đặc điểm giao tiếp của ngưởi ngỉ hưu ở hà nội tóm tăt luận án - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
____________
BÙI THỊ VÂN ANH
ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP
CỦA NGƯỜI NGHỈ HƯU Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH
Mã số: 62 31 80 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2013
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: 1. GS. TS. Trần Hữu Luyến
2. TS. Nguyễn Thị Hoa
Phản biện 1: GS.TS Phạm Tất Dong
Phản biện 2: GS. TSKH. Nguyễn Kế Hào
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Hữu Thụ
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Học viện:
Học Viện Khoa học xã hội
Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Quốc Gia
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Giao tiếp (GT) có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tiến trình phát
triển của lịch sử xã hội, cũng như quá trình hình thành và phát triển của từng
nhân cách. Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu được của con người, cùng với
hoạt động, giao tiếp đã trở thành một phương thức tồn tại xã hội của con người.
1.2. Đối với người nghỉ hưu (NNH), sự thay đổi căn bản hoạt động, vị trí
và vai trò xã hội (XH) đã làm ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của họ nói
chung, giao tiếp nói riêng. Phạm vi, đối tượng, nội dung giao tiếp của NNH

các thành viên trong gia đình NNH, cách thức tổ chức hoạt động của các tổ chức
XH dành cho NNH ở cụm dân cư hiện nay, tính cách (hướng nội, hướng ngoại)
của NNH là những yếu tố chi phối mạnh mẽ đến ĐĐGT của NNH ở Hà Nội.
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện ĐĐGT của NNH ở Hà Nội.
5.2. Khách thể nghiên cứu: 305 NNH hiện đang sống ở Hà Nội. Trong
đó: Khảo sát thử 45 người; Khảo sát chính thức 305 người; Phỏng vấn sâu cá
nhân 15 người; Nghiên cứu chân dung tâm lý 2 người .
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung tìm hiểu những khía cạnh cơ bản trong GT của NNH
ở Hà Nội như: Đặc điểm nhu cầu GT, đặc điểm đối tượng GT, đặc điểm nội
dung GT, đặc điểm hình thức GT.
Chỉ lựa chọn một số yếu tố ảnh hưởng đến GT của NNH, đó là các yếu tố
cá nhân (tính cách, cảm nhận của NNH về vị thế, vai trò của họ trong GĐ và
XH khi nghỉ hưu), các yếu tố XH (mối quan hệ trong GĐ NNH; cách thức tổ
chức hoạt động của các tổ chức XH dành cho NNH ở cụm dân cư hiện nay).
Do NNH ít có hoạt động chung, nên chỉ đề xuất biện pháp và xem xét qua
nghiên cứu trường hợp, chứ không làm thực nghiệm về tính khả thi của biện
pháp đề xuất.
3
6.2.Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Luận án nghiên cứu 305 khách thể là công chức, viên chức, công nhân
nghỉ hưu ở Hà Nội. Đây là những người nghỉ hưu hoàn toàn khỏe mạnh cả về
thể chất và tinh thần.
6.3. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu NNH trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các đặc điểm địa lý,
kinh tế, XH các vùng miền như là một biến số độc lập ảnh hưởng đến đặc điểm
GT của NNH không được đặt ra trong nghiên cứu này.
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

NNH ở Hà Nội thông qua nhận thức, cải thiện mối quan hệ trong GĐ, nâng cao
hiệu quả hoạt động của tổ chức XH dành cho NNH ở cụm dân cư. Những kết
quả này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính
sách xã hội ở Việt Nam (đặc biệt là những chính sách về an sinh xã hội và
những chính sách về NNH) cũng như việc chăm sóc người nghỉ hưu ở nước ta
hiện nay.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỈ HƯU Ở HÀ NỘI
1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM GIAO
TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỈ HƯU
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu về GT: Trong một thời gian dài, GT chưa được
nghiên cứu dưới góc độ khoa học tâm lí. Chỉ đến thế kỉ XX, GT mới được các
nhà tâm lí học thật sự quan tâm. Hiện nay, có thể phân những công trình nghiên
cứu GT theo những hướng sau: Hướng nghiên cứu coi GT là quá trình truyền
thông tin; Hướng coi GT là một dạng, một loại hình của hoạt động; Hướng coi
GT là phạm trù tương đối độc lập với phạm trù hoạt động.
