Thực trạng và một số giải pháp phát triển rừng phòng hộ môi trường tại lâm trường sóc sơn – hà nội - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
THÁI NGUYÊN THÁNG 9 NĂM 2011 THÁI NGUYÊN THÁNG 9 NĂM 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ĐẠ I HỌ C THÁ I NGUYÊN
TRƢỜ NG ĐẠ I HỌ C NÔNG LÂM NGUYỄ N VĂN LŨ Y

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
RỪNG PHÕNG HỘ MÔI TRƢỜNG TẠI
LÂM TRƢỜNG SÓC SƠN - HÀ NỘ
Chuyên ngành lâm học

Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập cũng
nhƣ hoàn thành luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Lâm trƣờng Sóc Sơn đã cung cấp những thông tin,
tƣ liệu cần thiết cũng nhƣ thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè gần
xa và ngƣời thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời
gian học tập và hoàn thành luận văn.

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả
ii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
MỤC LỤC

ĐT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔ NG QUAN VẤ N ĐỀ NGHIÊN CƢ́ U 3
1.1. Trên thế giớ i 3
1.1.1. Công tá c nghiên cƣ́ u giố ng cây rƣ̀ ng 3
1.1.2. Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng 4
1.1.3. Các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ 8
1.1.4. Các chính sách tổ chức, quản lí rừng phòng hộ 9
1.2.  Việt Nam 10
1.2.1. Nghiên cƣ́ u về giố ng cây rƣ̀ ng 10
1.2.2. Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng 12
1.2.3. Các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ 15
1.2.4. Các chính sách tổ chức, quản lí rừng phòng hộ 17

3.2.2. Kết cấu cơ sở hạ tầng 33
3.2.3. Tình hình sản xuất trên địa bàn 34
Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1. Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và QLBVR của Lâm
trƣờng Sóc Sơn 36
4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 36
4.1.2. Cơ cấu tổ chức của Lâm trƣờng 41
4.1.3. Tài nguyên rừng 43
4.2. Đặc điểm các loại rừng ở Lâm trƣờng Sóc Sơn 47
4.2.1. Đánh giá sinh trƣởng các loại cây trồng 47
4.2.2. Các phƣơng thức trồng rừng 48
4.2.3. Diễn biến sử dụng đất đồi gò 51
4.3. Tổng kết và đánh giá hệ thống các cơ chế chính sách, liên quan đến phát
triển rừng phòng hộ tại Lâm trƣờng Sóc Sơn 52
4.3.1. Chƣơng trình trồng rừng phòng hộ 327 52
4.3.2. Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng 53
4.3.3. Lịch sử phát triển rừng ở Sóc Sơn 54
4.3.4.Quy hoạch rừng phòng hộ bảo vệ môi trƣờng ở Sóc Sơn. 55
4.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển rừng phòng hộ ở lâm trƣờng
sóc Sơn 58
4.4.1. Giải pháp về kỹ thuật 58
4.4.2. Giải pháp về cơ chế chính sách phát triển rừng 63
4.4.3. Giải pháp tăng cƣờng năng lực 64
Chƣơng 5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
5.1. Kết luận 65
5.2. Tồn tại 66
5.3. Khuyến nghị 66
Tài liệu tham khảo 68

