BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÀN THỊ THƢƠNG
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN VÀO DẠY HỌC
KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƢỜNG TIỂU HỌC
14/6 HUYỆN MỘC CHÂU - SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
non, phòng nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, thư viện trường Đại học Tây
Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện khoá luận này.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu
học 14/6 - Huyện Mộc Châu - Sơn La đã giúp đỡ chúng em trong quá trình khảo
sát thực tế và thực nghiệm tại trường.
Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K51 Đại học Giáo dục Tiểu
học B đã quan tâm, động viên giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên
để khóa luận được hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Tác giả Bàn Thị Thương
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT HS : Học sinh
1.1.3. Quan niệm đổi mới trong dạy học kể chuyện ở tiểu học 12
1.2. Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1. Khảo sát chương trình sách giáo khoa phân môn Kể chuyện lớp 5 ở tiểu
học 16
1.2.3. Khảo sát thực trạng dạy - học kể chuyện lớp 5 trường Tiểu học 14/6
Huyện Mộc Châu - Sơn La 20
TIỂU KẾT 26
CHƢƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN
VÀO DẠY HỌC KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƢỜNG TIỂU
HỌC 14/6 HUYỆN MỘC CHÂU - SƠN LA 28
2.1. Sử dụng tranh minh họa vào dạy học kể chuyện 28
2.1.1. Vai trò của tranh minh họa 28
2.1.2. Yêu cầu khi sử dụng tranh minh họa 29
2.1.3. Các hình thức sử dụng tranh minh họa 32
2.1.4. Sử dụng tranh minh họa vào các phần bài học 35
2.2. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học kể chuyện 36
2.2.1. Vai trò của công nghệ thông tin 36
2.2.2. Cách thức sử dụng công nghệ thông tin 36
2.3. Một số đồ dùng trực quan khác 38
2.3.1. Vai trò 39
2.3.2. Yêu cầu 39
2.3.3. Cách sử dụng 39
TIỂU KẾT 40
CHƢƠNG 3. THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 41
3.1. Mục đích thể nghiệm 41
3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian thể nghiệm 41
3.3. Phương pháp thể nghiệm 42
3.4. Nội dung thể nghiệm 42
3.5. Kết quả thể nghiệm 43
KẾT LUẬN 52
việc dạy không chỉ đơn giản là đem kiến thức sẵn có đến cho học trò, mà đó còn
là việc tìm và khơi dậy trong lòng học trò những khả năng tiềm ẩn vốn có trong
tâm hồn chúng, đúng như lời của Galile vẫn nói: “Chúng ta không thể dạy bảo
cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm
ẩn trong họ”. Và có lẽ, sẽ chẳng có ai tự nhiên trở thành thiên tài, sẽ chẳng có ai
tự nhiên trở thành bậc vĩ nhân và cũng sẽ chẳng có ai tự nhiên trở nên tài giỏi
nếu mỗi người không biết khai thác chính khả năng tiềm ẩn của mình hoặc nhờ
một động lực nào đó thúc đẩy khả năng tiềm ẩn đó bùng phát.
2
Chính vì lẽ đó, nhiệm vụ của những người làm nghề giáo càng trở nên gian
nan khi: “Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi
dạy trẻ với chút ít nhiệt tình”.
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, phương pháp dạy học ở bậc tiểu học vẫn
còn tồn tại dạy phương pháp cũ, chưa tận dụng và khai thác hết các phương tiện
dạy học đặc biệt là đồ dùng trực quan, thậm chí còn dạy chay hoặc sử dụng đồ
dùng qua loa chiếu lệ, công tác chỉ đạo của các nhà quản lý giáo dục, quản lý
chuyên môn chưa triệt để. Xuất phát từ đó, đòi hỏi ngành giáo dục phải cải tiến
phương pháp - quản lý xây dựng sử dụng triệt để các thiết bị dạy học nhất là đồ
dùng trực quan để phát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người
trong xã hội mới.
3. Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong những môn
chính có vai trò rất quan trọng. Dạy tiếng Việt ở tiểu học tạo cho học sinh kỹ
năng sử dụng tiếng Việt thành thạo để vận dụng trong học tập, giao tiếp. Môn
Tiếng Việt gồm có bảy phân môn, mỗi phân môn có một vai trò và nhiệm vụ
khác nhau nhưng giữa các phân môn có mối quan hệ chặt chẽ, tích hợp với
nhau. Cũng như các phân môn khác, phân môn Kể chuyện có vị trí quan trọng,
đặc biệt trong việc dạy học tiếng mẹ đẻ vì hành động kể là một hành động “nói”
đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể
chuyện có sức mạnh của cả văn học. Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ
thơ. Sự hiểu biết về cuộc sống, con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ
Con người không những chỉ muốn biết những gì đang xảy ra hoặc sắp xảy ra,
mà còn muốn biết những gì đã xảy ra trong quá khứ (rất gần, rất xa trong lịch
sử). Hằng ngày, do vô tình hay cố ý ta có đủ thông tin về mọi chuyện trong nhà,
ngoài ngõ và rộng hơn là trong nước, trong vùng, trên thế giới, ngày nay hay
ngày xưa. Từ những chuyện lớn, chuyện nhỏ ta nghe kể từ tuổi ấu thơ bên bếp
lửa của bà, đến những điều nghe thầy cô, bạn bè kể, bình giảng ở trường, nhờ đó
sự hiểu biết về thế giới và con người cứ tăng dần lên theo năm tháng. Kể chuyện
là một hình thức thông tin nhanh gọn, truyền cảm bằng ngôn ngữ. Phân môn Kể
chuyện ở tiểu học được chia thành nhiều kiểu bài khác nhau, mỗi kiểu bài có vị
trí và vai trò nhất định trong quá trình hoàn thiện nhân cách cho các em. Trong
4
đó, phân môn Kể chuyện ở lớp 5 có vị trí quan trọng hơn cả. Chính vì vậy, hiện
nay có rất nhiều nhà giáo dục đã tiến hành các công trình nghiên cứu rèn kĩ năng
để các em có thể có được những tri thức cho bản thân các em tốt nhất. Nghiên
cứu chung các vấn đề dạy học, trong các tài liệu Cuốn “Phương pháp dạy học
tiếng Việt ở tiểu học” (tài liệu đào tạo giáo viên - 2007 của Bộ GD và ĐT), dự
án phát triển giáo viên tiểu học đã tổ chức biên soạn các môđun đào tạo giáo dục
trong đó có nêu ra các phương pháp dạy học cũng như quy trình dạy học phân
môn Kể chuyện theo chương trình sách giáo khoa ở tiểu học. Cuốn “Hướng dẫn
sử dụng và tự làm thiết bị dạy học môn tiếng Việt bậc tiểu học” (Tài liệu đào tạo
giáo viên - 2005 của Bộ GD và ĐT) đã nêu lên một số công thức giảng dạy
các phân môn bằng các thiết bị dạy học sẵn có hoặc các thiết bị dạy học tự
làm. Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học” (Lê Phương Nga -
NXB Đại học sư phạm). Sách gồm 5 chương trình bày về phương pháp dạy
học của 4 phân môn và phương pháp tổ chức các hoạt động ngoại khóa, trong
đó có một chương đi sâu về phương pháp dạy học kể chuyện. Cuốn sách cung
cấp những hiểu biết về vị trí, nhiệm vụ, cở sở khoa học và các nguyên tắc dạy
học kể chuyện.
Cuốn “Dạy học kể chuyện ở trường tiểu học” (Chu Huy) đã nêu ra vị trí,
nhiệm vụ và vai trò của phân môn Kể chuyện trong trường tiểu học. Cuốn sách
- Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức trong quá trình học phân môn Kể
chuyện của học sinh lớp 5 trường Tiểu học 14/6 Huyện Mộc Châu - Sơn La.
6. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
6.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện cho
học sinh lớp 5 trường Tiểu học 14/6 Huyện Mộc châu - Sơn La.
6.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu tác dụng của đồ dùng trực quan cho phân môn kể chuyện lớp 5 .
- Thực trạng dạy - học các kiểu bài kể chuyện của học sinh lớp 5 trường
Tiểu học 14/6 Huyện Mộc Châu - Sơn La. 6
7. Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tài: Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội
dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.
