Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ QUANG TIẾN
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC THU HỒI
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN VIẾT KHANH
Thái Nguyên – Năm 2010
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ 5
MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục đích nghiên cứu đề tài 7
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài 7
CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT 8
1.1. Cơ sở lý luận về trình tự, thủ tục thu hồi đất 8
1.1.1. Khái niệm “thu hồi đất” và “trình tự, thủ tục thu hồi đất” 8
1.1.2. Ý nghĩa pháp lý của việc thu hồi đất 12
1.1.3. Cơ sở pháp lý cho việc quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất và các vi
phạm pháp luật thường xảy ra khi thực hiện các thủ tục thu hồi đất 14
3.3.1. Thực hiện triển khai công tác bồi thường , tái định cư ở Thành phố Thái
Nguyên 49
3.3.2. Những bất cập của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi
đất nông nghiệp 52
3.3.3. Thực trạng của công tác thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố
54
3.4. Ảnh hưởng của công tác thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống của các hộ nông
dân mất đất sản xuất 61
3.4.1. Thực trạng về cuộc sống của những người dân mất đất sản xuất 61
3.4.2. Đánh giá sự ảnh hưởng của thu hồi đất tới đời sống người dân khi mất đất 67
3.5. Một số kiến nghị của người dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp 70
3.5.1. Về đào tạo nghề chuyển đổi việc làm 70
3.5.2. Đảm bảo đời sống theo hướng phát triển sản xuất và dịch vụ 71
3.5.3. Một số ý kiến khác 72
3.6. Ảnh hưởng của công tác thu hồi đất đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của
thành phố 73
3.7 Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn
thành phố Thái Nguyên 76
3.7.1. Về chính sách từ trung ương và của tỉnh 76
3.7.2. Nhóm giải pháp liên quan tới chính quyền Thành phố 80
CHƢƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
4.1. Kết luận 93
4.2. Kiến nghị 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
KTTT Kinh tế thị trường
ATK An Toàn Khu 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Phân loại địa hình theo cấp độ dốc thành phố Thái Nguyên 31
Bảng 3.2. Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính trên địa bàn Thành phố Thái
Nguyên 33
Bảng 3.3. Cơ cấu tổng sản phẩm theo giá thực tế phân theo 3 khu vực kinh tế của
Thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006-2009 34
Bảng 3.4. Dân số tạm trú trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên 35
Bảng 3.5. Bảng thống kê lao động việc làm trên địa bàn Thành phố năm 2009 36
Bảng 3.6. Các chỉ tiêu kinh tế xã hội trên địa bàn Thành phố năm 2007-2009 37
Bảng 3.7. Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất đô thị Thành phố Thái Nguyên năm 2009 40
Bảng 3.8. Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2007, 2008, 2009 44
Bảng 3.9. Tổng hợp giá trị phê duyệt về bồi thường GPMB 3 năm 2007-2009 51
Bảng 3.10. Kết quả công tác thu hồi đất trên địa bàn TP (2007-2009) 54
Bảng 3.11. Tổng hợp công tác thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn 56
Bảng 3.12. Một số thông tin cơ bản của các chủ hộ điều tra 60
Bảng 3.13. Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau thu hồi đất 62
Bảng 3.14. Tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của hộ trước và sau thu hồi đất 62
Bảng 3.15. Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình thu hồi đất 64
Bảng 3.16. Tình hình sử dụng nguồn đền bù của hộ 65
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội đã phát sinh
hàng loạt những vấn đề về nhu cầu sử dụng đất của các cơ quan, đơn vị, các thành
phần kinh tế. Vì chỉ có đất đai mới là tiền đề để tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế.
Đi đôi với nó, công tác quản lý đất đai ngày càng nảy sinh những phức tạp do nhu cầu
sử dụng ngày càng tăng của xã hội.
Sau Luật Đất đai năm 1993, cùng với sự phát triển chung của cả nước tốc độ đô
thị hoá tại thành phố Thái Nguyên diễn ra ngày càng nhanh, từ đô thị loại 2 trở thành
đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2010. Chính vì sự phát triển đó mà diện tích dành
cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Quan hệ kinh tế đất đô thị cũng được
phục vừa đảm bảo lợi ích và an toàn cho người sử dụng đất, vừa đảm bảo lợi ích cho
toàn xã hội, đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước về đất đai.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của người dân bị thu hồi đất
nông nghiệp, từ đó rút ra nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong công tác
thu hồi đất nông nghiệp và đề ra các giải pháp để khắc phục.
- Thông qua các nghiên cứu kiến nghị cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh
vực thu hồi đất giúp cho công tác này đạt hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới.
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT
1.1. Cơ sở lý luận về trình tự, thủ tục thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm “thu hồi đất” và “trình tự, thủ tục thu hồi đất”
của luật này”.
Qua phân tích trên, thu hồi đất được hiểu dưới hai góc độ cơ bản, đó là:
Thứ nhất, Thu hồi đất là biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp Luật
Đất đai được thể hiện dưới hình thức là một quyết định hành chính của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Đây là quyết định thể hiện quyền lực
nhà nước nhằm thực thi một trong những nội dung của nhà nước về quản lý đất đai.
Một quyết định thu hồi đất không đúng thẩm quyền hoặc trái thẩm quyền không làm
chấm dứt quan hệ pháp Luật Đất đai. Mọi quyết định thu hồi đất phải tuân thủ quy
định về thẩm quyền thu hồi đất. Thẩm quyền thu hồi đất phải tuân thủ Điều 44 Luật
Đất đai năm 2003.
Thứ hai, việc thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu Nhà nước và xã hội hoặc là
biện pháp chế tài nhằm xử lý các vi phạm pháp Luật Đất đai của người sử dụng đất.
Điều này có nghĩa Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế theo các trường hợp quy
định tại Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007. Mặt khác, trong nhiều
lý do để Nhà nước thu hồi đất thì các vi phạm pháp Luật Đất đai của người sử dụng
đất chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đây là các trường hợp không tuân thủ các quy định của
Nhà nước về quản lý và sử dụng đất, vi phạm với quy mô và mức độ nghiêm trọng dẫn
tới hậu quả là Nhà nước phải tước đi quyền sử dụng đất của họ. Thu hồi đất là một
biện pháp cần thiết để chấm dứt sự vi phạm của người sử dụng đất và lập lại kỷ cương
trong quản lý Nhà nước về đất đai.
Như trên đã phân tích, thu hồi đất có thể được hiểu: “là văn bản hành chính của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp Luật Đất đai để
phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp
Luật Đất đai của người sử dụng đất”.
1.1.1.2. Khái niệm “trình tự, thủ tục thu hồi đất”
Cho đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về trình tự thủ tục thu hồi đất.
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhiên và thu hồi do vi phạm pháp Luật Đất đai. Do vậy trình tự, thủ tục giải quyết
tương ứng cho mỗi loại là không giống nhau. Ví dụ: quy trình thực hiện thu hồi đất
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh
tế khác với thu hồi đất do vi phạm pháp Luật Đất đai ở một số thủ tục như bồi thường
hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi.
Thứ hai, các quy phạm pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất so với các quy
phạm về nội dung tương ứng có tính năng động hơn, đòi hỏi phải được thay đổi nhanh
hơn trước những yêu cầu mới. Trình tự, thủ tục là do nhà làm luật đặt ra, trong một
chừng mực nhất định, nó lệ thuộc vào nhận thức chủ quan của nhà lập pháp. Nếu nhận
thức đó là phù hợp với thực tế khách quan thì trình tự, thủ tục hành chính sẽ mang tính
tiến bộ, thiết thực phục vụ cho cuộc sống. Nếu nhận thức đó không phù hợp với yêu
cầu khách quan thì sẽ xuất hiện những trình tự, thủ tục lạc hậu, chúng sẽ là lực cản kìm
hãm bước đi lên của xã hội. Có thể nhận thấy rằng trước thời điểm Luật Đất đai năm
2003 ra đời, các văn bản pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất chưa đồng
bộ, nhiều quy định không phù hợp với thực tế, thủ tục còn rườm rà, rắc rối làm tốn
nhiều thời gian công sức, làm nản lòng không ít các nhà đầu tư, nhiều dự án công trình
đã phải “bỏ lửng” hoặc không thực hiện được. Từ thực tế đó, nhiều sai phạm đã nảy
sinh ở nhiều địa phương trong cả nước, một bộ phận không nhỏ cán bộ có thẩm quyền
giao đất, cho thuê đất đã lợi dụng sơ hở của pháp luật để gây phiền hà sách nhiễu dân.