1.1.1.2. Nghiên cứu về GT của NNH: Có nhiều công trình nghiên cứu về
NNH và GT của NNH, nhưng nghiên cứu tổng thể về ĐĐGT của NNH chưa có
và nghiên cứu về giao tiếp của NNH trong các tổ chức được rất ít tác giả quan
5
tâm. Có thể kể ra một số hướng sau đây: Nghiên cứu về NCGT của NNH;
Nghiên cứu về đối tượng GT của NNH; Nghiên cứu về nội dung GT của NNH;
Nghiên cứu về hình thức GT của NNH.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
1.1.2.1.Nghiên cứu về GT: Trong nước, những nghiên cứu về GT được
bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 20. Có 2 hướng nghiên cứu chủ yếu:
Hướng nghiên cứu lý luận về GT và hướng nghiên cứu ứng dụng trong một số
lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp.
1.1.2.2. Nghiên cứu về GT của NNH: Ở nước ta chủ yếu là các nghiên

trò xã hội, quan hệ xã hội.
1.2.3.3. Các hoạt động chủ yếu của NNH: Do đã nghỉ công tác chính thức
nên NNH có một số hoạt động chính như: Hoạt động chăm sóc GĐ, con cháu,
tham gia các hoạt động XH, hoạt động học tập, hoạt động chăm sóc, rèn luyện
sức khoẻ, các hoạt động hướng về quê hương, dòng họ, các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo.
1.2.4. Đặc điểm giao tiếp của NNH
1.2.4.1. Giao tiếp của NNH: Giao tiếp của NNH là sự tiếp xúc tâm lý giữa
những người lao động đã đóng góp bảo hiểm XH, không còn tham gia công tác
chính thức, hiện đang hưởng chế độ hưu trí với người khác nhằm vận hành các
quan hệ xã hội, được các chủ thể thực hiện với đối tượng, nhu cầu, mục đích,
nội dung, hình thức, phương tiện, điều kiện xác định.
1.2.4.2. Đặc điểm GT của NNH: ĐĐGT của NNH là những nét riêng,
đặc trưng, nổi bật của sự tiếp xúc tâm lý giữa những người lao động đã đóng
góp bảo hiểm XH, không còn tham gia công tác chính thức, hiện đang hưởng
chế độ hưu trí với người khác nhằm vận hành các quan hệ xã hội, được các
chủ thể thực hiện với đối tượng, nhu cầu, mục đích, nội dung, hình thức,
phương tiện, điều kiện xác định.
1.2.4.3. Biểu hiện đặc điểm GT của NNH: Luận án coi GT có những cấu
thành, trong mỗi cấu thành đó có những nét riêng, đặc trưng, nổi bật và chỉ
7
những nét riêng, đặc trưng, nổi bật đó được coi là ĐĐGT. Luận án tìm hiểu
ĐĐGT của NNH thể hiện qua biểu hiện đặc điểm (những nét nổi bật, đặc trưng,
riêng biệt) của các cấu thành sau: Đặc điểm đối tượng (chủ thể) GT của NNH;
Đặc điểm nhu cầu GT của NNH; Đặc điểm nội dung GT của NNH; Đặc điểm
hình thức GT của NNH.Luận án lựa chọn bốn thành tố này để tìm hiểu về
ĐĐGT của NNH ở Hà Nội vì đây là bốn vấn đề cơ bản, quan trọng cấu thành
giao tiếp.
a) Đặc điểm đối tượng (chủ thể) giao tiếp của NNH được tìm hiểu qua mức
độ GT của NNH với ba nhóm đối tượng: Những người thân trong GĐ

- Đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội là những nét riêng, đặc trưng, nổi bật
của sự tiếp xúc tâm lý giữa những người lao động đã đóng góp bảo hiểm XH,
không còn tham gia công tác chính thức, hiện đang hưởng chế độ hưu trí ở Hà
Nội với người khác nhằm vận hành các quan hệ xã hội, được các chủ thể thực
hiện với đối tượng, nhu cầu, mục đích, nội dung, hình thức, phương tiện, điều
kiện xác định.
