Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC: ĐƯỜNG LỐI CÁCH
MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Tên đề tài: Cơ sở, nội dung và ý nghĩa của đường lối kháng
chiến chống thực dân Pháp của Đảng.
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền Lớp : Đ5BH1
Giáo viên hướng dẫn : Triệu Thị Trinh Hà Nội – Năm 2014
1
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền
LỜI MỞ ĐẦU
Chiến tranh là một nghệ thuật. Ở đó có sự đối kháng giữa các lưc lượng
tham chiến. Chiến tranh chính là sự đối kháng trên tất cả các lĩnh vực:
chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, quân sự. Trong suốt tiến trình phát
triển của lịch sử các dân tộc trên thế giới, không có một nước nào dựng
nước và giữ nước mà không có chiến tranh. Mỗi nước tham gia chiến tranh
đều có thể đứng ở vị trí nước chủ chiến hoặc nước bị xâm lược, hoặc cũng
có thể là nước can thiệp. Nhưng dù ở bất cứ vị trí nào đi chăng nữa thì
trong chiến tranh việc đưa ra và thực hiện một đường lối chiến tranh đúng
đắn sẽ quyết định phần lớn khả năng chiến thắng của đất nước đó. Đường
lối chiến tranh chính là kết tinh của trí tuệ con người, nó chính là kim chỉ
nam cho các hành động, cho sự quyết định thắng lợi của một đất nước.
Xuyên suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã
trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh. Và kết quả của những cuộc chiến tranh
ấy chính là nền độc lập dân tộc, là xã hội xã hội chủ nghĩa với tính chất
công bằng, dân chủ, văn minh hôm nay. Để đạt được kết quả này, toàn
Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đổ rất nhiều mồ hôi, xương máu và nước
mắt. Và một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu được để ta đạt
thắng lợi trong các cuộc đấu tranh đó là nhờ ở đường lối lãnh đạo đúng
đắn và sáng suốt của nhà lãnh đạo. Nhìn ngược dòng lịch sử về với Việt
- Theo quy định của hội nghị Ianta và Pôtxđam, vấn đề giải giáp quân đội
Nhật ở Đông Dương, mà cụ thể là ở Việt Nam được quy định như sau :
phía Bắc vĩ tuyến 16 giao cho 20 vạn quân Tưởng, mà đằng sau quân
Tưởng là nước Mỹ. Còn Nam vĩ tuyến 16 được giao cho quân Anh, mà
đằng sau quân Anh là thực dân Pháp. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc,
Việt Nam lại cùng lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù đến như vậy. Đó là
chưa kể đến lúc này ở Việt Nam còn có 6 vạn quân Nhật đang chờ giải
giáp. Lúc này, Đảng ta nhận định: Việt Nam nằm trong vòng vây trùng
trùng điệp điệp của chủ nghĩa Đế quốc. Trong tất cả các kẻ thù lúc bấy giờ,
Pháp chính là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với nền độc lập của Việt Nam.
2.2 Đối nội
- Về chính trị : Hệ thống chính quyền còn non trẻ, chưa có nhiều kinh
nghiệm lãnh đạo. Khối đại đoàn kết toàn dân cần có thời gian củng cố.
3
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền
Chính phủ Hồ Chí Minh vừa mới thành lập, chưa được một nước nào trên
thế giới công nhận nên gặp nhiều khó khăn trong đối ngoại. Bọn phản
động ngóc đầu dậy ráo riết hoạt động.
- Về kinh tế - tài chính : Kinh tế - tài chính lâm vào tình trạng kiệt quệ.
Kinh tế Việt Nam tiêu điều, xơ xác, nạn đói tràn lan, mùa màng thất bát.
Nhà máy nằm trong tay tư bản pháp, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt.
