DANH SÁCH NHÓM 09
STT HỌ VÀ TÊN
MSSV
GHI CHÚ XẾP LOẠI KÍ TÊN
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
LỜI CẢM ƠN
Nhóm 09 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến trường Đại học Công
nghiệp Tp Hồ Chí Minh cơ sỏ Thanh Hoá đã tạo điều kiện cho chúng em được học
tập môn “ Thị trường chứng khoán”. Chúng e xin gửi lòi cảm ơn chân thành và sâu
sắc tới thầy Lê Đức Thiện người đã giảng dạy nhiệt tình và hướng dẫn chúng em
giúp chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
Vì thời gian nghiên cứu đề tài không được nhiều và kiến thức chuyên môn
về đề tài đang còn non kém nên trong quá trình nghiêm cứu còn gặp phải nhiều
thiếu sót , mong thầy thong cảm cho chúng em.
Chúng e xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU……………………………………………………………………01
B NỘI DUNG……………………………………………………………….…02
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN………….02
I: Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán……………………………………02
II: Các loại hàng hoá trên thị trường chứng khoán…………………………….06
“Nhóm 09” chúng em đã chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp phát triển các
loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời giân gần đây”
với mục đích tìm hiểu về thị trường chứng khoán nói chung và thị trường chứng
khoán Việt Nam nói riêng, nêu ra những thuận lợi, khó khăn, phương án giải quyết
khó khăn cũng như phương hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
[4]
B: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VÊ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà nới đó người ta mua bán,chuyển
nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên đó có thể là thị
trường chứng khoán tập chung,phị tập chung. Tính tập chung ở đây là muốn nói tới
việc các giao dịch được tổ chức theo một địa điểm vật chất.
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán tập chung là Sở giao dịch chứng
khoán(Stock exchange).
1: Vị trí của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính. Vị trí của thị
trường chứng khoán trong tổng thể thị trường tài chính hể hiện:
-Thị trường chứng khoán là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn.
Như vậy,trên thị trường chứng khoán giao dịch hai loại công cụ tài chính: công cụ
tài chính trên thị trường vốn,và công cụ tài chnhs trên thị trường tiền tệ.
- Thị trường chứng khoians là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính, nơi
diễn ra quá trình phát hành,mua bán các công cụ nợ,và các công cụ vốn( các
công cụ sở hữu).
2: Cấu trúc của thị trừơng chứng khoán.
2.1. Phân loại theo qúa trình luân chuyển chứng khoán.
Thị trường được phân làm hai loại: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
a Thị trường sơ cấp: còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành là
nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần đầu. Trên
thị trường này vốn từ nhà đầu tư được chuyển sang cho nhà phát hành thong
thống computer nới mạng giữa các thành viên của thị trường các chứng
khoán được giao dịch trên thị trường phi tập chung là chứng khoán của các
công ty vừa và nhỏ
- Thị trường thứ ba:là thị trường trong đó hoạt động giao dịch mua bán chứng
khoán không được thực hiện thong qua hệ thống đấu giascuar các sở giao
[6]
dịch vè hệ thống computer của thị trường OTC. Thị trường này thường dành
cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị trường tập
chung và thị trường OTC.
2.3. Căn cứ vào đặc điểm hang hóa lưu hành:
Trường hợp này thị trường chứng khoán được chia thành: Thị trường cổ phiếu , thị
trường trái phiếu,và thị trường các công cụ phái sinh.
- Thị trường cổ phiếu là thị trường mua bán và giao dịch các loại cổ phiếu bao gồm
cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
- Thị trường trái phiếu là thị trường mua bán và giao dịch các loại trái phiếu đã
được phát hành, bao gồm trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị, và trái phiếu chính
phủ.
- thị trường công cụ phái sinh là thị trường mua bán và giao dịch các chứng từ tài
chính như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, quyền chọn mua…
3.Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán.