Nhiều người dân bất chấp, làm ngơ trước các quy định đó bởi việc thực hiện theo đúng
các quy định là khó khăn, không phù hợp với thói quen lâu đời của người dân. Trước
những tồn tại và bất cập nêu trên, sự cần thiết khách quan đặt ra là phải có sự thay đổi
căn bản chính sách, pháp luật về thủ tục thu hồi đất. Luật Đất đai năm 2003 và các văn
bản hướng dẫn thi hành ra đời đã tạo ra sự thay đổi lớn về trình tự, thủ tục thu hồi đất.
Thứ ba, trình tự, thủ tục hành chính thực hiện thu hồi đất đã và đang góp phần
cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ
giữa họ, tạo nên sự đồng thuận với chính sách của Đảng và Nhà nước. Để giải quyết
mối quan hệ này, nhà nước cần đồng thuận với dân, coi quyền sử dụng đất là một tài
sản của dân. Đối với người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất bao gồm các doanh
nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức sử dụng đất của Nhà nước và một bộ phận dân cư
trong xã hội cũng cần có sự điều tiết về việc hưởng lợi này. Cụ thể, đối với các doanh
nghiệp, nhà đầu tư, Nhà nước cần áp dụng chính sách buộc họ cam kết thực hiện việc
thu hút con em của người nông dân bị mất đất vào làm việc, coi đó như là sự “trả
công” về sự “hy sinh” đất canh tác cho các liên doanh sử dụng làm mặt bằng sản xuất
kinh doanh. Đối với một bộ phận dân cư hưởng lợi từ việc thu hồi đất, cần nhanh
chóng áp dụng chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất đai sau khi thu hồi
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhằm đảm bảo công bằng về lợi ích giữa các đối tượng này. Nếu Nhà nước giải quyết
được hài hoà và công bằng về lợi ích kinh tế giữa người bị thu hồi đất với các đối
tượng được hưởng lợi từ việc thu hồi đất thì việc bồi thường giải phóng mặt bằng
không quá khó khăn, phức tạp và gây nhiều khiếu kiện kéo dài như hiện nay.
Hiện nay, nhu cầu sử dụng đất để xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế đất
nước là rất lớn, đòi hỏi cần có một hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng. Thu hồi đất là
vấn đề nhạy cảm và mang tính thời sự, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người
sử dụng đất, của nhà nước và các chủ thể khác có liên quan. Bởi vậy, quy định về trình tự,
thủ tục thu hồi đất sao cho phù hợp với thực tiễn khách quan rất quan trọng và cực kỳ cần
thiết, tạo điều kiện cho các thủ tục hành chính về thu hồi đất được minh bạch hoá, tránh
được tình trạng lạm dụng quyền trong quản lý của các cơ quan nhà nước trong quá trình
thực hiện, góp phần giảm thiểu các vi phạm pháp Luật Đất đai.
Thực tiễn cho thấy, trong nhiều trường hợp, nguyên nhân chủ yếu phát sinh các
tranh chấp, khiếu kiện khi thu hồi đất là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi
không công khai, không minh bạch nên không nhận được sự đồng tình của người dân.