Tài chính khánh kiệt, ngân quỹ trống rống, kho bạc Nhà nước chỉ còn 1,2
triệu, trong đó 58 vạn rách nát, ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay
tư bản Pháp. Quân Tưởng lại tung thêm tiền quan kim và quốc tệ đang mất
giá khiến tình hình tài chính càng thêm rối loạn. Bức tranh kinh tế - tài
chính ảm đạm.
- Về văn hóa – xã hội : Hậu quả chính sách văn hóa ngu dân để lại là 95%
dân số mù chữ, các tệ nạn xã hội tràn lan. Có thể nói, chưa bao giờ trong
lịch sử dân tộc, Việt Nam lại cùng lúc phải cùng lúc đối phó với nhiều kẻ
thù đến như vậy. Vận mệnh dân tộc ở trong tình trạng ngàn cân treo sợi
thế lực phản động, Đảng đã tích cực thực hiện các biện pháp chống ngoại
xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng. Với dã tâm xâm lược
nước ta một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, chính phủ
Đờ Gôn quyết định thành lập một đạo quân viễn chinh tiến hành xâm lược
Việt Nam. Đêm ngày 22, rạng sáng ngày 23/9/1945, pháp nổ súng tấn
công Trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố, mở đầu
cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Đảng ta đã nêu chủ trương đánh
Pháp để bảo vệ Nam Bộ, tổ chức lực lượng cả nước chi viện cho Nam Bộ.
Ngày 25/11/1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về ‘‘kháng
chiến - kiến quốc’’, vạch ra con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn mới. Ở Miền Bắc, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các
biện pháp chống Đế quốc và bọn phản cách mạng. Trong mối quan hệ với
quân Tưởng và tay sai, chúng ta chủ trương tránh mọi xung đột. Với
Tưởng, ta nhận cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện
giao thông, đồng thời đấu tranh hòa bình với chúng. Đối với bọn Việt
quốc, Việt cách, chúng ta thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc với chúng,
nhường 70 ghế trong Quốc hội, trong đó có một ghế phó chủ tịch nước cho
chúng. Đổi lại, Hồ Chí Minh vẫn giữ chức Chủ tịch nước, lực lượng cách
mạng vẫn nắm ưu thế trong Chính phủ và Quốc hội. Với bọn phản cách
mạng, ta kiên quyết vạch trần và trừng trị theo pháp luật. Ngày
11/11/1945, Đảng cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán nhưng thực
chất là rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng.
Ngày 28/2/1946, Pháp và Tưởng ký kết Hiệp ước Hoa – Pháp, đặt nước ta
trước một tình hình mới. Lúc này, nếu chúng ta cầm súng chống Pháp có
nghĩa là cùng lúc chúng ta sẽ cùng phải đối phó với cả Pháp, cả Tưởng và
quân đồng minh. Đây là điều hoàn toàn không có lợi cho ta.
5
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền
Vì vậy, giải pháp tốt nhất là chúng ta phải nhượng bộ có điều kiện với
Pháp. Lúc này, Pháp cũng đang muốn đàm phán với Việt Nam để xúc tiến
triển khai kế hoạch đánh chiếm Hà Nội và khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Ngày
17 và 18/12/1946, tại Hà Nội, quân Pháp tàn sát thảm khốc đồng bào ta tại
6
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền
phố Hàng Bún, Yên Ninh, đòi kiểm soát an ninh trật tự ở thủ đô. Trắng
trợn hơn, chúng còn gửi tối hậu thư buộc ta phải giao quyền kiểm soát thủ
đô cho chúng, nếu không, chậm nhất là sáng 20/12/1946, quân Pháp sẽ
hành động. Lịch sử đã đặt dân tộc ta trước một sự lựa chọn mới. Thực tế
cho thấy khả năng hòa hoãn không còn. Hành động của thực dân Pháp đã
đặt Đảng và Chính phủ ta trước một tình thế không thể nhân nhượng thêm
được nữa, vì nhân nhượng sẽ dẫn đến họa mất nước, nhân dân sẽ trở lại
cuộc đời nô lệ.
