Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TN & MT : Tài nguyên và Môi trường
NTCN : Nước thải công nghiệp
NTSH : Nước thải sinh hoạt
BVMT : Bảo vệ môi trường
BOD : Nhu cầu ô xy sinh hóa
COD : Nhu cầu ô xy hóa học
TSS : Chất rắn lơ lửng
Hg : Thủy ngân
Cd : Cadmium
As : Arsenic
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Nồng độ các chất ô nhiễm có trong nước thải của một số ngành công
nghiệp (mg/l)
Bảng 1.2. Mức thu đối với các chất gây ô nhiễm có trong nước thải
Bảng 1.3: Bảng thống kê kết quả thu phí nước thải công nghiệp của thành phố Hồ
Chí Minh từ tháng 12/2004 đến tháng 6/2005
Bảng 2.1. Công tác kê khai quản lý tài nguyên nước trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.2: Tình hình nộp phí của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Biểu đồ thành phố Hà Nội
Hình 2.2. Cơ cấu theo ngành các doanh nghiệp công nghiệp tại Hà Nội
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Với những mục đích đó, tôi muốn tìm hiểu xem tình hình thu phí môi trường,
đặc biệt là phí nước thải trên địa bàn Hà Nội để từ đó có cái nhìn toàn diện, cách
đánh giá các vấn đề môi trường, nâng cao nhận thức và hiểu biết.
2. Mục tiêu của chuyên đề
Nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những yêu cầu sau: Thứ nhất, tìm hiểu thực
trạng hoạt động thu phí nước thải trên địa bàn Hà Nội để từ đó nâng cao nhận thức
của các tổ chức và cá nhân, tăng cường kiểm soát ô nhiễm, góp phần đảm bảo sự
phát triển bền vững, làm trong sạch môi trường. Thứ hai, từ những thực trạng đó,
đưa ra một số giải pháp để công tác thu phí nước thải bảo vệ môi trường được thực
hiện một cách tốt hơn
3. Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
• Phạm vi không gian- địa bàn nghiên cứu: Hà Nội
• Phạm vi thời gian: Từ ngày 9/3 đến ngày 9/5
4. Các phương pháp sẽ sử dụng
• Điều tra
• Phân tích
5. Các môn học chuyên ngành có liên quan trực tiếp đến chuyên đề:
• Kinh tế và Quản lý môi trường
• Quản lý Tài nguyên môi trường
6. Nội dung chuyên đề
Để tài mà tôi chọn là “thực trạng và giải pháp công tác thu phí nước thải
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn Hà Nội”. Nội dung của nó là tìm
hiểu về Thành phố Hà Nội và hoạt động thu phí nước thải trên địa bàn. Từ đó đề
xuất các giải pháp để hoàn thiện hoạt động về phí môi trường ở đây. Chuyên đề tốt
nghiệp ngoài phần mở đầu, phần kết luận, lời cảm ơn, lời cam đoan, còn có phần
nội dung gồm các chương chính sau:
Chương I. Tổng quan về phí môi trường và đối tượng chịu phí môi trường
Nước thải công nghiệp có chứa rất nhiều chất gây ô nhiễm như là COD, BOD,
TSS, các loại chất hóa học khác… Và nước thải công nghiệp mang tính chất đặc
trưng của từng loại hình sản xuất công nghiệp. Những ngành công nghiệp khác
nhau thì nước thải của chúng cũng mang những tính chất khác nhau. Dưới đây là
đặc trưng của một số ngành công nghiệp:
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngành dệt nhuộm: Là một trong những ngành gây ô nhiễm môi trường nước
nhất, ngành này sử dụng công đoạn tẩy, nhuộm, in. Các đặc trưng ô nhiễm của nước
thải dệt nhuộm chủ yếu đánh giá qua các thông số: pH, COD, BOD, TDS (tổng chất
rắn hòa tan) và SS (chất lơ lửng)
Nước thải này có các đặc trưng:
Ô nhiễm chất hữu cơ được thể hiện qua thông qua chỉ số COD, BOD. Nước
thải của ngành này có nồng độ hai chất này rất cao.