Chương 2 : Một số biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong phân môn
Kể chuyện cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học 14/6 Huyện Mộc châu - Sơn La.
Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm.
8. Giả thuyết khoa học và đóng góp của đề tài
Tìm hiểu biện pháp trực quan để rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5
là một vấn đề còn nhiều khó khăn được giáo viên tiểu học quan tâm. Nếu các
biện pháp em đề xuất chứng minh được tính khả thi, thì sẽ góp phần rèn luyện
kỹ năng đọc hiểu, cảm thụ tốt các tiết kể chuyện cho học sinh lớp 5 nói riêng và
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung cho học sinh
tiểu học trên địa bàn miền núi.
Đề tài là tài liệu cho sinh viên khoa Tiểu học - Mầm non trường Đại học
Tây Bắc trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
thực ra chỉ xuất hiện trong truyện cổ và chỉ có trong truyện cổ. Các em khi tiếp
xúc với truyện cổ sẽ không quên những từ ngữ đó. Khi tập kể lại, các em học
sinh có điều kiện sử dụng vốn ngôn ngữ của mình để kể lại, do đó cùng với tư
duy, ngôn ngữ cũng phát triển. Như vậy nhiệm vụ giáo dục của phân môn Kể
chuyện lại trở nên đa dạng, phong phú. Dạy tốt tiết kể chuyện, giáo viên sẽ tạo
điều kiện tốt cho sự phát triển năng khiếu ở nhiều học sinh, tạo điều kiện ươm
mầm cho những nhân tài mai sau. Đó cũng là một mặt trong việc xây dựng nhân
cách con người mới, con người của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Lịch sử luôn là những câu chuyện, khi đi học các em không những chỉ học
8
những thứ có trong sách vở, những câu chuyện được sáng tác bởi các nhà thơ, nhà
văn mà các em còn được tiếp xúc với nhiều các thể loại truyện khác nhau. Có
những câu chuyện diễn ra trong đời sống hằng ngày mà được trực tiếp các em
chứng kiến nó, trực tiếp tham gia vào câu chuyện đó. Điều đó đã góp phần tạo
nên ở các em tính sáng tạo, cách ghi chép các sự kiện một cách lôgic, có hệ thống.
Sau đây, em đi vào phân tích một số cơ sở khoa học chi phối một cách trực
tiếp đến dạy học kể chuyện.
1.1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành
viên trong cộng đồng người, đồng thời cũng là phương tiện để phát triển tư duy.
Khi có ngôn ngữ phong phú thì lời văn khi viết mới hay. Nói cách khác, muốn
viết đúng, viết hay thì cần phải nói đúng, nói hay. Do vậy, trong quá trình dạy
học, giáo viên phải coi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng trong quá
trình giáo dục trẻ thơ thành con người phát triển toàn diện.
Trong giao tiếp, diễn ra hoạt động trau dồi các ngôn bản. Sự trau dồi này
bao gồm hai loại hành động luôn gắn bó vào nhau: Hành động sản sinh ngôn
bản (bao gồm hành động nói ra hoặc viết ra các nội dung giao tiếp) và hành
động lĩnh hội văn bản tiếp nhận được (bao gồm hành động hiểu ngôn bản, đọc
được, nghe được). Các hành động sản sinh và lĩnh hội ngôn bản đó được coi là
hành động ngôn ngữ. Trong xã hội loài người, phần lớn nhất và trọng yếu nhất
lên, đời sống vật chất và tinh thần ngày một phong phú thì kể chuyện không chỉ
dừng ở mức độ thông tin nữa mà mang thêm chức năng giải trí, hay cao hơn nữa
là chức năng nghệ thuật. Nhờ vậy mà kho tàng đồ sộ truyện cổ dân gian hết sức
giàu có, hết sức đa dạng được truyền lại đến ngày nay bằng hình thức kể.
Trải qua 10 thế kỉ Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam sở dĩ bảo toàn bản lĩnh và
bản sắc dân tộc độc đáo, không bị phong kiến phương Bắc xâm lược, đồng hóa
thôn tính, một phần là nhờ ở hùng khí những câu chuyện cổ. Chùm truyền
thuyết về Âu Cơ, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy
Tinh, An Dương Vương, bánh chưng bánh giầy, An Tiêm đã nhen nhóm niềm
tin tất thắng về một tương lai của cả một dân tộc bị ngoại bang thống trị.