1.2.5.3. Biểu hiện đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội
NNH ở Hà Nội là một nhóm của NNH. Biểu hiện đặc điểm GT của NNH ở
Hà Nội cũng gồm những biểu hiện như biểu hiện đặc điểm GT của NNH đã
trình bày tại mục 1.2.4.3. Cho nên, đây cũng chính là khung lý luận để triển
khai nghiên cứu đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội
1.2.5.4. Tiêu chí và mức độ biểu hiện đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội
a) Tiêu chí đánh giá: Các nội dung/ khía cạnh trong GT của NNH ở Hà
Nội được coi là đặc điểm khi nó thỏa mãn tiêu chí về tính riêng biệt, đặc trưng,
nổi bật. Tính riêng biệt, đặc trưng, nổi bật được đánh giá theo 5 mức độ như
sau: Mức rất thấp, mức thấp, mức trung bình, mức khá, mức cao.
b) Mức độ và cách đánh giá: Dựa vào tiêu chí đánh giá trên đây, các biểu
hiện đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội được đánh giá theo 5 mức độ. Bên cạnh
đó, còn sử dụng điểm trung bình của thang đo trong bảng hỏi để đánh giá mức
9
độ biểu hiện đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội, đây là tiêu chí đánh giá định
lượng các mức độ biểu hiện đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội.
1.2.6. Các yếu tố tác động đến đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội
Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐĐGTcủa NNH là các yếu tố cá nhân (Tính
cách, cảm nhận của NNH về vai trò, vị thế của họ trong gia đình và xã hội) và
các yếu tố xã hội (mối quan hệ trong gia đình NNH, cách thức tổ chức hoạt
động của các tổ chức XH dành cho NNH ở cụm dân cư hiện nay).
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỈ HƯU Ở HÀ NỘI

của bảng hỏi để qua đó tiến hành chỉnh sửa các câu hỏi chưa đạt yêu cầu. Cách
thức tiến hành: sử dụng bảng hỏi cá nhân sơ bộ đã được thiết kế ở giai đoạn
trên cùng phương pháp thống kê toán học để tính toán độ tin cậy và giá trị của
thang đo. Kết quả phân tích cho thấy đa số các thang đo trong bảng hỏi có độ
tin cậy tương đối cao nên sự chỉnh sửa là không đáng kể. Trên thực tế, luận án
đã chỉnh sửa một số mệnh đề để thể hiện rõ hơn nội dung định hỏi. Đó là những
mệnh đề mà khi hỏi thử, người trả lời thấy khó hiểu, đề nghị giải thích thêm.
Sau khi chỉnh sửa, trong khảo sát chính thức, người trả lời không gặp những
khó khăn trong việc hiểu các câu hỏi này.
2.1.2.4. Giai đoạn điều tra chính thức: Nhằm tìm hiểu thực trạng đặc
điểm GT của NNH và các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm GT của NNH. Giai
đoạn này sử dụng phiếu điều tra đã được hoàn thiện, chỉnh sửa sau khi điều tra
thử và đề cương phỏng vấn sâu để khảo sát trên diện rộng (305 NNH).