Độ pH cao, trong khoảng 8-12.
Ô nhiễm kim loại nặng chủ yếu do sử dụng hóa chất tẩy và thuốc nhuộm dưới
dạng các hợp chất kim loại. Một trong những nguồn ô nhiễm kim loại là pigment,
có nguồn gốc chủ yếu từ các hợp chất cơ kim dạng halogen hóa.
Độ dẫn điện cao hay tổng chất rắn hòa tan cao (TDS) do sử dụng các muối tan
khá lớn, như Na
2
SO
4
, NaCl.
Một đặc trưng của nước thải dệt nhuộm nữa là độ màu. Ô nhiễm màu phụ
thuộc vào mức độ gắn màu giữa thuốc nhuộm và sợi dệt. Nó còn phụ thuộc vào
thiết bị và trình độ vận hành công nghệ của từng cơ sở sản xuất.
Ngành cơ khí – mạ: Nước thải ngành này chủ yếu chứa hàm lượng các kim
loại nặng rất cao, gây độc với sinh vật, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người: Cr,
chất ô nhiễm không đáng kể. các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng thường thấy ở
nước thải sinh hoạt là BOD5, COD, nito (N) và phốt pho (P). Trong nước thải sinh
hoạt, hàm lượng N và P rất lớn, nếu không được loại bỏ thì sẽ làm cho nguồn tiếp
nhận nước thải bị phú dưỡng- một hiện tượng thường xảy ra ở nguồn nước có hàm
lượng N và P cao, trong đó các loài thực vật thủy sinh phát triển mạnh rồi chết đi,
thối rửa, làm cho nguồn nước trở nên ô nhiễm.
Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt, đặc biệt là trong
phân, đó là các loại mầm bệnh được lây truyền bởi các vi sinh vật có trong phân. Vi
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sinh vật gây bệnh từ nước thải có khả năng lây qua nhiều nguồn khác nhau, qua tiếp
xúc trực tiếp, qua môi trường (đất, nước, không khí, cây trồng, vật nuoi, côn trùng,
…), thâm nhập vào cơ thể người qua đường thức ăn, nước uống, hô hấp,…và sau đó
có thể gây bênh. Vi sinh vật gây bệnh cho người bao gồm các nhóm chính là virus,
vi khuẩn, nguyên sinh bào và giun sán.
Với thành phần ô nhiễm là các tạp chất nhiễm bẩn có tính chất khác nhau, từ
các loại chất không tan đến các chất ít tan và cả những hợp chất tan trong nước, việc
xử lý nước thải sinh hoạt là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch nước và có thể đưa
nước vào nguồn tiếp nhận hoặc đưa vào tái sử dụng. việc lựa chọn phương pháp xử
lý thích hợp thường được căn cứ trên đặc điểm cuả các loại tạp chất có trong nước
thải. các phương pháp chính thường được sử dụng trong các công trình xử lý nước
thải sinh hoạt: phương pháp hóa học, phương pháphóa lý, phương pháp sinh học
1.2. Tổng quan về phí môi trường
1.2.1. Vài nét về công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công cụ
chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của
các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra cấc tác động ảnh hưởng đến hành vi của các
tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường.
Một số công cụ kinh tế chủ yếu:
Phí bảo vệ môi trường được quy định tại nghị định số 57/2002/NĐ – CP ngày
03/06/2002 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí quy
định thành 6 loại sau:
- Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- Phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá và
các nguyên liệu khác.
- Phí bảo vệ môi trường với chất thải rắn.
- Phí bảo vệ môi trường tiếng ồn.
- Phí bảo vệ môi trường đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí bảo vệ môi
trường với việc khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản khác.