10
Cho đến năm 939, với chiến thắng của Ngô Quyền, dân tộc ta đã bẻ gãy cái
vòng xiềng xích “quận huyện” của bọn phong kiến nhà Hán. Ta lại là ta, ta là dân
tộc Việt Nam chứ không thể là ai khác. Chùm truyện cổ về háo khí dân tộc ấy nhờ
vậy mà được bảo tồn và phát triển mãi mãi bằng hình thức truyền miệng. Trong
một thời gian lịch sử lâu dài, khi đã có văn tự để ghi chép, in ấn rồi thì kể chuyện
vẫn còn tồn tại và tiếp tục phát triển song song với sự phát triển của văn tự.
(Chu Huy, Tài liệu đã dẫn, trang 12-13)
Trong chương trình học, phân môn Kể chuyện lớp 5 không chỉ có những
câu chuyện được truyền lại mà còn có các câu chuyện về đời sống hằng ngày,
những câu chuyện mà các em được tiếp xúc trực tiếp, được chứng kiến hoặc
tham gia. Tất cả những cốt truyện với nhiều thể loại truyện khác nhau sẽ giúp
cho các em có được sự hiểu biết về nhiều phong cách khác nhau, là nền tảng ban
đầu cho sự hình thành các thao tác tư duy, phân loại tác phẩm văn học.
1.1.1.3. Cơ sở tâm lý học
Cơ sở lý luận của sự nhận thức chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định trí tuệ
nhân loại điểm xuất phát từ thực tiễn, từ đó xây dựng nên những khái niệm,
lý luận và quay trở lại thực tiễn kiểm nghiệm. Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường nhận thức
của nhân loại. Phương tiện trực quan, kể cả ngôn ngữ lời nói sinh động làm
thống này phản ánh cấu trúc văn hoá như một hệ thống kinh nghiệm xã hội cần
truyền lại cho thế hệ sau. Để chiếm lĩnh tri thức, nhà giáo dục phải cùng với
phương pháp, phương tiện giúp học sinh thực hiện hoạt động, nhận thức được dễ
dàng dưới 2 dạng cơ bản: tái tạo và sáng tạo. Nói một cách dễ hiểu là tâm lý học
có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng các phương pháp dạy
học, hay nói cách khác là tâm lý chi phối trực tiếp vào các hoạt động nhận thức
của con người vì vậy ta phải đặt chúng trong cùng một mối quan hệ để có thể
thấy rõ được điều đó.
1.1.2. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học
Ở giai đoạn học mầm non, hoạt động chủ đạo của các em là vui chơi, các
hoạt động học được đan xen giữa các hoạt động vui chơi như các trò chơi, các
bài hát, các bài múa, bài vè, bài thể dục. Qua các hoạt động vui chơi đó các em
12
dần hình thành các biểu tượng, khái niệm một cách sơ giản làm nền móng đầu
tiên cho các cấp học tập sau này. Bước sang giai đoạn tiểu học tuy là sự chuyển
tiếp nhưng hoạt động chủ đạo không còn là vui chơi nữa mà thay vào đó là hoạt
động học tập. Các em đã được học một cách bài bản theo hệ thống các kiến thức
trong sách giáo khoa, hoạt động vui chơi vẫn còn nhưng chiếm tỷ lệ ít hơn rất
nhiều. Tuy vậy, lứa tuổi tiểu học vẫn mang nặng tư duy trực quan cụ thể và khái
quát. Bậc học tiểu học là giai đoạn đầu tiên của sự hình thành và phát triển nhân
cách. Ở giai đoạn này tri giác của các em còn mang tính đại thể, chưa có khả
năng phân tích, tách các dấu hiệu các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó. Tri
giác thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn, trẻ chỉ cảm nhận được
những cái nó cầm, nắm. Đặc biệt những cái trực quan, rực rỡ, sinh động được
các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tốt hơn. Tư duy của của học sinh tiểu
học là tư duy trực quan, cụ thể. Chính vì những đặc điểm tâm lý đặc trưng đó
nên trong giảng dạy cần kết hợp sử dụng các phương tiện, đồ dùng, thiết bị dạy
học để các em có thể tiếp thu bài học một cách hiệu quả. Người giáo viên tiểu học
phải nắm được những đặc điểm này người dạy sẽ có những phương pháp, cách
thức tổ chức dạy học đạt hiệu quả tốt. Lớp 5 là lớp học cuối cấp I, ở giai đoạn này
trình bày.