Ở nhiều nơi, thu hồi đất diễn ra không rõ ràng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thông báo cho người sử dụng đất
1.1.3. Cơ sở pháp lý cho việc quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất và
các vi phạm pháp luật thƣờng xảy ra khi thực hiện các thủ tục thu hồi đất
1.1.3.1. Cơ sở pháp lý
Cải cách thủ tục hành chính trong quản lý đất đai đã và đang đặt ra một đòi hỏi
bức bách của các ngành, các cấp và của đại đa số quần chúng nhân dân với kỳ vọng có
cơ chế quản lý đất đai thông thoáng, hấp dẫn để khuyến khích, thu hút các doanh
nghiệp, các nhà đầu tư và tất cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất nhanh chóng có
đất để sản xuất; thông qua đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, khơi dậy nguồn lực
phát triển đất nước.
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 có hiệu lực
ngày 01/7/2004 đã quy định thu hồi đất thành một mục riêng (Mục 4 chương II điều
38-45), cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi
hành Luật Đất đai năm 2003.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường hỗ
trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về việc sửa đổi bổ sung một số
điều của các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
- Các thủ tục hành chính về thu hồi đất đã được bổ sung và khá hoàn thiện, giải
quyết được nhu cầu về mặt pháp lý mà trước đó vấn đề này còn bị “buông lỏng”, “thả
trôi”. Điều đặc biệt là Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ đã
chính thức quy định về một chu trình hành chính trong thu hồi đất làm cơ sở cho các
địa phương trong cả nước triển khai đúng quy định của pháp luật khi thu hồi đất, thực
hiện các dự án đầu tư, phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia. Các văn bản quy
phạm pháp luật như vậy đã tạo ra một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, giải quyết
khá tốt mối quan hệ đất đai ở khu vực nông thôn, bước đầu đã đáp ứng được các mối
quan hệ đất đai mới hình thành trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và ngày
các cấp chính quyền cũng như những cán bộ trực tiếp quản lý…
1.2. Chính sách khi thu hồi đất ở một số nƣớc và Việt nam
1.2.1. Chính sách khi thu hồi đất ở một số nƣớc
1.2.1.1. Ở Trung Quốc
Có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là
hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị
ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như việc thu hồi đất là
không thể tránh khỏi thì cần có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính
toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu
hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người
nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường cho người bị thu hồi đất. Người
bị thu hồi đất được thanh toán ba khoản tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái
định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Tiền bồi thường cho hoa màu, cho
các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại.
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo
cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải phóng mặt
bằng được giao cho Cục quản lý tài nguyên đất ở địa phương đảm nhiệm. Tổ chức, cá
nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền giải tỏa mặt bằng thửa đất đó.
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ
yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính đến chênh lệch giữa giá xây
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dựng lại nhà mới và nhà cũ; giá đất theo quy định và trợ cấp về giá tại thời điểm giải
phóng mặt bằng.
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở
nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn.
Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với
mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá,
1.2.1.3. Ở Hàn Quốc
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng
nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư
trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành
phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù được thực hiện
thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành
phố quản lý và chính sách tái định cư.
Các hộ dân bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý,
được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km. Vào những
năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết người dân có
quyền mua hoặc bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với
giá gốc
1.2.2. Chính sách thực hiện bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ để thực hiện thu
hồi đất ở Việt Nam
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đang
được hoàn thiện để phù hợp với nhu cầu thực tế, từng bước nhằm đảm bảo quyền lợi
của người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện, đặc
biệt là sau sự ra đời của Nghị định 84/2007/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị định
69/2009/NĐ-CP của Chính phủ đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của
các văn bản pháp luật. Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian
qua đã đạt được một số kết quả nhất định, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được xác định đầy đủ
chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước.
Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị
thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước
nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất.
1.2.3. Chính sách thực hiện bồi thƣờng hỗ trợ tái định cƣ ở tỉnh Thái Nguyên.
+ Về cơ chế chính sách
Để chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bồi thường GPMB trên địa bàn tỉnh,
Tỉnh uỷ- HĐND- UBND tỉnh đã ban hành các cơ chế chính sách như sau:
- Tỉnh uỷ đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TU ngày 17 tháng 7 năm 2006 của Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường lãnh đạo công tác bồi thường GPMB.