Như vậy, phí bảo vệ môi trường nói chung và phí nước thải nói riêng có thể
được hiểu là một khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi
được hưởng một dịch vụ về môi trường. Phí môi trường nhằm hai mục đích chủ
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
yếu: Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường
và tăng nguồn thu cho ngân sách chung của Chính phủ như các nguồn thu thuế
khác, còn nguồn thu từ phí môi trường sẽ được dành riêng để chi cho hoạt động bảo
vệ môi trường, như để thu gom xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm, hỗ trợ
các nạn nhân của ô nhiễm…
Có thể nói đây là một công cụ quản lý cần thiết cho các nhà hoạch định chính
sách cũng như các nhà quản lý nhằm đạt được các mục tiêu môi trường.
1.2.3. Sự cần thiết của việc áp dụng phí nước thải
Việc sử dụng phí nước thải là cần thiết và phù hợp với thực tế chung của thế
giới cũng như tình hình phát triển kinh tế của nước ta trong những năm trở lại đây.
Xuất phát từ thực tế cuộc sống của con người gắn liền với môi trường tự nhiên mà
trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng ảnh hưởng tới những khu vực có người dân sống quanh khu vực ô nhiễm.
Kinh nghiệm trên thực tế của các nước trên thế giới cho thấy việc nhà nước
như những dạng ảnh hưởng khác của môi trường). Giá cả phải “nói lên sự thật” về
những chi phí sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Nếu không, sẽ dẫn đến việc
sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên, làm cho ô nhiễm trở nên trầm trọng hơn so
với mức tối ưu đối với xã hội. Việc buộc những người gây ô nhiễm trả tiền là một
trong những cách tốt nhất để làm giảm bớt các tác động của ngoại ứng gây ra làm
thất bại thị trường.
1.3.2. Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (BPP)
Nguyên tắc này chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về
môi trường. Đối nghịch với việc người trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người
được hưởng một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản phí. Nguyên
tắc BPP đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường với một cách nhìn nhận riêng.
Thay vì PPP, nguyên tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải
thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những
người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường. Thực hiện
nguyên tắc BPP cũng sẽ tạo ra một khoản thu nhập đáng kể. Mức phí tính theo đầu
người càng cao và càng có nhiều người nộp phí, thì số thu được càng nhiều. Số tiền
thu được theo nguyên tắc BPP có thể do các cá nhân muốn bảo vệ môi trường, hoặc
do những cá nhân không phải trả tiền cho việc thải ra các chất gây ô nhiễm trong
giá thành sản phẩm nộp. Tuy nhiên, vì tiền không phải do các công ty gây ô nhiễm
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trực tiếp trả, nên nguyên tắc BPP không tạo ra một sự khuyến khích nào đối với
việc bảo vệ môi trường trực tiếp.
Về thực chất, nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như là một định hướng hỗ
trợ nhằm đạt được các mục tiêu bảo vệ môi trường, cho dù đó là mục tiêu bảo vệ
hay là phục hồi môi trường. Nếu mức phí có thể được thu đủ để dành cho các mục
tiêu môi trường, thì lúc đó chính sách này có thể được coi là chính sách có hiệu quả
về môi trường. Đích hướng tới của BPP là nhằm bảo vệ môi trường, nên có thể coi
là nó được công chúng ủng hộ rộng rãi.
- Cơ sở nuôi tôm công nghiệp; cơ sở sản xuất và ươm tôm giống;
- Nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ:
- Hộ gia đình;
- Cơ quan nhà nước;
- Đơn vị vũ trang nhân dân;
- Trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức, cá nhân;
- Các cơ sở rửa ô tô, xe máy;
- Bệnh viện, phòng khám chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ khác;
1.4.2. Nguyên tắc xác định phí nước thải
Theo nghị định 67/2003/NĐ- CP của Chính phủ ban hành việc thu phí nước
thải và thông tư 125/2003/TTLT – BTNMT hướng dẫn thi hành nghị định 67, thông
tư này quy định rõ đối tượng phải chịu phí bảo vệ môi trường với nước thải và cách
tính phí.
