Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY TÊN ĐẾ TÀI
TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÁY SÀNG
PHÂN LOẠI HẠT MÀI Học viên: Nguyễn Văn Kiền
Lớp: Cao học K11
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
TÊN ĐẾ TÀI
việc nghiên cứu trong nước là một giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế . Hiện ở trong
nước chưa có một cơ sở nào sản xuất máy mài phân loại hạt mài, dựa trên những yêu
cầu thực tiễn về chế tạo máy, luận văn đã chọn hướng nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy
sàng phân loại hạt mài nhằm thay thế máy nhập ngoại có giá thành tương đối cao.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu nghiên cứu và thực nghiệm
nhưng luận văn không tránh khỏi những điều thiếu sót và nhiều điểm cần hoàn thiện bổ
sung. Tác giả rất mong và trân trọng mọi sự đóng góp, phê bình của các thầy và đồng
nghiệp đối với luận văn.
Em xin trân trọng cám ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Kỹ thuật Công
nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Xin trân trọng cám ơn các thầy giáo trong Hội đồng bảo vệ Đề cương luận văn
đã góp ý, chỉnh sửa và phê duyệt đề cương luận văn của em được hoàn thành với nội
dung tốt nhất.
Đặc biệt, em xin cám ơn thầy TS Vũ Ngọc Pi đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ
cho em hoàn thành luận văn này.
Luận văn này là một phần công việc của đề tài nghiên cứu của Nghiên cứu sinh
Trần Quốc Hùng ( Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật, đại học Thái Nguyên). Tôi xin
trân trọng cám ơn Nghiên cứu sinh Trần Quốc Hùng đã tận tình giúp đỡ và hợp tác
trong quá trình làm đề tài.
Xin chân thành cám ơn các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên về
tinh thần và vật chất cho bản thân trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Em xin cam đoan các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác ( trừ một số tài liệu tham khảo như
đã nêu trong luận văn).
Tác giả luận văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.2. Phƣơng pháp đóng cặn
19
1.3.3. Phƣơng pháp dùng kính hiển vi
20
1.2.4. Phƣơng pháp dùng nhiễu xạ ánh sáng
20
1.2.5. Phân tích sàng
20
1.2.5.1. Nguyên lý cơ bản phân tích sàng
21
1.2.5.2. Đánh giá kết quả phân tích sàng
23
1.3. Máy sàng phân loại hạt mài
24
1.3.1. Các kiểu máy sàng
28
1.4. Kết luận chƣơng I
32
CHƢƠNG II: Thiết kế động học máy
33
2.1. Cơ sở thiết kế động học
33 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3
2.2. Thiết kế sơ đồ động học
35
4.1.1. Thiết kế thí nghiệm
43
4.1.2. Thí nghiệm 1
45
4.1.2.1. Trình tự thí nghiệm
45
4.1.2.2. Kết quả và nhận xét
47
4.1.3. Thí nghiệm 2
58
4.1.3.1. Trình tự thí nghiệm
58
4.1.3.2. Kết quả và nhận xét
59
4.2. Kết luận
69
CHƢƠNG V: Kết luận và kiến nghị
70
5.1. Kết luận
70
5.2. Kiến nghị
71 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4
PHỤ LỤC
72
5
4.1
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 12mm
47
6
4.2
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 12mm
47
7
4.3
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 12mm
48
8
4.4
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =21Hz, e= 12mm
48
9
4.5
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =22Hz, e= 12mm
48
10
4.6
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 12mm
52
17
4.13
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 12mm
52
18
4.14
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 9mm
53 19
4.15
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 9mm
54
20
4.16
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 9mm
54 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
27
4.23
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 11mm
61
28
4.24
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 11mm
62
29
4.25
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 11mm
62
30
4.26
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =17Hz, e= 12mm
63
31
4.27
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 12mm
63
32
4.28
Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 12mm
63
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ TT
Bảng
Nội dung
Trang
1
1.1
Định nghĩa hệ số kéo dài và hệ số dẹt của hạt
16
2
1.2
Kiểu mắt lưới sàng thường sử dụng
21
3
1.3
Sàng có mắt lưới bằng thép
23
4
1.4
Cơ cấu sàng kiểu tay quay
25
5
41
13
3.3
Biểu đồ mô men uốn
41
14
4.1
Ảnh chụp sàng sử dụng trong máy đã chế tạo
44
15
4.2
Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=12
49
16
4.3
Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=13
51
17
4.4
Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=14
53
18
4.5
Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=11
55
19
4.6
Đồ thị biểu diễn thời gian sàng phụ thuộc vào tốc độ và
độ lệch tâm e khi thí nghiệm 200g hạt Granit ( Ấn Độ)
56
69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
NỘI DUNG
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Hạt mài là vật liệu được sử dùng nhiều trong các lĩnh vực công nghiệp khác
nhau. Trong ngành cơ khí, hạt mài được dùng để sản xuất đá mài, dùng để đánh bóng,
để làm sạch bằng phun hạt mài ( phun cát), dùng trong gia công bằng dòng hạt mài, gia
công bằng tia nước có hạt mài v.v…
Để sử dụng hạt mài vào các mục đích trên, cần phải phân loại hạt mài ra các
kích cỡ khác nhau. Việc phân loại hạt mài không chỉ cần thiết cho sản xuất hạt mài, đá
mài v.v…mà còn đặc biệt cho quá trình nghiên cứu về hạt mài và gia công mài.