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan như bản mẫu, bản
đồ, tranh vẽ, hình ảnh…
Trình bày gắn liền với thiết bị kĩ thuật, chiếu phim, trình bày đồ dùng trực
quan. Trong thực tế dạy học, giáo viên thường sử dụng các phương tiện trực
quan khác nhau như:
Vật thật: Thực vật, động vật tươi sống, các hiện tượng tự nhiên giúp các em
gần gũi với đời sống thực tế, gây ấn tượng sâu sắc, gây hứng thú học tập cho
học sinh.
Vật tượng trưng: Bản đồ, sơ đồ, bảng biểu giúp học sinh thấy được một cách
trực quan các sự vật, hiện tượng được biểu diễn dưới dạng khái quát và đơn giản.
Vật tạo hình: Tranh ảnh, hình vẽ, phim…ngoài khả năng quan sát trực tiếp
các sự vật, hiện tượng không thể trông thấy được.
14
Khi sử dụng các phương tiện này giáo viên cần chú ý về số lượng, hình
thức, cách trình bày của chúng đảm bảo phát triển năng lực quan sát, hình thành
tư duy trực quan cho học sinh và hoàn thành tốt mục tiêu của bài học.
1.1.3.4. Vai trò, chức năng của các phương tiện trực quan (đồ dùng dạy học)
Phương tiện trực quan, đồ dùng trực quan là những thứ nằm trong các thiết
bị dạy học.
TBDH chúng ta hiểu là công cụ của giáo viên và học sinh, TBDH gồm
nhiều loại hình khác nhau: tranh ảnh, bản đồ, biểu bảng, mô hình, mẫu vật, hóa
chất, dụng cụ thí nghiệm, băng ghi âm, băng ghi hình, phim, đèn chiếu, phim xi
nê, đĩa mềm vi tính Mỗi loại hình này phát huy tính năng, tác dụng khác nhau
trong quá trình dạy học nói chung và từng môn học nói riêng.
Ở đây em lựa chọn những loại hình thiết bị dạy học tiêu biểu làm đồ dùng
trực quan nhằm nghiên cứu, vận dụng những đồ dùng ấy trong phân môn kể
chuyện cho học sinh lớp 5. Ở nhà trường tiểu học, những đồ dùng trực quan mà
em lựa chọn là những thiết bị có thể ứng dụng rất nhiều và phù hợp với đặc
điểm của phân môn kể chuyện như: tranh ảnh, băng ghi âm, băng ghi hình, phim
Trong quá trình dạy - học kể chuyện, học sinh tự nhận thức bằng hình ảnh
thị giác, bằng tưởng tượng để tái hiện lại hình tượng tác phẩm, cụ thể hóa hình
ảnh làm cho các nhân vật, sự vật, quang cảnh thiên nhiên, xã hội muôn màu
muôn vẻ như đang hiện ra trước mắt mình có thể nhập vai, nhân hóa nói lên
những ý nghĩ thầm kín, bộc lộ tính cách của họ, liên tưởng để thấy rõ hơn vẻ
đẹp của hình tượng tác phẩm.
Các nhà tâm lý đã khẳng định: “Tưởng tượng là quá trình tạo ra những biểu
tượng mới (hình ảnh mới) dựa trên biểu tượng đã có. Tri giác đem lại, nhờ vào
những khái niệm đã hình thành trong ý thức thông qua các quá trình tư duy”.
Các hình ảnh tưởng tượng được hình thành không chỉ bằng con đường các
yếu tố hình ảnh trí nhớ, mà còn bằng con đường cải biến các yếu tố đó và bổ
sung vào những yếu tố mới. Chính vì vậy, hình ảnh trong tưởng tượng của mỗi
học sinh không phải chỉ là những hình ảnh sao chép, nguyên mẫu những gì đã
quan sát được, mà là những hình ảnh đã được cải biến, sáng tạo thêm cho phù
hợp với cuộc sống, sự hiểu biết của mỗi em.