1.4.2.1. Nguyên tắc xác định phí nước thải công nghiệp
Số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được tính cho từng
chất gây ô nhiễm theo công thức sau:
Số phí = Tổng lượng
nước thải
thải ra (m
3
)
* Hàm lượng
chất gây ô
nhiễm có
* 10
-3
* Mức thu phí đối
với nước thải ra
Stt Chất gây ô nhiễm
trong nước thải
Mức thu
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
(đ/kg chất gây ô nhiễm có trong nước thải)
Tên gọi
Ký
hiệu
Môi trường
tiếp nhận A
Môi trường
tiếp nhận B
Môi trường
tiếp nhận C
Môi trường
tiếp nhận D
1
Nhu cầu ô
xy sinh hóa
A
BOD
300 250 200 100
2
Nhu cầu ô
xy hóa học
A
COD
300 250 200 100
đáng khích lệ. Do đó, việc thực thi phí nước thải với nước ta cũng có nhiều ảnh
hưởng tác động đến môi trường nước mặt, cụ thể ở đây là nước mặt và môi trường
sông Tô Lịch, giúp mọi người nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, Nhà nước và địa
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phương có thêm nguồn thu từ đó có đầu tư trở lại vào môi trường nhằm bảo vệ môi
trường, kích thích các doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải hoặc đổi
mới công nghệ nhằm làm giảm lượng ô nhiễm, từ đó nâng cao chất lượng môi
trường.
Hiện nay, tổng lượng nước thải sinh hoạt của khu vực nội thành Hà Nội
khoảng 500.000m
3
/ ngày đêm trong đó có khoảng 100.000m
3
/ ngày đêm là nước
thải của các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, bệnh viện. Toàn bộ lượng nước thải này
được tiêu thoát chủ yếu qua 4 con sông chính của thành phố: Sông Tô Lịch, sông
Sét, sông Kim Ngưu và sông Lừ. Nước thải sinh hoạt phần lớn qua xử lý sơ bộ tại
các bể tự hoại trước khi thải vào tuyến cống chung, kênh, mương, ao, hồ. Tuy nhiên
các bể tự hoại này làm việc kém hiệu quả do xây dựng không đúng quy cách, không
hút phân cặn thường xuyên nên hàm lượng chất bẩn trong nước cao, gây ảnh hưởng
xấu trong chất lượng nước trong các kênh mương.
Sông Tô Lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông tiêu thoát nước chính
của thành phố Hà Nội. Qua đánh giá thực tế ban đầu bằng việc quan sát trực tiếp
sông, có thể nói sông đang bị ô nhiễm nặng mùi dù mùa khô hay mùa mưa. Vào
những ngày nóng bức mùi từ sông bốc lên gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức
khỏe, cũng như sản xuất của người dân hai bên bờ sông. Không những thế nó còn
gây mất mỹ quan đô thị làm giảm hình ảnh thủ đô cũng như môi trường của thành
phố.
- Số doanh nghiệp dự kiến phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
công nghiệp là 6000 đơn vị.
- Số doanh nghiệp đã đăng ký nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
công nghiệp: 1.689 đơn vị.
- Số doanh nghiệp đã được thẩm định và thông báo nộp phí bảo vệ môi trường
đối với nước thải công nghiệp: 1.537 đơn vị.
- Số doanh nghiệp đã nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp: 827 đơn vị
Bảng 1.3: Bảng thống kê kết quả thu phí nước thải công nghiệp
của thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 12/2004 đến tháng 6/2005.
Số lượng doanh
nghiệp
Tổng số phí bảo vệ môi
trường thu được
Tỷ lệ %
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Doanh nghiệp đã kê
khai
1689/6000 3.262.726.115 28.15
Doanh nghiệp đã
được thẩm định và
thông báo nộp phí
1537 3.433.310.178 25.61
Doanh nghiệp đã
nộp phí
827 2.426.927.494 13.78
(Nguồn: vietnamnet.vn)
Như vậy, sau hơn một năm thực hiện nghị định tỷ lệ thu phí nước thải công
+ Lệ phí cao hơn một chút so với chi phí vận hành thiết bị
+ Lệ phí thay đổi theo số lượng, nồng độ và loại chất gây ô nhiễm được thải ra.