Để phân loại hạt mài ra các kích cỡ khác nhau phục vụ cho nghiên cứu người ta
sử dụng các máy sàng phân loại hạt mài và các sàng với các cỡ mắt sàng khác nhau.
Trên thế giới hiện nay có nhiều hãng chế tạo các loại máy sàng này như máy của hãng
Endecott, Retsch, Impact Test Equipment , Humboldt, Tylerv.v
Mặc dù đã có nhiều hãng chế tạo máy phân loại cỡ hạt mài nhưng cho các công
trình nghiên cứu về thiết kế máy này còn chưa có. Đặc biệt, vấn đề thiết kế hợp lý và
thiết kế tối ưu các thông số của máy như tần số rung và biên độ rung v.v… còn chưa
thấy đề cập.
Cho đến nay ở nước ta chưa có cơ sở nào sản xuất các loại máy phân loại hạt
mài. Thêm vào đó, giá thành của các máy nhập ngoại quá cao nên trong điều kiện kinh
tế nước ta đang còn khó khăn thì vấn đề đầu tư mua sắm là rất tốn kém
3.1/ Ý nghĩa khoa học:
- Ý nghĩa khoa học của đề tài thể hiện trong việc xác định tối ưu các thông số
của máy là tần số rung và biên độ rung của sàng nhằm đạt năng suất phân loại là cao
nhất.
3.2/ Ý nghĩa thực tiễn:
- Máy phân loại cỡ hạt mài được sản xuất trong nước có giá thành thấp hơn so
với sản phẩm nhập ngoại ( dự kiến giảm được 40 đến 50 % giá thành).
- Máy được dùng để phân loại các loại cỡ hạt mài để phục vụ cho nghiên cứu
hạt mài, gia công làm sạch bằng hạt mài hoặc trong sản xuất hạt mài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7
4.Nội dung luận văn:
Kết cấu chính của luận văn gồm 7 phần:
Chương 1.Tổng quan về máy sàng phân loại cỡ hạt mài
- Giới thiệu sơ lược về các phương pháp phân loại hạt mài
- Nghiên cứu tổng quan về các loại máy phân loại cỡ hạt mài : cấu tạo, nguyên
lý làm việc và các thông số chính của các loại máy đã sản xuất trên thế giới.
- Tìm hiểu về các nghiên cứu đã có về máy phân loại cỡ hạt mài.
Chương 2: Thiết kế động học máy.
- Lựa chọn loại máy trên cơ sở phân tích ưu điểm, nhược điểm mô hình của một
số máy phân loại hạt mài đã được sản xuất trên thế giới.
- Thiết kế động học máy.
- Xây dựng kết cấy máy.
Chương 3: Thiết kế động lực học máy.
- Tính toán thiết kế các bộ truyền trong máy.
- Kiểm nghiệm bền cho một số chi tiết truyền lực chính của máy
trắng, mônôcorunđum ( coranhđông đơn) M, cácbit silic xanh K3 và đen K4, các bít
bo, cácbit borosilicat, corunđum điện crôm 9X, corunđum điện titan.
a. Kim cƣơng:
Kim cương là khoáng sản thiên nhiên gồm than và một lượng hợp chất rất nhỏ.