- HĐND tỉnh Thái Nguyên có Nghị Quyết số 02/2005/NQ-HĐND ngày
25/7/2005 chuyên đề về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- UBND Tỉnh ban hành cơ chế, chính sách về đất đai, xây dựng, bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư: Quyết định số 2690/QĐ-UB ngày 09/9/2002; Quyết định số
2044/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 Quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư; quyết định ban hành giá các loại đất hàng năm; quyết định ban hành đơn giá tài
sản, vật kiến trúc, cây cối hoa mầu gắn liền với đất… phục vụ công tác bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư đúng quy định pháp luật và gần đây nhất là Quyết định số 01/2010/QĐ-
UBND ngày 05/01/2010 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định thực hiện bồi
thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Chủ động phối hợp với các tổ chức: Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, các cơ
quan truyền thông trong việc tuyên truyền vận động các đối tượng thực hiện chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước khi tiến hành GPMB.
- Thường xuyên chỉ đạo giải quyết những khó khăn, vướng mắc, các khiếu nại
tố cáo của công dân liên quan đến công tác BTGPMB; yêu cầu các ngành, các cấp
Chính quyền cơ sở nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức chấp hành pháp luật về
Đất đai, chấp hành nghiêm các quy định của Chính phủ, của UBND tỉnh về trình tự
thủ tục giải quyết công việc liên quan đến thu hồi đất, BTGPMB nhằm đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi để thực hiện
các dự án. Nhìn chung, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng hỗ trợ tái định cư từ
sau khi có Nghị định 197/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản quy định của tỉnh về
bồi thường GPMB trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu,
yêu cầu đề ra.
21
định cư mới thay thế Quyết định số 2044/QĐ-UBND ngày 30/9/2005.
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Trách nhiệm của từng ngành, từng cấp trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư như công khai quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, tiến độ thực hiện dự án,
quy trình thực hiện, công khai diện tích đất bị thu hồi và công khai phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư đã được quy định tại Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và
Dự thảo mới thay thế quyết định số 2044/2005/QĐ-UBND đã đề cập.
+ Những tồn tại vƣớng mắc và nguyên nhân
* Những tồn tại vƣớng mắc
- Hệ thống các văn bản quy phạm: về lĩnh vực đất đai liên tục thay đổi dẫn tới
các cơ chế chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải thay đổi phù hợp với
Luật Đất đai. Chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB theo Luật Đất đai và các văn bản
hướng dẫn mới có lợi cho người dân hơn chính sách bồi thường, hỗ trợ cũ. Điều này
làm cho người đã bị thu hồi đất trước đây cảm thấy thiệt thòi hơn so với chính sách
mới, tạo ra những thắc mắc đòi được bồi thường, hỗ trợ theo chính sách mới.
- Về hồ sơ đất đai: Có thể nói đây còn là một khâu yếu trong quản lý nhà nước
về đất đai gây nên những khó khăn cho việc triển khai thực hiện các chính sách bồi
thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng,
quyết định số 142/QĐ-UB ngày 4/3/1984 của UBND tỉnh Bắc Thái đã quy định lộ giới
đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ song khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các
cấp chính quyền địa phương vẫn cấp đất ở cho các hộ vào phần đất thuộc lộ giới giao
thông đã quy định.
- Công tác đo đạc bản đồ và chỉnh lý hồ sơ đất đai chưa được thực hiện đầy đủ
và kịp thời, nên việc xác định vị trí ô thửa đất, chủ sử dụng đất mất rất nhiều thời gian
và kinh phí khi thực hiện thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ GPMB.
- Một số địa phương khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở không đúng
quy định, vượt trên hạn mức, không tách đất ở và đất vườn mà ghi chung trên giấy
nằm trong quy hoạch.
- Một số dự án đã thu hồi đất, đã phê duyệt phương án dự toán bồi thường song
không có kinh phí để chi trả cho nhân dân.