Trong thời điểm lịch sử quyết đoán này,Hội nghị của Ban Thường vụ
Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc – Hà Đông ngày 19/12/1946 đã
quyết định hạ quyết tâm phát động kháng chiến toàn quốc. Mệnh lệnh
kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20h ngày 19/12/1946,tất cả các chiến
trường trong cả nước đồng loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20/12/1946, ‘‘Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến’’ của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi
trên đài tiếng nói Việt Nam. Lúc này, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc
đấu tranh chống Pháp với vai trò bảo vệ Tổ quốc, tính chất của cuộc chiến
tranh là cuộc chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân bảo vệ hòa
bình, chống lại kẻ thù xâm lược, nhân dân ta có thiên thời, địa lợi, nhân
hòa. Mặt khác, trải qua một quá trình lâu dài thực hiện hòa hoãn với Pháp,
giờ đây ta đã loại bỏ được các kẻ thù, chỉ còn lại kẻ thù duy nhất là Pháp,
các công tác đối nội cũng đã được giải quyết về cơ bản, các điều kiện cần
thiết chuẩn bị cho chiến tranh đã sẵn sàng, Đảng và nhân dân có đủ niềm
tin để chiến đấu và chiến thắng. Trong khi đó, lúc này Pháp vấp phải
không ít khó khăn về kinh tế, chính trị, quân sự ở trong nước và tại Đông
Dương, những khó khăn này không dễ gì chúng khắc phục được ngay
trong ngày một, ngày hai. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó,
- Về tính chất kháng chiến: Cuộc kháng chiến của dân tộc ta là một cuộc
chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính
chất toàn dân, toàn diện và lâu dài. Là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự
do, độc lập, dân chủ và hòa bình. Đó là cuộc kháng chiến có tính chất dân
tộc giải phóng và dân chủ mới. - Chính sách kháng chiến: Liên hiệp với
dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp. Đoàn kết với Miên, Lào và
các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Đoàn kết chặt chẽ toàn dân. Thực
hiện toàn dân kháng chiến Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt.
- Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: Đoàn kết toàn dân, thực hiện
quân, chính, dân nhất trí Động viên nhân lực, vật lực, tài lực, thực hiện
toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến.
Giành quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ, thống nhất Trung, Nam, Bắc.
Củng cố chế độ cộng hòa dân chủ Tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự
túc
- Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân
dân, thực hiên kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình
là chính. + Kháng chiến toàn dân: Xác định kháng chiến toàn dân, Đảng
dựa vào cơ sỏ lý luận và thực tiễn: * Cơ sở lý luận: Nguyên lý của chủ
8
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền
nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
nhân dân, do nhân dân tiến hành. Trong suốt quá trình phát triển của lịch
sử dân tộc, mỗi khi đất nước đứng trước những thử thách to lớn, để chiến
thắng được kẻ thù thì điều cơ bàn là phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc.
* Cơ sở thực tiễn: Tiếp tục kế thừa và phát triển truyền thống dựng nước
và giữ nước của ông cha ta. Đó là truyền thống cả nước chung lòng, toàn
dân đánh giặc. Truyền thống yêu nước này đã từ hàng ngàn năm lịch sử
với những Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang
Trung, những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Muốn tiến hành kháng
chiến toàn dân thì phải xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, phải xây
trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ’’. Lần lượt đánh bại các kế
hoạch, chiến lược chiến tranh của Pháp, tiêu diệt lực lượng địch trên đất
nước ta, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng, giành độc lập cho đất nước. Về
kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung
phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp
quốc phòng. Chúng ta đưa ra khẩu hiệu: ‘‘Xây dựng kinh tế ta, phá hoại
kinh tế địch’’, chống lại kế hoạch ‘‘lấy chiến tranh nuôi chiến tranh’’ của
Pháp. Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến. Xây dựng nền
văn hóa dân chủ mới theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng.
Thực hiện khẩu hiệu: ‘‘Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn
hóa’’. Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực.