iv

Trong nhƣ̃ ng năm gầ n đây , tài nguyên rừng nhiệt đớn càng ngày càng
suy giả m. Trên thế giớ i trung bì nh hà ng năm rƣ̀ ng nhiệ t đớ i mấ t đi khoả ng 11
triệ u ha. Năm 1943 nƣớ c ta có khả ng 14,3 triệ u ha nhƣng đế n nay chỉ cò n
khoảng 10,9 triệ u ha rƣ̀ ng. Mấ t rƣ̀ ng đã ả nh hƣở ng trƣ̣ c tiế p đế n đờ i số ng củ a
nhân dân, nhấ t là đồ ng bà o cá c dân tộ c í t ngƣờ i ở miề n nú i và trung du.
Rừng có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lâm sản , bảo tồn đa dạng
sinh học, du lịch sinh thái và phòng hộ môi tr ƣờng. Ngày nay, giá trị phòng
hộ môi trƣờng củ a rƣ̀ ng đã vƣợt xa giá trị cung cấp lâm sản truyền thống . Là
một nƣớc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với 3/4 diện tích là đồi núi và
thƣờng xuyên phải chịu những trận mƣa, bão lớn thì rừng phòng hộ có vai trò
rất quan trọng đối với nƣớc ta. Xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng là
giải pháp có hiệu quả để phòng chống nguy cơ sa mạc hoá đất vùng đồi núi,
góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho hàng chục triệu ngƣời, cung cấp
thêm nhiều loại gỗ và lâm sản ngoài gỗ có giá trị phục vụ cuộc sống và phát
triển kinh tế - xã hội miền núi
Dự án "Quy hoạch rừng phòng hộ bảo vệ môi trƣờng Sóc Sơn" vừa
đƣợc HĐND TP.Hà Nội thông qua tại kỳ họp lần thứ 13. Vùng quy hoạch này
gồm 11 xã, thị trấn vùng đồi, gò và Lâm trƣờng Sóc Sơn cách thủ đô Hà Nội
40km về phía bắc.
Theo đó, TP sẽ quy hoạch toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp Sóc
Sơn thành rừng phòng hộ bảo vệ môi trƣờng với tổng diện tích 4.557ha.
Trong đó, đất rừng 4.360,4ha; đất không có rừng 191,1ha; đất vƣờn ƣơm cây
5,5ha. Các khu chức năng rừng đƣợc quy hoạch kết hợp với phát triển du lịch,
dịch vụ.
Cụ thể, khu du lịch văn hoá kết hợp với nghỉ ngơi cuối tuần Đền Sóc
2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
(Đền Gióng) có diện tích 274,8ha; khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái và
nghỉ cuối tuần Hồ Đồng Đò, xã Minh Trí có diện tích 191ha; làng sinh thái,

Chƣơng 1. TỔ NG QUAN VẤ N ĐỀ NGHIÊN CƢ́ U
1.1. Trên thế giớ i
Phát huy hiệu quả trồng rừng là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan
tâm nghiên cƣ́ u . Cơ sở khoa họ c cho việ c phá t triể n trồ ng rƣ̀ ng ở cá c nƣớ c
phát triển đã tƣơng đối hoàn thiện từ công tác giống tới các biện pháp tác
độ ng cho từng loại rừng, phục vụ đắc lực cho sản xuất lâm nghiệp.
1.1.1. Công tá c nghiên cứ u giố ng cây rừ ng
Có thể nói , công tá c nghiên cƣ́ u giố ng cây rƣ̀ ng gó p phầ n quan trọ ng
vào thành công của công tác trồng rừng . Tƣ̀ thế kỷ XVIII – XIX, nhƣ̃ ng ý
tƣờ ng về công tá c lai giố ng, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dƣỡ ng cây
rƣ̀ ng đã thu đƣợ c mộ t số thà nh tƣ̣ u nhấ t đị nh : Syrach Lasen đã sả n xuấ t đƣợ c
mộ t số cây lai có hì nh dá ng đẹ p và có ƣu thế về sinh trƣở ng . Nilsson – Ehle
(1873 – 1949) đã phấ t hiệ n ra Dƣơng nú i tam bộ i có sinh trƣở ng tố t hơn so
vớ i cây nhị bộ i.
Các chƣơng trình chọn giống đƣợc bắt đầu ở nhiều nƣớc và tập trung
cho nhiề u loà i sinh trƣở ng nha trong đó có Bạ ch đà n . Tại Brazil đã tiến hành
chọn cây trội xây dựng vƣờn giống thụ phấ n tƣ̣ do cho loà i E . maculata ngay
tƣ̀ nhƣ̃ ng năm 1952; tại Mỹ là loài E . robusta (1966). Trong 3 năm (1970 –
1973), c đã chọn cây chội thành công cho loài E . regnans và loà i E. grandis
(Eldridge, 1993). Và loài E . diversicolor ở Ú c và l oài E. deglupta ở Papua
New Guinea cũ ng đƣợ c tiế n hà nh chọ n cây trộ i ở rƣ̀ ng tƣ̣ nhiên.
Cho tớ i nay , ở nhiều nƣớc trên thế giới đã có những giống cây trồng
rƣ̀ ng cho năng suấ t rấ t cao nhờ nhƣ̃ ng chƣơng trì nh nghiên cƣ́ u chọ n tạ o
giố ng mớ i nhƣ tạ i Brazil , nhƣ̃ ng khu thí nghiệ m Bạ ch đà n lai E .gradis vớ i E.
urophylla năng suấ t đạ t 100m
3
/năm (Kageyama, 1984).  Công Go năng suất
rƣ̀ ng cũ ng đạ t 40-50m
3
/ha/ năm. Theo Covin (1990) tại pháp và  , vớ i năng

Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất và dòng chảy đƣợc nhà
bác học Volni ngƣời Đức thực hiện trong thời kỳ 1877 đến 1885 (Hudson N,
1981) [9]. Những ô thí nghiệm đƣợc sử dụng để nghiên cứu ảnh hƣởng của
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
nhiều nhân tố nhƣ: Thực bì, loại đất, độ dốc mặt đất, lƣợng mƣa tới dòng chảy
và xói mòn đất. Trong công trình này Volni cũng nghiên cứu ảnh hƣởng của
loại đất và độ dốc mặt đất tới dòng chảy và xói mòn đất. Tuy nhiên, phần lớn
các kết luận chƣa đƣợc định lƣợng r ràng.
Bằng thí nghiệm trong phòng, Ellison (theo Hudson N, 1981 [9]) thấy
rằng các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha xói mòn đất
do nƣớc. Ellison là ngƣời đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật
trong việc hạn chế xói mòn đất và vai trò cực kỳ quan trọng của hạt mƣa rơi
đối với xói mòn. Phát hiện của Ellison đã mở ra một phƣơng hƣớng mới trong
nghiên cứu xói mòn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và
khẳng định khả năng bảo vệ đất của lớp thảm thực vật.
Kết quả quan trọng của nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất,
bằng các kết quả nghiên cứu thực nghiệm các nhà nghiên cứu đã xây dựng
đƣợc phƣơng trình mất đất ở trƣờng Đại học Tổng hợp Pardiu (Mỹ) vào cuối
năm 1950 (Hudson N, 1981 [9]). Sau đó phƣơng trình này đƣợc W. H,
Wischmeier hoàn chỉnh dần (W. H, Wischmeier, 1978 [49]). Phƣơng trình đất
mất đất làm sáng tỏ vai trò của từng nhân tố ảnh hƣởng tới xói mòn. Nó còn
có tác dụng định hƣớng cho nhiều nghiên cứu sau này nhằm xác định quy luật
xói mòn và nghiên cứu các mô hình canh tác bền vững ở các khu vực có điều
kiện địa lý khác nhau.
Việc nghiên cứu định lƣợng ảnh hƣởng của các yếu tố tới xói mòn đất
lần đầu tiên đƣợc V.A. Sing (1940) đƣa ra khi tìm cách xác định ảnh hƣởng
của chiều dài sƣờn dốc (L) và độ dốc (S) đến hoạt động của xói mòn. Sau đó
Smith D.D (1941) đã xác định lƣợng đất xói mòn cho phép và lần đầu tiên đã

ngoài nơi trống (Jordan và C. F Herrea 1981 [46]).
Vật rơi rụng có khả năng ngăn giữ nƣớc tƣơng đối lớn, nên có tác dụng
bổ sung nƣớc cho đất và cung cấp nƣớc cho thực vật (Vu Chí Dân & Vƣơng
7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Lễ Tiên, 2001 [29]). Ngoài ra, do vật rơi rụng có những lỗ hổng lớn và nhiều
hơn so với đất, nên lƣợng nƣớc ngăn giữ lại dễ dàng bốc hơi đi. Những
nghiên cứu của Black và Kelliher (1998) (dẫn theo Vu Chí Dân & Vƣơng Lễ
Tiên, 2001 [29]) cho thấy rằng, lƣợng nƣớc bốc hơi từ vật rơi rụng của các
hiểu rừng khác nhau chiếm khoảng 3 - 21% tổng lƣợng nƣớc bốc hơi trên mặt
đất rừng.
Nhìn chung, đất rừng tự nhiên có khả năng thấm nƣớc cao và ít khi
xuất hiện dòng chảy bề mặt (Doulass 1997 [38]). Tuy nhiên, khi rừng bị chặt
hạ trở nên thƣa thớt và độ dốc mặt đất lớn, có thể tạo ra nhiều lƣợng nƣớc
chảy trên bề mặt.
Cấu trúc rừng có ý nghĩa rất lớn, nó quyết định đến khả năng phòng hộ
của rừng. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm tìm ra những cấu trúc hợp lí,
có khả năng phòng hộ cao là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các khu
rừng phòng hộ. Công trình nghiên cứu của Moltranov A.A (1960, 1973) và
Matveev P.N. (1973) là những công trình lớn đề cập tới cấu trúc rừng phòng
hộ đầu nguồn nƣớc. Với trang thiết bị tạo mƣa nhân tạo, các tác giả đã nghiên
cứu ảnh hƣởng của các nhân tố cấu trúc tới khả năng điều tiết nƣớc, bảo vệ
đất của rừng nhƣ: cấu trúc tổ thành loài, cấu trúc tuổi, cấu trúc tầng thứ và độ
tàn che. Những nghiên cứu này đã đặt cơ sở cho việc xây dựng rừng phòng hộ
đầu nguồn cũng nhƣ việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động
vào rừng ôn đới. Tuy vậy, do cấu trúc của rừng ôn đới không có lớp thảm tƣơi
cây bụi dày nhƣ ở nƣớc ta nên các tác giả chƣa chú ý nhiều đến vai trò của
tầng mặt đất, ngoài ra cấu trúc tầng thứ cũng chƣa đƣợc các tác giả nghiên
cứu sâu.

Biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ ven biển cũng đƣợc quan
tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu của V.A Lômitcôsku (1809),
Dokuchaep (1982), X. A Timiriazep (1983, 1909, 1911) đều cho rằng trên các
hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải tạo đất phải trồng rừng phòng
hộ thành hệ thống đai theo mạng lƣới ô vuông, có kết cấu kín, có hỗn giao
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
nhiều tầng.  Trung Quốc và các nƣớc Trung Đông, miền Đông và Tây Châu
Phi thì Phi lao đƣợc coi là loài cây chủ đạo trồng trên các vùng cát thành các
hệ thống đai có chiều rộng ít nhất ít nhất 100 - 200 m. Sau đai rừng Phi lao là
các đai rừng hỗn giao hoặc thuần loài của Bạch đàn, Keo, Thông nhựa, phía
trong cùng sau các đai rừng dùng để canh tác nông nghiệp.
1.1.4. Các chính sách tổ chức, quản lí rừng phòng hộ
Từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị
giảm sút nghiêm trọng, môi trƣờng sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền
núi bị đe doạ thì phƣơng thức quản lý tập trung nhƣ trƣớc đây không còn thích
hợp nữa. Ngƣời ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua
việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút ngƣời dân tham gia
quản lý và sử dụng tài nguyên rừng. Phƣơng thức quản lý rừng cộng đồng (hay
lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần biến thái thành
các hình thức quản lý khác nhau nhƣ lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội
(Nêpan, Thái Lan, Philippin, ).
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học
cũng đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng
nhƣ: Các nhà lâm học Đức (Heyer – 1883 [44]) đã đề xuất nguyên tắc lợi
dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi; Các nhà lâm học Pháp
(Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley - 1922) đã đề ra phƣơng pháp kiểm
tra điều chỉnh sản lƣợng với rừng khai thác chọn khác tuổi, vv
Vào cuối thế kỷ XX, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng

lai có sƣ́ c sinh trƣở ng gấ p 1,5 – 2,5 lầ n cá c loà i cây bố m, năng suấ t rƣ̀ ng
trồ ng thƣ̉ nghiệ m ở mộ t số vù ng đạ t tƣ̀ 20-30 m
3
/ha/năm, có nơi đạt 40
11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
m
3
/ha/năm.
Nguyễ n Việ t Cƣờ ng (2002) đã nghiên cƣ́ u khá hoà n thiệ n về lai giố ng
ba loà i Bạ ch đà n Urophylla, Camaldulensis và Exserta Tƣ̀ việc nghiên cứu cơ
sở khoa họ c củ a lai giố ng nhƣ thờ i kỳ nở hoa , cấ t trƣ̃ hạ t phấ n ,… cho đế n
đá nh giá , khảo nghiệm các tổ hợp lai . Kế t quả tƣ̀ 9 tổ hợ p lai và 5 dòng Bạch
đà n lai đã chọ n đƣợ c 7 tổ hợ p lai U 29C3, U15E4, U15C1, E1U29, U29E1,
U2U29 và U29E2 đạ t năng suấ t tƣ̀ 20 - 27 m
3
/ha/năm, gấ p 1,5 - 2 lầ n giố ng
sản xuất hiện nay; Ba dò ng bạ ch đà n lai 81, 85 và HH có năng suất vƣợt các
giố ng PN2 và PN14 tƣ̀ 23 - 84%.
Bên cạ nh cá c loà i Keo và Bạ ch đà n , các nghiên cứu cũng đã tập trung
vào một số loại cây trồng rừng sản xuất chủ lực khác nhƣ Thông Caribe
Thông nhƣ̣ a, Tràm có năng suất cao…
Tƣ̀ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa
dạng hơn, phục vụ cho nhiề u mụ c đí ch khá c nhau , đặ c biệ t là việ c tì m kiế m
cây bả n đị a đƣợ c ƣu tiên hà ng đầ u phụ c vụ chƣơng trì nh 327. Qua nhiể u năm
nghiên cƣ́ u tổ ng hợ p Việ n khoa họ c Lâm nghiệ p Việ t Nam đã đƣa ra đề xuấ t
cho 100 loài cây bản địa p hục vu cho các mục đích trồng rừng , trong đó có
nhiề u loà i đã đƣợ c đƣa và o sả n xuấ t đạ i trà vớ i quy mô lớ n nhƣ : Quế , Mỡ ,
Trẩ u, Sở , Thông đuôi ngƣ̣ a , Sa mu,…; Nhiề u loà i khá c vớ i quy mô nhỏ hơn

1.2.2. Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng
Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây
dựng rừng phòng hộ.  nƣớc ta vấn đề này đƣợc nhiều tác giả rất quan tâm.
Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) [14] thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu đƣợc
quan tâm ở nƣớc ta từ trƣớc những năm 1954, bƣớc đầu mới chỉ là những
biện pháp chống xói mòn sơ khai nhƣ làm ruộng bậc thang, xây kè cống.
13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình khoa
học có giá trị về xói mòn đất nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Cao
Văn Vinh về ảnh hƣởng của độ dốc tới xói mòn đất, góp phần đề ra các chỉ
tiêu và quy chế bảo vệ, sử dụng và khai thác đất dốc; Tôn Gia Huyên (1967),
Chu Đình Hoàng, Nguyễn Xuân Quát, Bùi Ngạnh (1963) đã tập trung nghiên
cứu ở vùng Tây Bắc, Bắc Thái, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai về biện pháp và
công trình trồng cây phân xanh che phủ đất; nghiên cứu của Chu Đình Hoàng
và Đào Khƣơng về những nét đặc trƣng chủ yếu của xói mòn vùng khí hậu
nhiệt đới Việt Nam. Nhiều phƣơng pháp nghiên cứu hiện đại đã đƣợc áp
dụng, xây dựng hàng loạt các khu quan trắc xói mòn định vị bằng xi măng,
gạch, gỗ, kim loại nhƣ trạm nghiên cứu xói mòn An Châu (Hữu Lũng- Lạng
Sơn), trạm Eakmak (Buôn Ma Thuột), trạm nghiên cứu xói mòn đất Tây
Nguyên.
Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói
mòn đất và khả năng giữ nƣớc của một số thảm cây trồng nông nghiệp và
công nghiệp, đặc biệt là ở các tỉnh vùng Tây Nguyên. Trong thời gian này
nhiều khu nghiên cứu quan trắc định vị đã đƣợc xây dựng kiên cố bằng gạch
và xi măng, gỗ, kim loại, Hàng loạt công trình mang nhiều sắc thái và đi vào
định lƣợng nhƣ công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao
Yêm, Hoàng Xuân Cơ (1984) [14]. Những công trình nghiên cứu này đã làm
r ảnh hƣởng của nhân tố địa hình tới xói mòn, vai trò chống xói mòn của một