16
Việc bồi dưỡng trí tưởng tưởng còn góp phần giúp cho đạo đức, tình
thương được nảy nở trong tâm hồn các em. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nhận
định: “Một tâm hồn không có trí tưởng tượng thì không có đạo đức. Văn học
nghệ thuật nuôi đạo đức trong lòng người bằng nhiều cách nhưng có một cách
rất quan trọng là làm cho trí tưởng hoạt động lên, phong phú lên”.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khảo sát chƣơng trình sách giáo khoa phân môn Kể chuyện lớp
5 ở tiểu học
Chương trình kể chuyện ở tiểu học được phân bố theo các lớp như sau:
- Ở lớp 1, trong phần Học vần chưa có giờ kể chuyện riêng, nhưng từ phần
luyện tập tổng hợp (bắt đầu từ tuần 23) 1 tiết/tuần
- Ở lớp 2, mỗi tuần có 1 tiết/tuần.
- Ở lớp 3, 5 tiết kể chuyện/tuần, học chung trong 1 tiết với bài tập đọc đầu tuần.
- Ở lớp 4, 5 phân môn Kể chuyện học 1 tiết/tuần.
cầu HS phải tự sưu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hằng ngày (nghe
người thân hoặc ai đó kể) để kể lại. Kiểu bài này trước đây chỉ có trong giờ
TLV. Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho HS, kiểu bài kể lại câu
chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện còn có mục đích kích thích HS ham
đọc sách.
Kiểu bài kể lại câu chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia yêu cầu HS
kể những chuyện người thật, việc thật có trong cuộc sống xung quanh mà các
em đã biết, đã thấy, cũng có khi chính các em là nhân vật của câu chuyện. Kiểu
bài này trước đây chỉ có trong giờ TLV. Các bài kể chuyện được chứng kiến
hoặc tham gia rất đa dạngvì chúng gắn với các chủ điểm của sách.
Bên cạnh mục đích rèn luyện kĩ năng nói,kiểu bài kể chuyện được chứng
kiến, tham gia còn có mục đích rèn cho HS thói quen quan sát, ghi nhớ. So với
các câu chuyện ở lớp 2, 3 thì các chuyện ở lớp 5 có độ dài lớn hơn, tình tiết
phức tạp hơn, nội dung sâu sắc hơn. Những câu chuyện này nói về những phẩm
chất tốt đẹp mà con người cần phải rèn luyện gắn với các chủ điểm học tập.
Các bài học kể chuyện lớp 5 được phân bố theo các tuần học như sau:
Học kì I:
18
1. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Lí Tự Trọng)
2. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện về các anh hùng, danh nhân
của nước ta)
3. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Kể việc làm tốt góp phần xây
dựng quê hương đất nước của một người mà em biết)
4. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Tiếng vĩ cầm ở Mĩ Lai)
5. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện ca ngợi hòa bình chống chiến
tranh)
6. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Chọn một trong hai đề: Kể một
câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một việc em đã làm thể hiện tình hữu nghị
giữa nhân dân ta với nhân dân các nước/Nói về một nước mà em được biết qua
truyền hình phim ảnh)
22. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Ông Nguyễn Khoa Đăng)
23. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện về những người đã góp sức
mình bảo vệ trật tự an ninh)
24. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Kể một việc làm tốt góp phần
bảo vệ trật tự an ninh nơi làng xóm, phố phường)
25. Kể chuyện đã nghe thấy cô kể trên lớp (Vì muôn dân)
26. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện nói về truyền thống hiếu học
hoặc truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam)
27. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Chọn một trong hai đề bài sau:
Kể một câu chuyện trong cuộc sống nói lên truyền thống tôn sư trọng đạo của
người Việt Nam/ Kể một kỉ niệm về thầy giáo hoặc cô giáo của em, qua đó thể
hiện lòng biết ơn của em với thầy cô)
28. Ôn tập
29. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Lớp trưởng lớp tôi)
30. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể về một phụ nữ anh hùng hoặc một phụ nữ
có tài)
31. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Kể về một việc làm tốt của
bạn em)