3.1. Chủ thể phát hành.
Chủ thể phát hành chứng khoán là tổ chức huy động vốn bằng bán chứng khoán do
mình phát hành cho các nhà đầu tư. Chủ thể phát hành bao gồm: chính pủ, các
doanh nghiệp và các chủ đầu tư.
a) Chính phủ:
mục đích phát hành của chính phủ là sự bù đắp thiếu hụt ngân sách và huy động
vốn để tà trợ cho các công trình, dự án lớn và quan trọng. Chính phủ cấp các loại
chứng khoán gồm: trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình,Tín phiếu kho bạc.
b) các doanh ngiệp:
Các doanh ngiệp phát hành các chứng khoán để huy động vốn và tăng vốn cho sản
-Sở giao dịch chứng khoán là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành
những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên sở phù hợp
với qui định của pháp luật và UBCK.
[8]
-Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công ty
chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán được
thành lập vớ mục đích bảo vệ lợi ích của các thành viên và các nhà đầu tư trên thị
trường.
-Tổ chức lưu kí vả thanh toán bù trừ là tổ chức nhận lưu trữ chứng khoán bù trừ
cho các giao dịch chứng khoán. Ngân hang thương mại và các công ty chứng
khoán đáp ứng đủ điều kiện của UBCK sẽ thực hiện dịch vụ lưu kí và thanh toán
bù trừ chứng khoán.
-Các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích mở rộng tăng trưởng của
TTCK thong qua các hoạt động như cho vay tiền để mua CK và cho vay CK để
bán trong các giao dịch bảo chứng.
-Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán là tổ chức phụ trợ,phục vụ các giao dịch
chứng khoán.
-Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cun cấp dịch vụ đánh giá năng
lực thanh toán khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn theoi nhhuwng điều khoản đã
cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.
4.Chức năng của thị trường chứng khoán
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán:
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sánh kinh tế vĩ mô:
5. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
-Nguyên tắc cạnh tranh : theo nguyên tắc này ,giá cả trên TTCK phant ánh quan
hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty.
Trên thị trường sơ cấp ,các nhà phát hành canhj tranh nhau để bán chứng khoán
Trái phiếu
[10]
Theo luật chứng khoán của Việt Nam năm 2006 thì "trái phiếu là loại chứng khoán
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức
phát hành"
- Trái phiếu là chứng khoán nợ và có thời hạn. đến ngày đáo hạn người sở hữu trái
phiếu được hoàn trái
-Thông thường trái phiếu có lợi tức được xác định trước. Tùy theo từng loại trái
phiếu mà lợi tức có thể là cố định hoặc thả nổi theo lãi suất thị trường
- Mệnh giá trái phiếu luôn thể hiện trên bề mặt của trái phiếu
- Trái phiếu có thể chuyển nhượng cho người khác sở hữu
- Quan hệ kinh tế tài chính phát sinh giữa người nắm giữ trái phiếu và tổ chức phát
hành là quan hệ giữa chủ nợ và khách nợ.
Cổ phiếu
Là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở
hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không
ghi tên. Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
1) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
2) Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
3) Số lượng cổ phần và loại cổ phần;
4) Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu;
5) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu
hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ
thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của cổ
đông là tổ chức đối với cổ phiếu có ghi tên;
6) Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phần;
7) Chữ ký mẫu của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty;
8) Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu;
9) Các nội dung khác tương ứng với cổ phiếu của cổ phần ưu đãi.
[11]
tình trạng lạm phát.
Chứng khoán phái sinh.
Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên cơ sở
những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như
phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ
là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái
phiếu, hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu
thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu.
3. Phát hành chứng khoán.
3.1. Khái niệm về phát hành chứng khoán
Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Nếu
đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên
ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là
việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị
trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy nhiên, không phải mọi
đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới
có được quyền này.
3.2. Phương thức phát hành chứng khoán
Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành
riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
Phát hành riêng lẻ (Private Placement)
[13]
Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong
phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có
ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí
với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các
ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà
phân phối để hưởng phí phát hành. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực
hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu
phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
hoạt động của Sở giao dịch đó.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY.
I: MÔ HÌNH VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1.1: Về cơ quản lí thị trường chứng khoán.
Đối với Việt Nam, uỷ ban chứng khoán nhà nước đã được thành lập để quản lý và
giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo về
quyền lợi cho các nhà đầu tư. Đây là bước đi đúng phù hợp với điều kiện của Vệt
Nam và xu hướng quốc tế.
1.2: Về trung tâm giao dịch chứng khoán
Hình thức sở hữu
Đối với Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán sẽ do nhà nước sở hữu, để đảm bảo
an toàn, công bằng theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Số lượng sở giao dịch chứng khoán.
Để tránh những bất lợi của việc tồn tại nhiều Sở giao dịch chứng khoán mà các
nước đang gặp phải, chúng ta cũng chỉ nên xây dựng một Sở giao dịch chứng
[15]
khoán thống nhất với các sàn giao dịch tại một , hai thành phố được nối mang với
nhau.
Địa điểm thiết lập Sở giao dịch chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán hiện nay được đạt tại thành phố Hồ Chí Minh vì hiện
nay thành phố Hồ CHí Minh là trung tâm thương mại tài chính lớn nhất nước và để
cho Sở giao dịch phát triển. Với hệ thống giao dịch điện tử, các công ty mô giới tại
Hà nội vẫn có thể dễ dàng tiếp cận thị trường.
Hệ thống giao dịch.
Việt Nam áp dụng hệ thống ghép lệnh. Hệ thống này đơn giản cho phép có được
giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước mới nổi áp dụng. Ở Việt Nam
trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát triển, khối lượng giao dịch còn nhỏ,
nên áp dụng phương thức ghép lệnh từng đợt để giảm bớt sự biến động của giá cả.
1.4: Về lĩnh vực đăng kí thanh toán- bù trừ và lưu giữ hứng khoán.
hàng hóa bị coi rẻ, người có hàng thì bán tống bán tháo tìm cách rút lui khỏi thị
trường, người chưa có hàng thì chẳng muốn mua vào. Lúc này cung lấn át cầu.
- Mua và bán đều thỏa mãn: khối lượng giao dịch trao đổi trên thị trường lớn, bên
mua và bán gặp nhau và đều thỏa mãn. Cung cầu lúc này ở trạng thái cân bằng
2. Ý nghĩa chung
- Khi giá cả đang tăng, khối lượng giao dịch ít phản ánh tình trạng hàng hóa trên
thị trường khan hiếm. Khi đến một mức giá nào đó hoặc đến một giai đoạn mùa vụ
nào đó, khi những người nắm giữ cổ phiếu cảm thấy được giá thì họ sẽ tìm cách
bán ra, sự bán ra của họ gặp đúng nhu cầu hàng của phe mua khiến cho khối lượng
giao dịch thành công tăng cao, tốc độ tăng giá sẽ hãm lãi hoặc giảm giá. Một
trường hợp khác là phe mua vào cảm thấy nếu tiếp tục mua vào với giá cao sẽ nguy
hiểm nên họ chấm dứt việc mua vào, lượng cầu giảm khiến cho khối lượng khớp
thành công không có sự biến đổi tăng đột biến.
- Khi giá cả đang giảm, khối lượng giao dịch ít phản ánh tình trạng hàng hóa trên
thị trường bị coi rẻ. Khi đến một mức giá nào đó hoặc đến một giai đoạn mùa vụ
nào đó, một số Nhà đầu tư cảm thấy được giá hời và muốn mua vào. Nhu cầu của
[17]
họ gặp lượng cung bán ra lớn trên thị trường khiến cho khối lượng khớp thành
công tăng cao, tốc độ giảm giá chậm lại hoặc tăng giá. Một trường hợp khác là phe
bán ra cảm thấy nếu tiếp tục bán ra sẽ bị hớ nên họ chấm dứt bán ra, lượng cung
giảm khiến cho khối lượng khớp thành công không có sự biến đổi tăng đột biến.
- Khi giá cả “dập dềnh” với khối lượng giao dịch nhỏ, thị trường ở trạng thái đóng
băng. Lúc này không dễ đoán trước được điều gì.
- Khi giá cả “dập dềnh” với khối lượng giao dịch lớn tiềm ẩn một khả năng về sự
thay đổi xu thế trong tương lai gần nhưng khó dự đoán. Trong trạng thái này cần
theo dõi liên tục và thường xuyên các biến động trạng thái của thị trường dựa trên
sự kết hợp với các phương pháp phân tích khác.
Dưới đây là hai ví dụ minh họa vềý nghĩa của khối lượng. Chú ý rằng ví dụ này chỉ
minh họa về ý nghĩa chứ không minh họa về cách sử dụng.
Xét ví dụ về Công ty Cổ phần Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh - HAX
bởi sự giằng co giữa phe mua và bán. Giai đoạn này rất khó dự đoán tuy nhiên cần
chú ý xu hướng đi xuống.
3. Cách sử dụng chung
[19]
Dựa theo xu thế của đồ thị, các phương pháp phân tích theo khối lượng sử dụng hai
yếu tố trên đồ thị là sự xuất hiện của các phân kỳ dương/phân kỳ âm và tốc thay
đổi đột biến về khối lượng giao dịch trên thị trường:
- Theo đó một phân kỳ dương xuất hiện thì phỏng đoán và xác nhận về một xu thế
tăng giá trên thị trường, một phân kỳ âm xuất hiện thì phỏng đoán và xác nhận về
một xu thế giảm giá trên thị trường.
- Một sự biến động đột biến về khối lượng giao dịch sẽ phỏng đoán và xác nhận về
sự thay đổi xu thế trên thị trường.
Các phương pháp phân tích về khối lượng cần kết hợp với các phương pháp phân
tích khác nhằm tăng cường tính chính xác, giảm độ chậm trễ trong phỏng đoán và
xác nhận về xu thế giá cả trên thị trường. Về cách sử dụng chi tiết sẽ được nêu cụ
thể theo từng phương pháp phân tích trong các bài viết tiếp theo.
III: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ THIẾU HỤT HÀNG HÓA TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Để có thể vận hành được một thị trường, thì hàng hóa đóng một vai trò vô cùng
quan trọng . Đối với thị trường chứng khoán cũng vậy, hàng hóa của thị trường
chứng khoán sơ cấp là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường
chứng khoán. Tuy nhiên, không giống với các thị trường hàng hóa thông thường
khác, hàng hóa trên thị trường chứng khoán là loại hàng hóa đặc biệt, đó là chứng
khoán.
Với sự phát triển ngày càng cao của công nghệ chứng khoán, ngày nay khái niệm
về chứng khoán đã có sự thay đổi. Nó không chỉ là một chứng từ hiện vật dưới
hình thức giấy tờ mà còn có thể đươc thể hiện trên hệ thống điện tử.
Những khó khăn được nêu ra về thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam
gồm có:
- Thiếu tri thức
Thị trường chứng khoán giúp công ty huy động vốn, nhưng nếu một công
ty có những nguồn khác có thể huy động vốn được và rẻ hơn thì có thể
khuyến cáo họ phát hành chứng khoán được không? Dù là công ty gì đi nữa
thì trước khi phát hành chứng khoán họ cũng sẽ phải xem xét đến nhiều yếu
tố thương mại như: nhu cầu phát triển, nguồn tiền mặt dự trữ, các nguồn tài
trợ khác nhau, chi phí phải có vốn… chứ không đơn thuần là chỉ phát hành
chứng khoán… Trừ khi có một công ty nào đó thích tiếng chứ nếu còn có
cách để xoay vốn thì họ chẳng chịu đem mình ra Thị trường chứng khoán
làm gì. Xem như thế việc đề nghị các tổng công ty phát hành trái phiếu chỉ
là việc phải làm thì làm.
Quá trình sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nước diễn ra chậm, cổ phần
hóa doanh nghiệp có xu hướng chậm lại
Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN quy định về giới hạn dư nợ cho vay chứng
khoán ở mức 3% tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng được ban hành đúng thời
điểm TTCK đang trong giai đoạn điều chỉnh mạnh, nên càng làm cho thị
trường trở nên suy yếu ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của thị trường chứng
khoán trong giai đoạn điều chỉnh giảm phải kể đến các yếu tố sau:
- Sự suy giảm nghiêm trọng của TTCK toàn cầu vào cuối năm 2007 đã
tạo ra hiệu ứng sụt giảm của TTCKVN và gây tâm lý bất ổn cho giới đầu tư
trong nước.
- Sự khởi sắc của thị trường bất động sản, thị trường vàng vào thời
điểm cuối năm đã tạo ra một sự dịch chuyển vốn từ TTCK sang 2 thị trường
“nóng” này.
Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN chính thức đưa vào thực thi khiến dòng vốn
đầu tư vào chứng khoán bị hạn chế. Đặc biệt đến giai đoạn cuối năm 2007, sự
[22]
đẩy nhanh thanh lý hợp đồng để kịp về đích theo chỉ thị 03 của các NHTM
khiến nguồn vốn đổ vào thị trường ngày càng cạn kiệt hơn.
IPO Vietcombank được diễn ra vào những ngày cuối năm 2007 đã hút
một lượng vốn khổng lồ (gần 10.000 tỷ đồng) ra khỏi thị trường niêm yết.
- Phát triển thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế,
từng bước hội nhập với thị trường tài chính khu vực và thế giới.
- Xây dựng thị trường chứng khoán thống nhất trong cả nước, hoạt động an toàn,
hiệu quả góp phần huy động vốn cho đầu tư phát triển và thúc đẩy tiến trình cổ
phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
- Nhà nước thực hiện quản lý bằng pháp luật, tạo điều kiện để thị trường chứng
khoán hoạt động và phát triển; bảo đảm quyền,lợi ích hợp pháp và có chính sách
khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.
-Bảo đảm tính thống nhất của thị trường tài chính trong phạm vi quốc gia, gắn việc
phát triển thị trường chứng khoán với việc phát triển thị trường vốn, thị trường tiền
tệ, thị trường bảo hiểm.
1.3 Định hướng phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020.
- Mở rộng quy mô của thị trường chứng khoán tập trung. Về định hướng chiến
lược, dự kiến năm 2015, quy mô vốn hóa thị trường đạt 65 – 70% GDP và đến năm
2020 quy mô vốn hóa thị trường đạt 90 – 100% GDP.
+ Tập trung phát triển thị trường trái phiếu, trước hết là trái phiếu Chính phủ để
huy động vốn cho Ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển.
+ Tăng số lượng các loại cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung
nhằm tăng quy mô về vốn cho các doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất,
kinh doanh của các công ty niêm yết.
[24]
- Phát triển các định chế tài chính trung gian cho thị trường chứng khoán Việt Nam
+ Tăng quy mô và phạm vi hoạt động nghiệp vụ kinh doanh, dịch vụ của các công
ty chứng khoán. Phát triển công ty chứng khoán theo hai loại hình: Công ty chứng
khoán đa nghiệp vụ và Công ty chứng khoán chuyên doanh, nhằm tăng chất lượng
cung cấp dịch vụ và khả năng chuyên môn hóa hoạt động nghiệp vụ.
+ Khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế có
đủ điều kiện thành lập các công ty chứng khoán, khuyến khích các công ty chứng
khoán thành lập các chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh ở các tỉnh, thành