó.
Thực tiễn ở nƣớc ta chỉ rõ rằng, quá trình hình thành và phát triển một số
hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp (điểm, cụm, khu, trung tâm công nghiệp)
gắn liền với quá trình đô thị hóa. Quá trình này, một mặt làm xuất hiện những đô
thị mới và mặt khác cải tạo hoặc nâng cấp các đô thị cũ. Giữa đô thị hóa và phát
11
triển công nghiệp có mối quan hệ hữu cơ. Việc phát triển và phân bố công
nghiệp là cơ sở quan trọng nhất để hình thành và phát triển đô thị. Mặt khác,
mạng lƣới đô thị khi đã ra đời và nhất là có kết cấu hạ tầng ở mức độ nhất định
sẽ trở thành nơi hấp dẫn, làm cơ sở để phát triển và tổ chức lãnh thổ công
nghiệp.
Trong những năm gần đây, nhà nƣớc triển khai các “quy hoạch tổng
thể”. Giữa quy hoạch tổng thể và tổ chức lãnh thổ có những sự khác nhau rõ rệt.
Quy hoạch tổng thể (ngành hoặc lãnh thổ) thƣờng bao gồm các nội dung ở
tầm vĩ mô nhƣ đánh giá các nguồn lực (tự nhiên, kinh tế - xã hội…), Phân tích
hiện trạng và đƣa ra các định hƣớng phát triển trong khoảng thời gian 10-20 năm
Thí dụ, miền núi và trung du Bắc Bộ tập trung nhiều loại khoáng sản có ý
nghĩa cả nƣớc. Trên cơ sở đó, đã hình thành và phát triển công nghiệp khai
khoáng (khai thác và tuyển than ở Quảng Ninh, khai thác và chế biến apatit ở
Lào Cai, khai thác và chế biến quặng sắt ở Thái Nguyên, khai thác và chế biến
thiếc ở Cao Bằng …). Vùng Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng có nguồn
đá vôi phong phú; do vậy, công nghiệp sản xuất xi măng và công nghiệp vật liệu
xây dựng tƣơng đối phát triển.
+ Nguồn nƣớc có ý nghĩa lớn đối với các ngành sản xuất, trong đó có
công nghiệp. Khi lựa chọn lãnh thổ để phân bố các xí nghiệp và hình thành các
tổ chức lãnh thổ công nghiệp, cần phải chú ý đến nguồn nƣớc. Ở khu vực ven
biển hay vùng gò đồi, trong nhiều trƣờng hợp, yếu tố nguồn nƣớc quyết định sự
phân bố và tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Mức độ thuận lợi (hay khó khăn) về
nguồn cung cấp hoặc thoát nƣớc là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp
công nghiệp.
+ Khí hậu cũng có ảnh hƣởng nhất định đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp.
Trong một số trƣờng hợp, nó chi phối việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản
xuất, đặc biệt đối với vùng ven biển dễ bị nhiễm mặn do độ ẩm của không khí.
Ngoài ra, khí hậu đa dạng, phức tạp cũng làm xuất hiện những tập đoàn cây
trồng, vật nuôi đặc thù. Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp chế
biến lƣơng thực, thực phẩm.
Bên cạnh các tài nguyên thiên nhiên nói trên, còn có một số nguồn lực
khác tác động tới tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Có thể kể tới vị trí địa lý, đất đai
13
(với tƣ cách là nơi phân bố công nghiệp, nhất là về địa chất công trình), tài
nguyên sinh vật, biển …
- Nguồn lực kinh tế - xã hội
+ Dân cƣ với những tập quán sản xuất, tiêu dùng và nguồn lao động (số
lƣợng, chất lƣợng) có vai trò to lớn trong việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Về
phƣơng diện này, dân cƣ đƣợc xem xét dƣới hai góc độ: sản xuất và tiêu dùng.
- Thị trƣờng bên ngoài, ở mức độ lớn, có tác động mạnh mẽ tới quá trình
lựa chọn vị trí xí nghiệp, hƣớng chuyên môn hóa sản xuất và chi phối trực tiếp
tới tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Ở trong nƣớc, các đô thị lớn ngoài chức năng
trung tâm - hạt nhân công nghiệp, còn luôn là thị trƣờng quan trọng khuyến
khích sự phát triển của sản xuất. Thị trƣờng quốc tế cũng có vai trò đặc biệt. Sự
phát triển công nghiệp cuả bất kỳ quốc gia nào cũng đều nhằm thỏa mãn nhu cầu
trong nƣớc và hội nhập với thị trƣờng thế giới. Vì thế, thị trƣờng này chắc chắn
có tác động nhất định đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp.
- Mối quan hệ hợp tác liên vùng và quốc tế có vai trò đáng kể với việc tổ
chức lãnh thổ công nghiệp. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa
nền kinh tế thế giới cùng với những tiến bộ kỹ thuật phát triển nhƣ vũ bão, vấn
đề hợp tác quốc tế là một xu thế tất yếu, đem lại lợi ích cho các bên đối tác. Đối
với các nƣớc, các vùng chậm phát triển, để giảm khoảng cách về trình độ phát
triển và tránh tụt hậu, không thể không quan tâm đến sự hợp tác quốc tế và liên
vùng.
Hợp tác quốc tế và liên vùng đƣợc thể hiện qua một số lĩnh vực chủ yếu
sau đây:
+ Hỗ trợ vốn đầu tƣ từ các nƣớc, các vùng phát triển cho các nƣớc, các
vùng chậm phát triển. Quá trình hợp tác đầu tƣ làm xuất hiện ở các nƣớc, các
vùng chậm phát triển một số ngành công nghiệp mới, các khu vực công nghiệp
tập trung, khu chế xuất và mở mang các ngành nghề truyền thống. Điều đó dẫn
đến sự thay đổi tổ chức lãnh thổ công nghiệp theo cả hai chiều: tích cực và tiêu
cực.
+ Chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cũng là một trong những hƣớng
quan trọng của sự hợp tác quốc tế và liên vùng. Kỹ thuật, công nghệ hiện đại có
ý nghĩa quyết định đến nhịp độ tăng trƣởng kinh tế. Trƣớc hết, nó ảnh hƣởng
15
trực tiếp đến quy mô, phƣơng hƣớng sản xuất và sau đó là việc phân bố sản
xuất, các hình thức tổ chức lãnh thổ cũng nhƣ bộ mặt kinh tế - xã hội của một
Ở đây cần phân biệt điểm công nghiệp và xí nghiệp công nghiệp. Điểm
công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Trong
khi đó, xí nghiệp công nghiệp là hình thức tổ chức sản xuất, là đơn vị cơ sở của
phân công lao động về mặt địa lý. Nếu xét về mặt hình thức, chúng có vẻ nhƣ
nhau, nhƣng về bản chất lại hoàn toàn khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, một bên là
hình thức tổ chức công nghiệp theo lãnh thổ, còn bên kia lại là cách thức tổ chức
sản xuất trong công nghiệp.
Các xí nghiệp công nghiệp có tính chất độc lập về kinh tế, có công nghệ
sản xuất sản phẩm riêng. Do tính chất và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của các
ngành công nghiệp có sự khác nhau mà quy mô của các xí nghiệp cũng khác
nhau. Có xí nghiệp chỉ có vài chục hoặc vài trăm công nhân (nhƣ chế biến nông
sản,…) và đƣợc bố trí gọn trong một xƣởng sản xuất, nhƣng cũng có xí nghiệp
thu hút hàng nghìn công nhân, gồm nhiều công trình, nhà xƣởng, diện tích tƣơng
đối lớn (nhƣ xí nghiệp khai thác khoáng sản,…). Hiện nay, do sự tiến bộ của
khoa học - công nghệ, số lƣợng các xí nghiệp có quy mô lớn tăng lên nhanh
chóng ở tất cả các ngành công nghiệp.
- Điểm công nghiệp theo kiểu đơn lẻ này cũng có những mặt tích cực nhất
định. Nó có tính cơ động, dễ đối phó với các sự cố và thay đổi trang thiết bị,
không bị ràng buộc và ảnh hƣởng của các xí nghiệp khác, đặc biệt thuận lợi cho
việc thay đổi mặt hàng trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, những
mặt hạn chế lại rất nhiều. Đó là việc đầu tƣ khá tốn kém cho cơ sở hạ tầng, các
chất phế thải bị lãng phí do không tận dụng đƣợc, các mối liên hệ (sản xuất, kinh
tế, kỹ thuật,…) với các xí nghiệp khác hầu nhƣ thiếu vắng và vì vậy, hiệu quả
kinh tế thƣờng thấp.
Ở nƣớc ta có nhiều điểm công nghiệp. Các điểm công nghiệp đơn lẻ thƣờng
hình thành ở các tỉnh miền núi của Tây Bắc, Tây Nguyên.
1.3.2. Khu công nghiệp tập trung
- Khu công nghiệp tập trung với tƣ cách là một hình thức tổ chức lãnh thổ
công nghiệp đƣợc hình thành và phát triển ở các nƣớc tƣ bản vào những năm
cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nó đƣợc hiểu là một khu vực đất đai có
Về lý thuyết, mỗi trung tâm có một (hay một số) ngành đƣợc coi là hạt
nhân. Hƣớng chuyên môn hóa của trung tâm thƣờng do các ngành (xí nghiệp)
18
hạt nhân đó quyết định. Những ngành (xí nghiệp) này đƣợc hình thành dựa trên
những lợi thế so sánh (về vị trí địa lý, về nguồn lực tự nhiên, lao động, thị
trƣờng,…). Một trong những điểm khác biệt rõ rệt so với hai hình thức trên là
các xí nghiệp phân bố trong trung tâm công nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau về kỹ thuật sản xuất, quy trình công nghệ hay về mặt kinh tế nhằm đạt hiệu
quả cao nhất. Bên cạnh các xí nghiệp chuyên môn hóa còn có hàng loạt xí
nghiệp bổ trợ phục vụ cho việc cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, sửa
chữa máy móc thiết bị, đảm bảo lƣơng thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng cho dân
cƣ.
- Nhƣ vậy, trung tâm công nghiệp đƣợc đặc trƣng bởi một số đặc điểm
chủ yếu sau đây:
+ Trung tâm công nghiệp đồng thời cũng là các đô thị vừa và lớn với hoạt
động công nghiệp là chính.
+ Trung tâm công nghiệp bao gồm nhiều xí nghiệp thuộc các ngành khác
nhau tạo nên cơ cấu ngành. Cơ cấu ngành của trung tâm công nghiệp có thể đơn
giản (ít ngành) hoặc phức tạp (đa ngành), phụ thuộc chủ yếu vào sự thu hút các
ngành của trung tâm. Các xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp khác nhau có
mối liên hệ mật thiết với nhau về kinh tế, kỹ thuật, sản xuất.
+ Nhóm xí nghiệp hạt nhân đƣợc coi là bộ khung của trung tâm công
nghiệp thƣờng gồm một số xí nghiệp lớn và cũng có thể là xí nghiệp liên hợp.
Hƣớng chuyên môn hóa của trung tâm là do nhóm xí nghiệp này quyết định.
Gắn với nhóm xí nghiệp hạt nhân là nhóm xí nghiệp bổ trợ để tạo điều kiện cho
trung tâm công nghiệp có thể hoạt động bình thƣờng.
- Các trung tâm công nghiệp rất đa dạng. Vì vậy, việc phân loại các trung
tâm công nghiệp cũng phải dựa trên một số tiêu chí nhất định, tùy thuộc vào
mục đích của ngƣời nghiên cứu. Các tiêu chí đƣợc lựa chọn có thể là vai trò của
ngành và vùng tổng hợp.
Vùng (công nghiệp) ngành là tập hợp các xí nghiệp cùng loại trên một
lãnh thổ. Cơ chế hình thành loại vùng này đƣợc thể hiện ở chỗ mỗi ngành công
nghiệp lựa chọn cho mình phần lãnh thổ thích hợp nhất về các nguồn lực tự
nhiên, kinh tế, xã hội trên cơ sở thỏa mãn đƣợc các yêu cầu về kinh tế - kỹ thuật
20
và các yếu tố phân bố sản xuất. Trên thực tế, các vùng ngành thƣờng gặp là
vùng công nghiệp khai thác than, dầu khí, luyện kim, hóa chất,…
Vùng (công nghiệp) tổng hợp là một khái niệm đƣợc sử dụng rộng rãi hơn
và gọi chung là vùng công nghiệp. Trên một lãnh thổ nhất định có những điều
kiện thuận lợi cho việc hình thành và phân bố các xí nghiệp không chỉ của một
ngành, mà là của nhiều ngành.