+ Lệ phí ô nhiễm áp dụng cho việc xả thải nước thải công nghiệp đối với chất
gây ô nhiễm nhất định nào đó được tính bằng cách nhân với lượng nồng độ chất gây
ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn
1.5.2.2. Hàn Quốc
Phí nước thải đánh vào nguồn gây ô nhiễm được Hàn Quốc áp dụng từ những
năm 1983. Ban đầu phí được áp dụng dưới dạng phạt do không thực hiện đúng cam
kết. Cơ quan môi trường (hiện nay là Bộ Môi Trường của Hàn Quốc) được quyền
phạt tiền các cơ sở gây ô nhiễm nếu như vi phạm tiêu chuẩn môi trường và sau đó
yêu cầu phải có biện pháp xử lý nếu vẫn tiếp tục thải vượt tiêu chuẩn cho phép.
Từ năm 1986 biện pháp này đã được thay đổi bằng thu phí với phần thải vượt tiêu
chuẩn. Mức phí được xác định dựa trên cơ sở nồng độ chất gây ô nhiễm, vị trí thải ô
nhiễm, thời gian vượt tiêu chuẩn cho phép và tùy vào số lần vi phạm tiêu chuẩn.
Nhưng sau một thời gian thực hiện biện pháp này đã bộc lộ một số nhược
điểm như:
- Xuất phí đặt ra quá thấp, trong một số trường hợp thấp hơn cả chi phí vận hành và
mua các thiết bị xử lý ô nhiễm nên không có tác dụng khuyến khích giảm ô nhiễm.
- Việc chỉ dựa vào nồng độ chất gây ô nhiễm để tính phí có thể không buộc
các cơ sở sản xuất kinh doanh giảm lượng ô nhiễm thải ra môi trường bởi vì họ cố
tình lẩn tránh bằng cách pha loãng nồng độ chất thải trong khi đó lượng chất ô
nhiễm thải ra không thay đổi.
Để khắc phục những nhược điểm trên, từ năm 1990 Hàn Quốc đã đánh phí căn
cứ vào lượng thải vượt tiêu chuẩn cho phép và kết hợp nồng độ chất thải trong công
thức tính phí. Ngoài ra, Hàn Quốc đã điều chỉnh xuất phí cao hơn chi phí vận hành
hệ thống xử lý ô nhiễm để khuyến khích giảm ô nhiễm.
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II. Hiện trạng công tác thu phí nước thải trên địa bàn Hà Nội
nay không lớn.
Địa hình: Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi. Địa hình
đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông của Hà
Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông Đà, hai bên
sông Hồng và chi lưu các sông. Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địa phận các huyện
Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức. Một số đỉnh núi cao như: Ba Vì 1.281m; Gia
Dê 707m; Chân Chim 462m; Thanh Lanh 427m; Thiên Trù 378m; Bà Tượng 334m;
Sóc Sơn 308m; Núi Bộc 245m; Dục Linh 294m…
Sông ngòi: Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc: sông Đà và sông
Hồng. Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống. Ðoạn sông Hồng
qua Hà Nội dài 163km (chiếm khoảng 1/3 chiều dài trên đất Việt Nam, khoảng
550km. Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn có các sông: Đuống, Cầu,
Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch, Kim Ngưu, Bùi.
Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều. Những hồ nổi tiếng ở nội thành Hà Nội
như hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Bảy Mẫu. Hàng chục hồ đầm
thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liên, hồ Liên Đàm, đầm Vân Trì và nhiều hồ
lớn thuộc địa phận Hà Tây (cũ): Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân
Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào
tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông
Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn, bao gồm các quận nội thành là Hoàn
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Thanh Xuân, Cầu Giâý, Tây Hồ và Long Biên, và
05 huyện ngoại thành là Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Từ Liêm và Thanh Trì.