2.1.2.5. Giai đoạn xử lý tài liệu và viết luận án: Nhằm hình thành và hệ
thống các bảng kết quả làm cơ sở cho việc phân tích số liệu, viết và hoàn thiện
luận án.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN
Nghiên cứu lý luận nhằm: Hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan
đến vấn đề giao tiếp; Tổng quan các nghiên cứu đi trước của các tác giả trong
11
nước và ngoài nước về vấn đề giao tiếp. Từ việc phân tích các quan điểm tiếp
cận khi nghiên cứu giao tiếp, xác lập quan điểm tiếp cận chủ đạo trong nghiên
cứu đặc điểm giao tiếp của NNH. Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử
dụng làm phương pháp chính cho giai đoạn này.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
Quá trình nghiên cứu thực tiễn đã sử dụng các phương pháp sau: PP điều
tra bằng bảng hỏi, PP chuyên gia, PP phỏng vấn sâu cá nhân, PP quan sát, PP
phân tích sản phẩm hoạt động, PP nghiên cứu trường hợp, PP xử lý số liệu bằng
thống kê toán học.
Các phương pháp: Phỏng vấn sâu cá nhân, quan sát, nghiên cứu sản phẩm

Biểu đồ 3.1: Nhu cầu giao tiếp của NNH ở Hà Nội
Kết quả nghiên cứu thể hiện tại biểu đồ 3.1 cho thấy, điểm trung bình
(ĐTB) của toàn thang đo về NCGT của NNH là 4,28/5. Đây là một mức điểm
cao, thể hiện nhu cầu giao tiếp của NNH ở Hà Nội trong nghiên cứu là cao.
Theo kết quả khảo sát, nhóm NC được tôn trọng, đóng góp ý kiến của NNH có
ĐTB cao nhất trong năm nhóm NC (4,44 điểm). Tiếp theo đó là nhóm NC tâm
linh (4,42 điểm), nhóm NC trao đổi thông tin, truyền đạt kiến thức kinh nghiệm
(4,34 điểm), nhóm NC tham gia hoạt động cộng đồng (4,18 điểm), cuối cùng là
13
nhóm NC chia sẻ, tâm sự (4,07 điểm). Điều đó cho thấy, tuy đã về hưu nhưng
NCGT của NNH với người khác vẫn là NC cấp thiết đối với họ.
Các biểu hiện cụ thể về NCGT của NNH ở Hà Nội như sau: Những biểu
hiện của NCGT của NNH có điểm trung bình cao nhất là mong muốn được
đóng góp cúng giỗ, chăm sóc, tu tạo phần mộ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những
người thân đã khuất (4,80 điểm), tiếp theo là NC được đóng góp ý kiến cho con
cháu (4,71 điểm), nhu cầu được giúp đỡ các con, chăm sóc các cháu (4,69
điểm) và NC được trò chuyện, chia sẻ với các con, cháu (4,68 điểm). NC được
tham gia các công việc của quê hương, dòng họ của NNH cũng có điểm trung
bình rất cao (4,65 điểm), NC chia sẻ với bạn bè kiến thức để bảo vệ và nâng
cao sức khoẻ (4,58 điểm), NC được nắm bắt tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
trong nước (4,52 điểm) và mong muốn được các con cháu tôn trọng hỏi ý kiến
(4,56 điểm).
Những biểu hiện NCGT của NNH có điểm trung bình thấp nhất trong
nhóm các NCGT là NC đi lễ chùa nhà thờ (3,91 điểm), NC tiếp xúc với người
trẻ tuổi để truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn (3,74 điểm), NC
tham gia câu lạc bộ thơ văn, nhạc hoạ (3,60 điểm). Các yếu tố chức vụ công tác
trước khi nghỉ hưu, giới tính, thời gian nghỉ hưu có ảnh hưởng đến nhu cầu GT
của NNH.
3.1.3. Thực trạng đặc điểm đối tượng giao tiếp của NNH ở Hà Nội
Kết quả nghiên cứu thể hiện tại biểu đồ 3.2 cho thấy, mức độ GT của NNH

nhất (ĐTB: 2,95).Điều này cho thấy, đối với NNH, các vấn đề thiết thực liên
quan trực tiếp đến bản thân và gia đình ở thời điểm hiện tại (sức khoẻ, gia đình,
họ hàng…) được họ quan tâm nhiều hơn các vấn đề khác và khi đã về hưu thì
việc tiếp tục sử dụng và trao đổi chuyên môn nghiệp vụ của họ không nhiều.