Nhƣ vậy, khác với vùng ngành, vùng công nghiệp bao trùm lên tất cả các
ngành công nghiệp. Trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, vùng ngành đƣợc
thể hiện dƣới dạng “da báo”, nghĩa là có thể không liền vùng, liền khoảnh.
Ngƣợc lại, đối với vùng công nghiệp thì bất kỳ một điểm (địa phƣơng) nào của
quốc gia đều phải nằm trong một vùng công nghiệp nào đó. Hơn nữa, vùng công
nghiệp không phải là tổng số của các vùng ngành cùng cộng lại, mà là vùng
hoàn toàn mới về chất, bởi vì tập hợp của các ngành theo lãnh thổ sẽ có các điều
kiện và đặc điểm phân bố khác xa so với từng ngành riêng lẻ.
Vùng công nghiệp có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Là bộ phận lãnh thổ lớn nhất trong số các hình thức tổ chức lãnh thổ
công nghiệp, nhƣng ranh giới không mang tính pháp lý.
+ Có thể bao gồm tất cả các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp từ
thấp đến cao (hoặc cũng có thể chỉ chứa đựng một vài hình thức nào đó) và giữa
chúng có các mối liên hệ chặt chẽ với nhau về sản xuất, công nghệ, kinh tế,…
+ Có một số nhân tố tạo vùng tƣơng đồng (sử dụng chung một vài loại tài
nguyên tạo nên tính chất tƣơng đối giống nhau của các ngành công nghiệp, cùng
có những thuận lợi về vị trí địa lý và các nguồn lực khác).
riêng, khác với các xí nghiệp phân bố ngoài khu công nghiệp.
+ Có ban quản lý thống nhất để thực hiện quy chế quản lý.
+ Có sự phân cấp về quản lý và tổ chức sản xuất. Về phía các xí nghiệp,
khả năng hợp tác sản xuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của từng
doanh nghiệp. Việc quản lý nhà nƣớc đƣợc thể hiện ở chỗ Nhà nƣớc chỉ quy
định những ngành (hay loại xí nghiệp) đƣợc khuyến khích phát triển và những
ngành (hay loại xí nghiệp) không đƣợc đặt trong khu công nghiệp vì lý do môi
trƣờng sinh thái hoặc an ninh, quốc phòng.
22
- Các khu công nghiệp rất khác nhau về tính chất và về loại hình. Thí dụ,
có khu công nghiệp chỉ xoay quanh một loại nguyên liệu nhất định với chuyên
môn hóa thống nhất, trong khi đó lại có khu công nghiệp tổng hợp với nhiều loại
hình xí nghiệp; hay có khu công nghiệp lớn, trung bình, nhỏ; hoặc có khu công
nghiệp đã hình thành hay đang trong quá trình hình thành…
Để thuận lợi cho việc phân loại các khu công nghiệp, có thể đƣa ra một số
tiêu chí cụ thể nhƣ: Vị trí địa lý, tính chất chuyên môn hóa, cơ cấu và đặc điểm
sản xuất, quy mô, sự độc lập hay phụ thuộc, trình độ công nghệ.
+ Về vị trí địa lý, các khu công nghiệp đƣợc hình thành ở những địa bàn
khác nhau. Vì thế nó có thể phân ra các khu công nghiệp nằm ở trung du hay
vùng núi, các khu công nghiệp ven biển, các khu công nghiệp dọc theo quốc lộ,
các khu công nghiệp nằm trong các thành phố lớn,…
+ Về tính chất chuyên môn hóa, cơ cấu và đặc điểm sản xuất, có thể chia
ra: các khu công nghiệp chuyên môn hóa (trên cơ sở xí nghiệp chuyên môn hóa
sử dụng một loại nguyên liệu cơ bản nhƣ than, điện, luyện kim, hóa chất), các
khu công nghiệp tổng hợp (cơ cấu đa dạng với nhiều ngành sản xuất) hoặc các
khu công nghiệp sản xuất chủ yếu để xuất khẩu (khu chế xuất).