Tổng dân số của thành phố khoảng 3 triệu người, trong đó dân số nội thành khoảng
2 triệu người, ngoài ra có hàng trăm nghìn khách vãng lai, người lao động ngoại
tỉnh. Hà Nội có khoảng 5000 nhà máy xí nghiệp, hơn 50 bệnh viện, 80 chợ và hàng
trăm nhà hàng, khách sạn, và các cơ sở thương mại dịch vụ.
trung bình trong số 150 Thành phố có quy mô kinh tế lớn nhất thế giới. Khi đó, sẽ
có dân số đô thị khoảng 6.4 triệu người (trong đó, đô thị trung tâm khoảng 4.8
triệu). Hà Nội lúc đó là đô thị đa cực, đa trung tâm, đa tầng bậc với 5 cụm đô thị vệ
tinh và 13 thị trấn.
Riêng về vấn đề giao thông, so với năm 2000, văn hóa giao thông hiện nay
chưa bằng và vi phạm giao thông tăng hơn.
2.1.2. Hiện trạng môi trường nước ở Hà Nội
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có hai con sông lớn chảy
qua là Sông Hồng và Sông Đuống, trong đó Sông Hồng là sông thứ hai của Việt
Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy vào Việt Nam ở Lào Cai và đổ ra biển Đông.
Tài nguyên nước dưới đất vùng Hà Nội tương đối phong phú. Theo kết quả thăm dò
đánh giá trữ lượng nước đã được hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Nhà nước
duyệt, tổng lượng nước khai thác toàn vùng Hà Nội là 837.600m
3
/ngđ. Tiềm năng
nước dưới đất vùng Hà Nội còn rất lớn, song cho đến nay trữ lượng nước thăm dò
còn được ít.
Tuy nhiên, việc phát triển nóng, gia tăng dân số quá nhanh và thiếu quy hoạch
đô thị đã khiến Hà Nội đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong đó đặc biệt là vấn
đề ô nhiễm môi trường, trong đó có môi trường nước. Ngoài ra, địa phận Hà Nội
còn nhiều con sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ
Nhiều con sông nhỏ cũng chảy trong khu vực nội ô, như sông Tô Lịch, sông Kim
Ngưu trở thành những đường tiêu thoát nước thải của thành phố.
Do sự phát triển đô thị quá mạnh mẽ trong hai thập niên 1990 và 2000, phần
lớn các sông hồ Hà Nội hiện nay đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Sông
Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải chính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận
khoảng 150.000 m³. Tương tự, sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000 m³ một ngày.
Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng đổ vào sông Kim Ngưu khoảng
110.000 m³. Đặc biệt, lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp này đều có hàm
lượng hóa chất độc hại cao. Các sông mương nội và ngoại thành, ngoài vai trò tiêu
giếng khơi, nguồn nước cung cấp cho ăn uống ngày càng đa dạng hơn như nước
máy, nước giếng khoan, nước mưa. Đồng thời chất lượng của mỗi nguồn nước cũng
đang là mối lo ngại của không của riêng ai.
Riêng nguồn nước phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt hằng ngày cũng không
được đảm bảo. Tìm hiểu việc khai thác, sản xuất nước sạch tại Nhà máy nước Hạ
Đình cho thấy nguồn nước ngầm hút lên được đo, phân tích theo 11 nguyên tố bao
gồm sắt, mangan, amoni, vi sinh, NaCl sau quá trình xử lý bằng công nghệ của
nhà máy, 11 nguyên tố này được tiến hành đo, phân tích lại trước khi bơm xả vào hệ
thống mạng cấp nước. Kết quả đo các chỉ số giữa tháng 8-2009 khẳng định hàm
lượng amoni có trong nước ngầm lên tới 6,75mg/l (chỉ số cho phép là 1,5mg/l), hàm
SV: Bùi Thị Xuân Lớp: Môi trường 48
22