xuống
còn 60 triệu nƣớc, do đó không đảm bảo nƣớc cho sản xuất nông nghiệp trên
diện tích 6 nghìn ha.
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phƣơng (2002) [7] đã đƣa ra
dẫn liệu lƣu lƣợng dòng chảy tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với
khu vực canh tác nông nghiệp, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn rừng trồng
trong việc giảm dòng chảy mặt; dòng chảy kiệt ở nơi có rừng cao hơn ở nơi
không có rừng.
15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Các nghiên cứu của Bùi Ngạnh và Vũ Văn Mễ (1995) [3]; Bùi Ngạnh
và Nguyễn Ngọc Đích (1985) [4] cho thấy sự thay đổi dòng chảy mặt ở một
số dạng rừng khác nhau, trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất những mô hình
bố trí các đai rừng giữ nƣớc trên sƣờn dốc. Năm 1981, Lê Đăng Giảng và
Nguyễn Thị Hoài Thu (1981) [11] đã tổng kết kết quả nghiên cứu về khả năng
giữ nƣớc, điều tiết dòng chảy của rừng thứ sinh hỗn giao lá rộng tại núi Tiên,
Hữu Lũng, Lạng Sơn. Các tác giả đã đề nghị việc xây dựng và thiết kế rừng
phòng hộ ở các triền sông phải phát huy đƣợc khả năng giữ nƣớc cao nhất của
nó trong những thời điểm lƣợng mƣa mùa tập trung cao.
Nghiên cứu của V Đại Hải (1996) [27], Nguyễn Ngọc Lung và V Đại
Hải (1997) [13] cho thấy vai trò điều tiết nƣớc, chống xói mòn đất của rừng
rất lớn: lƣợng nƣớc mƣa bị tán rừng ngăn cản dao động từ 5,75 - 11,6% tùy
thuộc vào từng loại rừng; lƣợng nƣớc tạo thành dòng chảy ngầm và các dạng
khác từ 88,2% - 92,5% tổng lƣợng nƣớc mƣa; lƣợng nƣớc tạo thành dòng
chảy bề mặt ở những nơi có rừng rất thấp, qua đó hạn chế khả năng hình
thành lũ và lũ quét. Các tác giả cũng đã thành công trong việc xây dựng
phƣơng pháp đo lƣợng nƣớc mƣa lọt qua tán rừng. Theo đó thì phải dùng ít
nhất 9 ống đo mƣa bố trí hệ thống trên diện tích 3600 m
2