- Các yếu tố giới tính, trình độ chuyên môn, chức vụ trước khi nghỉ hưu có
ảnh hưởng đến nội dung GT của NNH.
3.1.5. Thực trạng đặc điểm hình thức giao tiếp của NNH ở Hà Nội
Kết quả thể hiện qua biểu đồ 3.4 cho thấy, trong cuộc sống hàng ngày hình
thức GT trực tiếp chủ yếu của NNH là trò chuyện với vợ/ chồng và các con
cháu (ĐTB: 4,37) và gặp gỡ bạn bè (ĐTB: 3,31).
Những hình thức GT gián tiếp thường xuyên của NNH là xem tivi (ĐTB:
4,36), GT qua ĐT (ĐTB: 4,29), nghe đài (ĐTB: 3,77), GT với thần linh, người
đã khuất thông qua việc thắp hương cầu nguyện tại GĐ (ĐTB: 4,11).
16
Biểu đồ 3.4: Hình thức giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội
Hàng ngày, NNH ở Hà Nội thỉnh thoảng đọc sách báo (ĐTB: 2,77) và
thỉnh thoảng sang nhà hàng xóm chơi (ĐTB: 2,73). Dường như ở Hà Nội, lối
sống khá khép kín đã hạn chế việc mọi người sang nhà nhau chơi.
Hình thức giao tiếp tâm linh với các thần linh thông qua việc đi lễ chùa
không được nhiều NNH chú trọng (ĐTB: 3,15).NNH ở Hà Nội trong diện được
khảo sát ít đi tham quan du lịch. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, đa số NNH
ở Hà Nội ít sử dụng internet.
- Các yếu tố giới tính, chức vụ công tác trước khi nghỉ hưu, trình độ học
vấn có ảnh hưởng đến hình thức GT của NNH
3.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI
NGHỈ HƯU Ở HÀ NỘI VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
3.2.1. Mối tương quan giữa đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội với các
yếu tố cá nhân
3.2.1.1. Cảm nhận NNH ở Hà Nội về vai trò, vị thế của họ trong gia
đình, xã hội

3.2.2.1. Mối quan hệ trong gia đình NNH ở Hà Nội
Xét về mối tương quan của yếu tố quan hệ trong GĐ NNH ở Hà Nội với
các biểu hiện của đặc điểm GT họ thấy rằng yếu tố này có tương quan thuận với
các khía cạnh biểu hiện đặc điểm GT của họ.Cụ thể, yếu tố này có tương quan
thuận mạnh nhất với nội dung GT (r = 0,655; p <0,01), sau đó với NCGT (r =
18
0,530; p <0,01), tương quan thuận, tương đối mạnh với hình thức GT (r =
0,397; p <0,01) và đối tượng GT (r = 0,363; p< 0,01; p <0,01). Như vậy, mối
quan hệ trong GĐ NNH có tương quan mạnh nhất với nội dung GT của NNH
và tương quan yếu nhất với đối tượng GT của NNH.
Kết quả này cho thấy, những NNH có mối quan hệ gia đình hoà thuận thì
nội dung những vấn đề trao đổi giữa NNH với người khác phong phú, đa dạng
hơn, nhu cầu giao tiếp của NNH cao hơn, đối tượng giao tiếp đựợc mở rộng
hơn, hình thức giao tiếp sẽ đa dạng hơn. Ngược lại, nếu các mối quan hệ trong
gia đình NNH không hoà thuận thì nhu cầu giao tiếp của NNH sẽ thấp hơn, đối
tượng giao tiếp hạn chế, nội dung và hình thức giao tiếp cũng hạn chế hơn.