+ Về quy mô, tùy thuộc vào điều kiện đất đai, vị trí thuận lợi và sự hấp
dẫn đối với các nhà đầu tƣ (trong và ngoài nƣớc), có thể chia thành: các khu
công nghiệp có quy mô lớn, các khu công nghiệp có quy mô vừa và các khu
tiến bộ khoa học kỹ thuật, nó không chỉ sử dụng các trang thiết bị hiện đại mà
còn có các phƣơng pháp tổ chức quản lý tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm có chất
lƣợng cao, giá thành thấp thông qua việc sản xuất theo dây chuyền. Các ngành
kinh tế khác đã áp dụng phƣơng pháp tổ chức, quản lý kiểu công nghiệp và đều
đạt hiệu quả cao. Ngay cả chính bản thân ngƣời công nhân đƣợc rèn luyện trong
môi trƣờng sản xuất công nghiệp cũng có tác phong công nghiệp khác hẳn với
nông nghiệp lao động có tính mùa vụ.
- Khu công nghiệp tạo điều kiện khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên
thiên nhiên nhƣ quặng, than đá,… Nhờ làm tốt các công tác thăm dò, khai thác
và chế biến tài nguyên mà danh mục các điều kiện tự nhiên trở thành tài nguyên
thiên nhiên phục vụ ngành sản xuất công nghiệp.
24
Hoạt động khu công nghiệp làm giảm bớt sự chênh lệch về trình độ phát
triển giữa các vùng miền, thành thị và nông thôn. Chính khu công nghiệp đã làm
thay đổi bộ mặt kinh tế của nông thôn, làm cho nông thôn nhanh chóng bắt kịp
đƣợc với đời sống đô thị.
- Khu công nghiệp đóng góp vào tích lũy của nền kinh tế và nâng cao đời
sông nhân dân. Nhờ có năng suất lao động và tốc độ tăng trƣởng cao, khu công
nghiệp góp phần tích cực vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho Nhà nƣớc, tăng
tích lũy cho các doanh nghiệp và thu nhập cho nhân dân.
Quá trình phát triển khu công nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trƣờng
cũng là quá trình tích lũy năng lực khoa học và công nghệ của đất nƣớc. Phát
triển khu công nghiệp góp phần đào tạo, rèn luyện và nâng cao chất lƣợng nguồn
lao động, đội ngũ chuyên gia khoa học và công nghệ. Nhƣ vậy, khu công nghiệp
góp phần tích lũy cho nền kinh tế, bao gồm nguồn tài chính, nguồn nhân lực và
trình độ khoa học công nghệ, những nhân tố cơ bản của sự phát triển.
Khu công nghiệp còn góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu lãnh thổ công nghiệp, góp phần phân công các khu, điểm công
nghiệp hợp lí hơn.
Một số khu công nghiệp dựa trên cơ sở một xí nghiệp liên hợp tiêu biểu:
Liên hợp gang thép Thái Nguyên, Liên hợp dệt Nam Định, Liên hợp dệt 8/3
(Minh Khai, Hà Nội), Liên hợp giấy Bãi Bằng (Phong Châu, Phú Thọ),…
- Đặc điểm chủ yếu của loại hình này là:
+ Các xí nghiệp (phân xƣởng) tập trung vào một lãnh thổ không lớn, với
diện tích trung bình là 50 - 60 ha.
+ Các xí nghiệp (phân xƣởng) có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về công
nghệ trong quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng, ngoài việc sử dụng chung kết
cấu hạ tầng sản xuất (điện, nƣớc,…), dịch vụ xã hội, nhà ở cho cán bộ công
nhân,…
Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên bao gồm hệ thống các xí nghiệp
(phân xƣởng) mang tính chất liên hợp hóa từ khâu luyện cốc, cung cấp khí cốc
cho lò luyện gang, rồi đến luyện thép, cán thép. Các khu công nghiệp dệt (Nam
Định, 8/3) bắt đầu từ khâu sợi rồi đến dệt vải, nhuộm in hoa và một số phân