bắc đƣợc giải phóng, vấn đề này đƣợc đề cập đến trong thuật ngữ “khoanh núi
nuôi rừng”. Tuy nhiên, vì nhiều lí do mà trong một thời gian rất dài sau đó
ngƣời ta chỉ chú ý đến khai thác rừng tự nhiên là chính. Mãi đến những năm
1990, cái đƣợc gọi là “khoanh núi nuôi rừng” mới đƣợc định hình và phát
triển theo cụm thuật ngữ “phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”.
Điều này đƣợc thể hiện trong 2 quy phạm ngành QPN 14-92 và QPN 21-98.
Nghiên cứu xác định loài cây phục vụ trồng rừng phòng hộ đầu nguồn
là việc làm rất quan trọng. V Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Đào Công
Khanh (1997) đã nghiên cứu xác định chủng loại cây bản địa phục vụ cho
trồng rừng phòng hộ ở một số vùng trọng điểm. Trên cơ sở tiêu chuẩn cây bản
17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
địa đƣa vào trồng rừng phòng hộ là phải phù hợp với tiểu vùng sinh thái, kết
hợp đƣợc với nhau, có tác dụng phù trợ lẫn nhau, điều tiết nguồn nƣớc, chống
xói mòn, giữ đất, sống lâu năm, tán lá dày, rậm và thƣờng xanh, bộ rễ phát
triển sâu, các tác giả đã đƣa ra mô hình trồng rừng phòng hộ dự tuyển cho 7
vùng sinh thái lâm nghiệp trên cả nƣớc.
Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lí của rừng phòng hộ làm cơ
sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lƣợng cao cũng đƣợc
quan tâm. Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và V Đại Hải đã công bố công
trình Kết quả bƣớc đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nƣớc của một số
thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nƣớc,
trong đó các tác giả đã đánh giá đƣợc năng lực phòng hộ của một số dạng cấu
trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn nƣớc. Trên
cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có cấu trúc hợp lý.
1.2.4. Các chính sách tổ chức, quản lí rừng phòng hộ
Việc tổ chức quản lý rừng phòng hộ đã đƣợc quy định cụ thể trong
nhiều các văn bản pháp quy của Nhà nƣớc nhƣ Quy chế quản lý rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên ban hành theo Quyết định

Kiểm lâm cấp tỉnh. Những khu rừng phòng hộ có diện tích dƣới 5.000 ha (tập
trung hoặc không tập trung) không thành lập Ban quản lý mà giao cho các tổ
chức khác, hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ, xây dựng.
1.3. Đá nh giá chung
Điể m qua cá c công trì nh nghiên cƣ́ u trong và ngoà i nƣớ c liên quan đế n
đề tài có thể rút ra một sô nhận xét sau đây:
- Rừng phòng hộ đƣợc quan tâm chú ý ở nhiều nƣớc trên thế giới. Các
công trình nghiên cứu đƣợc tiến hành khá đồng bộ trên nhiều các khía cạnh
19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
khác nhau, chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, xác định cấu trúc hợp lí của
rừng, thuỷ văn rừng, các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng và các chính sách
tổ chức quản lí rừng, Kết quả các nghiên cứu này là những tài liệu tham
khảo có giá trị, định hƣớng cho đề tài nghiên cứu.
-  Việt Nam, việc nghiên cứu xây dựng và phát triển rừng phòng hộ,
đƣợc Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm, rất nhiều các công trình nghiên cứu, các
Dự án quy hoạch vùng phòng hộ đầu nguồn đƣợc phê duyệt và triển khai. Các
văn bản pháp luật đƣợc ban hành đã tạo hành lang pháp lí quan trọng cho việc
xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở nƣớc ta. Trong thời gian qua, các
công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, thủy văn rừng, cấu
trúc hợp lí của rừng phòng hộ, việc đánh giá các mô hình rừng trồng phòng
hộ cũng đƣợc một số tác giả quan tâm nhƣng nói chung còn ít. Đặc biệt là
trong Dự án 661 đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và huy động
đƣợc nhiều nguồn lực thực hiện nên đã xây dựng một khối lƣợng khá lớn
rừng trồng phòng hộ, nhƣng những nghiên cứu, đánh giá về vấn đề này còn
hạn chế và mới chỉ thực hiện trên diện rộng, thiếu những nghiên cứu cụ thể
cho từng địa phƣơng, từng dự án cơ sở.

Trích đoạn Quá trình hình thành và phát triển Tài nguyên rừng xuất một số giải pháp nhằm phát triển rừng phòng hộ ở lâm trƣờng Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status