3.2.2.2. Cách thức tổ chức hoạt động của các tổ chức xã hội dành cho
người nghỉ hưu ở cụm dân cư hiện nay
Xét về mối tương quan giữa yếu tố cách thức tổ chức hoạt động của các tổ
chức XH dành cho NNH ở cụm dân cư hiện nay với các biểu hiện của đặc điểm
GT của NNH ở Hà Nội thấy rằng, yếu tố này có tương quan thuận với đặc
điểm GT của họ. Cụ thể, yếu tố này có tương quan thuận mạnh với đối tượng
GT (r = 0.584; p < 0,01), tương quan ở mức trung bình với NCGT (r = 0,253 ; p
<0,05), hình thức GT (r = 0,204 ; p <0,01) và tương quan yếu với nội dung GT
(r = 0,147; p <0,01). Tất cả các tương quan này đều có ý nghĩa về mặt thống kê,
tuy nhiên mức độ tương quan với nhu cầu, nội dung, hình thức GT là không
mạnh. Kết quả này cho thấy, các tổ chức xã hội dành cho NNH ở khu dân cư
hiện tại chưa có ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu, nội dung, hình thức giao tiếp của
NNH. Có thể khi nghỉ hưu, các mối quan hệ của phần lớn NNH tập trung chủ
yếu vào gia đình, bạn bè ở khu dân cư (trong các nhóm không chính thức) hơn

Sự kết hợp của bốn yếu tố chủ quan và khách quan thành yếu tố tổng hợp
có tác động mạnh nhất đến hình thức GT của NNH ở Hà Nội với R
2
= 0,771,
p< 0,001 tổng hợp các yếu tố này dự báo 77,1 % sự biến thiên của hình thức
GT. Tiếp theo, với R
2
= 0,451, p< 0,001 tổng hợp các yếu tố này dự báo 45,1 %
sự biến thiên của đối tượng GT. Với R
2
= 0,756, p< 0,001 tổng hợp các yếu tố
này dự báo 75,6 % sự biến thiên của nội dung GT. Với R
2
= 0,336, p< 0,001
tổng hợp các yếu tố này dự báo 33,6 % sự biến thiên của nhu cầu GT. Điều này
có nghĩa là nếu có sự tác động đồng thời tất cả các yếu tố chủ quan và khách
quan như mối quan hệ giữa các thành viên trong GĐ, cảm nhận về vai trò, vị
thế của bản thân trong GĐ và XH, tính cách, cách thức tổ chức hoạt động của
các tổ chức XH dành cho NNH ở cụm dân cư hiện nay thì các biểu hiện của
đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội (nhu cầu GT, đối tượng GT, nội dung GT,
hình thức GT) sẽ theo hướng tích cực. Mặt khác, tổng hợp tất cả các yếu tố chủ
quan và khách quan có mức độ ảnh hưởng đến đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội
20
mạnh hơn so với trường hợp chỉ tác động từng yếu tố độc lập. Số liệu thu được
qua khảo sát thực trạng đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội nêu trên đã gợi mở,
định hướng cho chúng tôi nêu ra những biện pháp tâm lý tăng cường giao tiếp
cho NNH ở Hà Nội.
3.3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÂM LÝ TĂNG CƯỜNG GIAO TIẾP
CHO NGƯỜI NGHỈ HƯU Ở HÀ NỘI
3.3.1. Biện pháp tăng cường giao tiếp cho NNH qua nhận thức:

phú, đa dạng .
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.KẾT LUẬN
1.1. Giao tiếp của NNH ở Hà Nội là sự tiếp xúc tâm lý giữa những người
lao động đã đóng góp bảo hiểm XH, không còn tham gia công tác chính thức,
hiện đang hưởng chế độ hưu trí ở Hà Nội với người khác nhằm vận hành các
quan hệ xã hội, được các chủ thể thực hiện với đối tượng, nhu cầu, mục đích,
nội dung, hình thức, phương tiện, điều kiện xác định.
Đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội là những nét riêng, đặc trưng, nổi bật của
sự tiếp xúc tâm lý giữa những người lao động đã đóng góp bảo hiểm XH, không
còn tham gia công tác chính thức, hiện đang hưởng chế độ hưu trí ở Hà Nội với
người khác nhằm vận hành các quan hệ xã hội, được các chủ thể thực hiện với đối
tượng, nhu cầu, mục đích, nội dung, hình thức, phương tiện, điều kiện xác định.
Đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội được phân tích qua bốn khía cạnh biểu
hiện: Đặc điểm đối tượng (chủ thể) GT của NNH; Đặc điểm nhu cầu GT của
NNH; Đặc điểm nội dung GT của NNH; Đặc điểm hình thức GT của NNH.
Đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội được đánh giá theo tiêu chí tính riêng
biệt, đặc trưng, nổi bật trong GT của NNH (tính phổ biến) với năm mức độ:
Mức rất thấp, mức thấp, mức trung bình, mức khá và mức cao.
Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm GT của NNH ở Hà Nội gồm các yếu
tố tâm lý cá nhân (Tính cách (hướng nội, hướng ngoại), cảm nhận của NNH về
vai trò, vị thế của họ trong GĐ và XH), các yếu tố XH (Mối quan hệ trong GĐ
22
NNH, cách thức tổ chức hoạt động của các tổ chức XH dành cho NNH ở cụm
dân cư hiện nay)
1.2. Đặc điểm giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội:
- Về đặc điểm nhu cầu giao tiếp:NCGT của NNH ở Hà Nội ở mức cao,
trong đó nổi lên là NC tâm linh, NC trò chuyện, chia sẻ với người thân, NC
được tôn trọng, được đóng góp ý kiến và giúp đỡ con cháu, NC được chia sẻ
với bạn bè kiến thức để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, NC nắm bắt tình hình

Hà Nội cao hơn so với từng yếu tố riêng lẻ.
1.4. Các biện pháp tâm lý được đề xuất với mục đích nhằm góp phần làm
cho NNH ở Hà Nội có những nhận thức tích cực khi nghỉ hưu, tạo mối quan hệ
hoà thuận trong GĐ NNH, nâng cao nội dung, chất lượng hoạt động của các tổ
chức XH dành cho NNH để tăng cường giao tiếp cho NNH ở Hà Nội.
1.5. Các nhiệm vụ nghiên cứu đã được thực hiện và có kết quả khẳng định
giả thuyết nghiên cứu đã đề ra.
2. KIẾN NGHỊ
2.1. Đối với Nhà nước
Để nâng cao tính tích cực GT của NNH rất cần có sự quan tâm, đầu tư của
Nhà nước, Nhà nước cần có sự quan tâm hơn nữa đến hoạt động của các tổ
chức xã hội dành cho NNH như có một phần kinh phí cho hoạt động của các tổ
chức này; Hỗ trợ tâm lý cho những người sắp nghỉ hưu bằng cách tạo cơ hội
giúp NNH làm quen với các tổ chức quần chúng của người cao tuổi, với các
sinh hoạt văn hoá, thể dục, thể thao phù hợp với lứa tuổi, có một số chương
trình dành cho người sắp nghỉ hưu nhằm trang bị cho người chuẩn bị nghỉ hưu
những tri thức và kỹ năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống khi nghỉ
hưu, tạo cơ hội việc làm phù hợp cho NNH; Cần đặt ra vấn đề học tập suốt đời
đối với người nghỉ hưu để mỗi người nghỉ hưu đều có thể lựa chọn cho mình
một hình thức học theo nhu cầu riêng để chống lão hoá như: Học để biết, học để
làm, học để chung sống và học để hoàn thiện mình;Bên cạnh đời sống tinh thần,
NNH còn cần những điều kiện vật chất tối thiểu, để giải quyết điều này cần phải
có các chính sách xã hội thoả đáng đối với NNH để nâng cao đời sống vật chất
cho họ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status