Nhiều tinh thể kim cương được xếp vào loại đá quí nhất vì chúng hơn những đá quí
khác về vẻ đẹp và tia óng ánh. Kim cương giòn, nhưng độ cứng rất cao, có thể vạch
xước bất kỳ khoáng sản nào gặp trong tự nhiên.
Việc khai thác kim cương ở trong tự nhiên đặc biệt khó khăn, thậm chí trong
một tấn quặng ở những mỏ giàu nhất chỉ có 0,02 – 0,1g kim cương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9
Từ những năm 1960 người ta đã tổ chức sản xuất kim cương nhân tạo ( tổng
hợp) trên qui mô công nghiệp với một số hiệu: ACO – độ bền thông thường, có kích
thước hạt 40 -250 µm, ACP – độ bền nâng cao có kích thước hạt 50 -315 µm ,ACB –
độ bền cao có kích thước hạt 60 -400 µm ,ACM – bột mịn, có kích thước 1 -40 µm.
Gần đây đã chế tạo được kim cương tổng hợp với các nhản hiệu mới: ACK và ACKC
có độ bền không kém kim cương nhân tạo.
Các tinh thể kim cương thiên nhiên dùng để chế tạo dao cắt bằng kim cương,
mũi khoan, ổ, dao cắt kính, mũi khoan mỏ, các đầu của dụng cụ đo độ cứng và độ nhấp
nhô bề mặt, khuôn kéo dây đường kính nhỏ. Tuy nhiên kim cương được dùng rộng rãi
hơn cả để mài sắc và đánh bóng dụng cụ hợp kim cứng và để gia công các chi tiết bằng
hợp kim cứng, kính quang học, sứ và những vật liệu cứng khác. Tinh thể kim cương
cũng dùng để sửa đá mài ở những nguyên công có yêu cầu cao về chất lượng bề mặt và
độ chính xác của chi tiết.
Ký hiệu của kim cương tự nhiên là A, còn kim cương nhân tạo là AC
b. Corunđum:
nhôm pha quặng crôm trong lò điện hồ quang nung quặng, sản phẩm thu được chứa ít
nhất 97% Al
2
O
3
và 0,4 -1,2 Cr
2
O
3
. Hạt EX có màu hồng hoặc màu anh đào thẫm ( như
màu mận chin), có độ ổn định về tính chất cơ lý cao hơn so với EB và có chứa nhiều
đơn tinh thể hơn.
Corunđum điện titan ( xaphia kỹ thuật): thu được cũng bằng cách nung chảy,
nhưng chất pha thêm là titan đioxyt. Dạng hạt của ET cho phép nâng cao khả năng mài
của chúng.
Mônôcorunđum –M (corunđum đơn): Thu được do kết quả tác dụng tương hỗ
giữa silic oxyt ( SiO
2
) và cacbon trong lò điện trở, hàm lượng SiC khoảng 98 -99% và
một lượng rất nhỏ các khoáng sản khác. Trong công nghiệp người ta sản xuất hai dạng
cacbit silic xanh và đen, chúng khác nhau ở màu sắc và một vài cơ tính. Cacbit silic
xanh giòn hơn so với cácbit silic đen.
Cacbit bo: Thu được trong lò điện hồ quang do kết quả tác dụng tương hỗ giữa
Bo oxyt và cốc dầu mỏ ít tro. Cacbit bo là dung dịch đặc của Bo B
4
C với hàm lượng
đến 94% B
4
C, gần 1,5% cacbon tự do và tổng cộng đến 74% bo. Trong công nghiệp,
người ta sản xuất bột mài từ cacbit bo với độ hạt 12 – 4 và bột mài mịn M40, M28.
Bảng 1.1-Vật liệu mài theo nhóm độ lớn hạt [ 1]
Tên nhóm
Số liệu của hạt
Hạt mài
Bột mài
Bột min
200; 160; 125; 100; 80; 63; 50; 40; 32;
25; 20; 16
12; 10; 8; 6; 5; 4; 3
M40; M28; M20; M14; M10; M7; M5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12
Trong những hạt ứng với một số liệu nhất định có thể lẫn cả hạt của các số hiệu
lân cận nhỏ hơn và lớn hơn. Vì vậy mỗi số hiệu được đặc trưng bởi nhóm ( kích
thước): giới hạn, lớn, cơ bản, phức hợp và nhỏ.
Đặc trưng cơ bản của số hiệu độ hạt là số lượng và độ lớn của nhóm cơ bản của
nó. Các giới hạn về kích thước hạt của nhóm cơ bản trình bày ở bảng dưới.
Bảng 1.2 -Các kích thƣớc hạt của nhóm cơ bản của vật liệu hạtmài [ 1]
Ký hiệu độ hạt
Giới hạn kích thƣớc hạt
của nhóm cơ bản
46
54
60
70
80
BỘT MÀI
100
120
2500 – 2000
2000 – 1600
1600 – 1250
1250 – 1000
1000 – 800
800 – 630
630 – 500
500 – 400
400 – 315
315 – 250
250 – 200
200 – 160 160 – 125
125 – 100 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
80 – 63
63 – 50
50 – 40
40 – 28
40 – 28
28 – 20
20 – 14
14 – 10
10 – 7
7 – 5
5 – 3
Mỗi số hiệu hạt mài không chứa dưới 45% nhóm cơ bản, không quá 20% nhóm
lớn hơn và không chứa dưới 90% nhóm phức hợp ( bao gồm các số hiệu cơ bản cùng
các số hiệu lớn và nhỏ lân cận).
Hạt mài không có hình dạng nhất định khi nghiền nhỏ. Chúng thường là những
hình chóp đa diện, lập phương, hình cầu hoặc dạng tấm phẳng .
1.1.3. Phân tích cỡ hạt:
Tính chất và thuộc tính của hạt vật liệu tùy thuộc vào hình dạng, kích thước và
tỷ lệ phân bố kích thước của chúng có trong mẫu vật liệu. Trả lời câu hỏi: “ Hạt là gì?”.
Có thể đó là một điều không dễ dàng, để hiểu cơ bản vấn đề này ta cần đến kết quả của
những kỹ thuật phân tích cỡ hạt khác nhau. Hình dạng hạt và quá trình phân loại hạt
vật liệu là một vấn đề rất phức tạp cho sự phân tích cỡ hạt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15
- Dạng hình cột: hạt có chiều dài tương đối, chiều rộng và chiều dày lớn hơn hạt
dạng hình kim.
- Dạng tấm: hạt có dạng tấm phẳng, chiều dài và chiều rộng tương đối, còn
chiều dày nhỏ.
- Dạng hình khối: là hạt có chiều dài, chiều rộng và chiều dày tương tự nhau nó
bao gồm những hạt có hình lập phương hay hình cầu.
Tuy nhiên kiểu mô tả định tính đôi lúc là chưa đầy đủ, điều này yêu cầu có định
nghĩa về hệ số định lượng để đặc trưng cho hình dạng của hạt, để xét hình dạng của hạt
người ta còn xét đến tỷ lệ tương đối giữa chiều dài, chiều rộng, chiều dày và dạng hình
học của chúng.
Tỷ lệ tương đối giữa hai nhân tố của hạt thường được định nghĩa như sau: [12]
Hệ số kéo dài:
p
p
e
b
l
r
Hệ số dẹt:
p
p
F
t
b
r
S
4
Hình 1.1 - Định nghĩa hệ số kéo dài và hệ số dẹt của hạt [ 13]
-d
circle
là đường kính của vòng tròn đường bao của hình chiếu của hạt lên một
mặt phẳng. Độ tròn được giới hạn từ 0 ( cho những hạt rất góc) cho đến 1 đối với
những hạt tròn lý tưởng ( hình cầu)
1.1.3.2 Kích thƣớc hạt:
Chưa có cơ sở lý luận để chúng ta nói tới dạng hạt hay kích thước hạt để từ đó
chúng ta đưa ra định nghĩa đường kính hạt. Đối với một hạt hình cầu thì điều này rất dễ
dàng khi ta xác định đường kính duy nhất của chúng. Đối với những hạt ở dạng khác
thì khái niệm về kích thước yêu cầu định nghĩa bỡi một hoặc nhiều tham số. Thông
thường để thuận lợi nhất người ta dùng đường kính dẫn xuất để đưa ra khái niệm kích
thước hạt. nó được hiểu như là đường kính của một hình cầu tương đương tới thuộc
tính kích thước nào đó của hạt. Đa số người ta sử dụng chiều dài và chiều rộng để biểu
diễn kích thước của hạt, tất cả cách mô tả đường kính dẫn xuất cho kích thước hạt là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
d
.
Trong đó: n
i
là số hạt có đường kính d
i
Sai lệch tiêu chuẩn trong phân bố hạt được tính: [ 10] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18 i
iitb
n
ndd
.)(
2
giản và rẻ. Khó khăn chính của phương pháp này là khó thực hiện đo các hạt hình kim,
khi các hạt vật liệu bị ướt và vón cục, hay đo các hạt vật liệu có kích thước bé hơn
38µm.
Sàng là dụng cụ quan trọng để phân loại kích thước hạt, để tiến tới những cái
máy sàng như ngày nay, ban đầu người ta cũng sử dụng những cái sàng bằng tay. Quá
trình sàng thực chất là chúng ta làm cho hạt vật liệu di chuyển trên bề mặt sàng theo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 19
một phương nào đó, kết quả trong quá trình di chuyển các hạt có kích thước nhỏ hơn
mắt lưới sàng sẽ đi qua lỗ sàng. Trong những năm gần đây chúng ta nhận thấy sự tiến
bộ nhiều mặt của phương pháp sàng. Từ chỗ ban đầu người ta sử dụng những cái sàng
bình thường thì đến bây giờ có thể phân tích đúng đắn kích cỡ hạt bằng những máy
sàng có độ chính xác cao.
1.2.2 Phƣơng pháp lắng cặn:
Đây là phương pháp đo truyền thống thường dùng trong công nghiệp sơn và đồ
gốm. Nguyên lý của phép đo được dựa vào qui luật lắng cặn theo lớp. Sử dụng qui luật
này sẽ nảy sinh một trong các vấn đề: Một là mật độ của hạt có trong mẫu có ảnh
hưởng đến quá trình lắng, hai là phương pháp này không tốt khi các hạt vật liệu có
trong hỗn hợp có độ lắng đọng không ổn định hay có các hạt xảy ra quá trình lắng rất
nhanh và dày đặc.Một điều khác là nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến độ nhầy của hỗn hợp
lắng, khi thay đổi nhiệt độ thì độ nhầy cũng thay đỗi ( nhiệt độ thay đỗi 1
o
C thì độ nhầy
thay đỗi 2%)[ 10]. Hơn nữa quá trình lắng thường có thời gian rất dài và do đó quá
trình đo diễn ra rất chậm do đó để lặp lại một lần đo là rất chậm. Ngoài ra hình dạng
của hạt cũng ảnh hưởng đến quá trình lắng, qui luật này chỉ phù hợp với những hạt có
- Một máy dò tìm thích hợp: thường là một tấm silic cảm quang với một máy dò
tìm.
- Một số thiết bị để tạo cho chùm laser đi xuyên qua mẫu vật liệu cần đo. Những
hạt cần đo có thể được đo bỡi các chùm laser tuần hoàn chiếu qua mẫu vật liệu.
Sự nhiễu xạ ánh sáng laser đem lại những ưu điểm : Không yêu cầu một dụng
cụ theo tiêu chuẩn; làm khô các hạt đo trực tiếp; toàn bộ mẫu đều được đo ( ánh sáng
nhiễu xạ đều đi xuyên qua tất cả các hạt); là phương pháp đo không phá hoại và không
xâm nhập các hạt của mẫu; kết quả đo nhanh.
1.2.5. Phân tích bằng sàng:
Thời gian sàng một mẫu vật liệu phụ thuộc vào việc lựa chọn phương pháp
sàng, có nghĩa phương pháp sàng đó tạo ra chuyển động nằm ngang hay chuyển động
thẳng đứng của hạt, điều đó tạo ra một chuyển động tương đối giữa các hạt vật liệu và
cái sàng. Những hạt đi qua lỗ sàng hoặc giữ lại trên sàng phụ thuộc vào kích thước của
tất cả các hạt trong mẫu. Xác suất để một hạt đi xuyên qua lỗ sàng được xác định tỷ lệ
kích thước hạt với kích cỡ mắt lưới sàng, hướng chuyển động của hạt, số lần những