‘‘Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp’’, sẵn sàng
đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập. Thoát khỏi thế bị bao
vây cô lập. Có thể nói, kháng chiến toàn diện chính là một biểu hiện của
kháng chiến toàn dân. Kháng chiến toàn diện giúp phát huy triệt để lợi thế
của mỗi giai cấp, mỗi cá nhân trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm
lược. + Kháng chiến trường kỳ: Chúng ta thực hiện kháng chiến trường kỳ
là để chống lại âm mưu của Pháp. Khi bắt đầu cuộc chiến tranh, tương
quan lực lượng có lợi cho Pháp, do đó Pháp muốn thực hiện chiến lược
đánh nhanh, thắng nhanh. Để có thời gian phát huy yếu tố ‘‘Thiên thời, địa
lợi, nhân hòa’’, ta phải thực hiện đánh lâu dài để vừa đánh vừa xây dựng
và phát triển lực lượng, làm tiêu hao lực lượng địch, chuyển hóa tương
quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh
thắng địch, ‘‘Biến lớn thành nhỏ, biến nguy thành an’’(Hồ Chí Minh).
Kháng chiến trường kỳ nhưng không có nghĩa là mãi mãi, trong suốt quá
trình tiến hành cuộc kháng chiến cần phải xác định thời cơ để tạo ra những
bước ngoặt thúc đẩy kháng chiến đến thắng lợi, hạn chế tối đa hao tốn sức
người, sức của của nhân dân. Trường kỳ nhưng phải tất thắng, phải có
niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. + Kháng chiến dựa vào sức mình là
chính: Chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến trong thế bị bao vây cô lập
hình thế giới và cách mạng Đông Dương có nhiều biến chuyển mới. Nước
ta được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao.
Cuộc kháng chiến của ba nước Đông Dương giành được những thắng lợi
quan trọng. Mỹ lợi dung lúc Pháp gặp khó khăn để can thiệp trực tiếp vào
cuộc chiến Đông Dương. Điều kiên lịch sử đặt Đảng ta trước yêu cầu bổ
sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng. Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ hai của Đảng họp tại xã Vinh Quang (Chiêm Hóa –
Tuyên Quang) thông qua ‘‘Báo cáo chính trị’’ do chủ tịch Hồ Chí Minh
trình bày và báo cáo ‘‘Bàn về cách mạng Việt Nam’’ do Trường Chinh
trình bày. Bản báo cáo của Tổng bí thư Trường Chinh sau này đi vào lịch
sử dân tộc với tên gọi: ‘‘Chính cương của Đảng lao động Việt Nam’’, xác
định những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, tiếp tục hoàn thiện
11
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền
đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta và đường lối này
tiếp tục được bổ sung, phát triển qua các hội nghị Trung ương tiếp theo,
như Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 3/1951), Hội nghị Trung
ương lần thứ hai (từ ngày 27/9 đến ngày 5/10/1951), Hội nghị Trung ương
lần thứ tư (tháng 1/1953), Hội nghị trung ương lần thứ năm (tháng
11/1953). Nhờ việc đề ra và thực hiện triệt để thực hiện đường lối kháng
chiến của Đảng chúng ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng
chiến chống thực dân pháp xâm lược, đỉnh cao là thắng lợi trong Đông –
Xuân 1953 – 1954 với chiến dịch Điện Biên Phủ. Bảo vệ thắng lợi của
cách mạng tháng Tám, làm thất bại âm mưu xâm lược của Pháp và can
thiệp Mỹ, buộc chúng công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của ba nước Đông Dương. Nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Đồng thời, nó cũng mang trong mình ý nghĩa quốc tế , cổ vũ mạnh mẽ
phong trào đấu tranh giải phóng thuộc địa và là tiếng chuông báo tử cho hệ
thống tử cho hệ thống thực dân cũ trên toàn Thế giới. C. KẾT LUẬN
Đường lối cách mạng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết