TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
107
ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUẢNG TRỊ
THE COMMUNICATION’S CHARACTERISTICS OF QUANGTRI
TEACHER COLLEGE’S STUDENTS
LÊ QUANG SƠN
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
NGUYỄN THỊ DIỄM
Học viên CH, khoá 2005-2007, Đại học Huế
Chuyên ngành: Tâm lý học
TÓM TẮT
Bài viết tập trung nghiên cứu các đặc điểm cơ bản trong giao tiếp của sinh viên
trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị ở các mặt: cường độ nhu cầu, nội dung, kỹ
năng giao tiếp, và trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tác động hoàn thiện giao
tiếp của sinh viên sư phạm với tư cách công cụ và phương tiện cơ bản trong hoạt
động của nhà giáo dục tương lai.
ABSTRACT
The article is concentrated on the characteristics of the Quang Tri Teachers
College students’ communication in the fields of communication’s need, content
and skills, and based on this – to propose the ways to perfect student’s
communication as the main mean in the future teacher’s works.
1. Đặt vấn đề
Giao tiếp là mặt đặc trưng nhất trong hành vi của con người, nó không những là
điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách mà
còn đảm bảo cho con người đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực
hoạt động.
Bảng 1. Nhu cầu giao tiếp của sinh viên trường CĐSPQT
Mức độ
NCGT
Khối năm Khoa Giới tính
C
hun
g
(
N=180)
Năm I
(N= 79)
Năm II
(N= 54)
Năm III
(N= 47)
TN
(
N= 80)
XH
(
N= 26)
TH
(
N= 22)
N-H
(
N= 41)
MN
(
bình lớn hơn ở trường ĐHGTVT (75,56% so với 73%) và tỷ lệ sinh viên đạt mức thấp,
trung bình thấp của sinh viên ĐHGTVT cao hơn so với trường CĐSPQT (27% so với
24,44%). Điều này có thể giải thích là do tính chất đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp
mà sinh viên sư phạm và sinh viên ĐHGTVT hướng tới, một bên có đối tượng trực tiếp là
con người còn một bên đối tượng trực tiếp là sự vật (máy móc, cầu đường… ). Yêu cầu
của hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi sinh viên sư phạm phải tiếp xúc với nhiều đối tượng
khác nhau, có vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống, thói quen, tính cách, nghề nghiệp… khác
nhau. Chính các mối quan hệ này khiến sinh viên sư phạm - những người giáo viên tương
lai, phải tích cực, chủ động trong GT và có NCGT cao so với mọi người để tập dượt và
108
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
109
chuẩn bị cho việc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục học sinh, để hiểu đặc điểm
tâm lý đối tượng của mình mà lựa chọn phương pháp giảng dạy, giáo dục thích hợp nhằm
đem lại hiệu quả cao trong hoạt động sư phạm. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của nghề
nghiệp tương lai đối với NCGT của sinh viên trường CĐSPQT.
Nếu so sánh giữa các khoa đào tạo thì sinh viên theo học các ngành thuộc các
khoa khác nhau có NCGT ở các mức độ như nhau, thể hiện rõ khi sử dụng tiêu chí “Khi-
bình phương” để kiểm định ta có
2
χ
=20,01<
2
α
χ
= 26,30, có nghĩa là không có sự khác
biệt về mức độ nhu cầu giao tiếp của SV các khoa khác nhau. Sự chênh lệch không lớn về
tỷ lệ phần trăm ở cùng mức độ NCGT và số điểm trung bình chung đạt được của sinh viên
các khoa đào tạo khác nhau đã cho thấy sự khác nhau về lĩnh vực chuyên môn ảnh hưởng
nghiên cứu cho thấy NDGT của sinh viên rất đa dạng và phong phú: từ nội dung học tập,
phương pháp học tập đến việc phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; từ thời sự
chính trị đến sinh hoạt hằng ngày; từ tình bạn, tình yêu đến nhận xét về người khác; từ tệ
nạn xã hội đến thời trang, nghệ thuật, thể thao… Nội dung giao tiếp thể hiện cụ thể trong
bảng 2.
Trong 18 chủ đề giao tiếp thường xuyên của sinh viên có thể nêu lên nhóm chủ đề
giao tiếp thường xuyên nhất, bao gồm: a) nội dung học tập, có tỷ lệ sinh viên thường
xuyên giao tiếp là 91,11%, xếp bậc 1/18; b) phương pháp học tập, có tỷ lệ là 85,55%, xếp
bậc 2/18; c) sinh hoạt hằng ngày, có tỷ lệ là 81,66%, xếp bậc 3/18. Nhóm chủ đề giao tiếp
ít thường xuyên nhất, bao gồm: a) hôn nhân, có tỷ lệ sinh viên thường xuyên giao tiếp là
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
12,78%, xếp bậc 16/18; b) tình dục, có tỷ lệ là 7,22%, xếp bậc 17/18; c) vấn đề khác
(chuyện về gia đình, sức khoẻ, tình hình giáo dục hiện nay…), có tỷ lệ là 6,67%, xếp bậc
18/18.
Bảng 2. Nội dung giao tiếp của sinh viên trường CĐSPQT
TT
Mức độ
Nội
dung GT
Thường
xuyên
Đôi khi Chưa
bao giờ
Bậc
*SL % SL % SL %
1 Nội dung học tập 164 91,11 15 8,83 1 0,56 1
chung có khoảng 50,28% sinh viên có KNGT ở mức trung bình, 26,81% ở mức trung bình
thấp. Tỷ lệ sinh viên đạt mức độ cao rất ít, chiếm 0,97% trong tổng số sinh viên. Số sinh
viên có KNGT ở mức độ thấp chiếm tỷ lệ thấp (7,22%).
Để cụ thể hơn, ta có thể đi sâu xem xét điểm trung bình từng kỹ năng trong hệ
thống các KNGT đã đo được.
110
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
111
Bảng 3. Điểm trung bình từng KNGT của sinh viên trường CĐSPQT
STT Các kỹ năng
cụ thể
Điểm Mức độ Thứ bậc
1 Ae 12,14 Trung bình cao 2
2 Ah 8,02 Trung bình thấp 6
3 Ai 11,23 Trung bình cao 3
Nhóm A 31,39 Trung bình
1 Bc 13,87 Cao 1
2 Bj 8,82 Trung bình 5
Nhóm B 22,69 Trung bình cao
1 Ca 11,53 Trung bình cao 2
2 Cb 8,20 Trung bình 6
3 Cd 10,04 Trung bình 4
4 Cg 6,83 Trung bình 7
Nhóm C 36,60 Trung bình
1 Df 11,65 Trung bình cao 2
Nhóm D 11,65 Trung bình cao
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
đoán đúng nội tâm của đối tượng. Vì vậy, sinh viên chưa có khả năng rõ rệt trong việc
đảm bảo sự đồng cảm với đối tượng GT, chưa biết “chia ngọt sẻ bùi” với đối tượng một
cách chân thực. Để đạt kỹ năng này là điều rất khó, sinh viên phải rèn luyện nhiều trong
hoạt động GT của mình, phải tiếp xúc với đối tượng nhiều lần mới có thể nắm bắt được
đặc điểm trạng thái tâm lý, mới có thể đồng cảm với họ. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào
kinh nghiệm GT, vấn đề mà sinh viên sư phạm còn rất hạn chế, nên kỹ năng này của họ
chưa cao là điều dễ hiểu.
Nhóm kỹ năng C (những kỹ năng điều chỉnh sự phù hợp, cân bằng trong GT) của
sinh viên trường CĐSP Quảng Trị đạt mức trung bình (36,60 điểm). Trong đó, cao nhất là
kỹ năng Ca - kỹ năng tiếp xúc, thiết lập mối quan hệ với 11,53 điểm, thấp nhất là kỹ năng
linh hoạt, mềm dẻo trong GT (6,83 điểm ). Như vậy, mức chênh lệch điểm giữa các kỹ
năng trong nhóm C là không cao. Từ số liệu này chứng tỏ sinh viên trường CĐSP Quảng
Trị nhìn chung có hành vi ứng xử chưa phù hợp, khoa học, chính xác với nhu cầu, mong
muốn, nguyện vọng của đối tượng trong quá trình GT, chưa có khả năng cao trong việc tự
chủ cảm xúc, hành vi của bản thân… Đây là điều cần lưu ý trong quá trình rèn luyện
nghiệp vụ sư phạm của sinh viên. Bởi đây là những kỹ năng hết sức quan trọng và cần
thiết trong quá trình dạy học và giáo dục học sinh sau này.
Đối với nhóm kỹ năng D - bao gồm một kỹ năng là diễn đạt cụ thể, dễ hiểu - số
điểm đạt được của sinh viên là 11,65, có nghĩa là kỹ năng này sinh viên đạt mức trung
bình cao. Đó là điều hợp lý bởi diễn đạt cụ thể, dễ hiểu, mạch lạc là một trong những kỹ
năng hết sức cần thiết của nhà giáo tương lai. Kỹ năng này rất được chú trọng trong suốt
quá trình đào tạo nghề sư phạm và cần được tiếp tục rèn luyện để nâng cao hơn nữa mức
độ thành thạo của nó nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục sau này.
Từ kết quả phân tích trên, chúng ta có thể nêu lên nhận định: KNGT của sinh viên
trường CĐSP Quảng Trị chưa cao, chỉ đạt mức trung bình. Trong đó cao nhất là kỹ năng
nghe đối tượng GT và thấp nhất là kỹ năng thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong GT. Mức
chênh lệch về điểm số giữa các kỹ năng không lớn.
Trên cơ sở các phát hiện đã trình bày ở trên chúng tôi đã xây dựng một hệ thống
biện pháp tác động nhằm nâng cao năng lực giao tiếp của SV trường CĐSP Quảng Trị.
các lớp, các khoa, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các liên hoan âm nhạc - thể dục -
nghiệp vụ sư phạm liên trường một cách chu đáo, tích cực và có hiệu quả. Cần tạo điều
kiện cho sinh viên tăng cường thực tế, dự giờ, tiếp xúc với học sinh và giáo viên phổ
thông để họ tập trung quan sát, trải nghiệm, làm quen dần với hoạt động giao tiếp ở nhà
trường phổ thông, để các em được tiếp xúc với những đối tượng giao tiếp thường xuyên
và chủ yếu trong hoạt động nghề nghiệp sau này. Giúp sinh viên tăng cường rèn luyện
những kỹ năng giao tiếp trong thực tiễn.
Nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên cần phối hợp để tổ chức các hoạt
động giao tiếp, tạo điều kiện mở rộng phạm vi giao tiếp, tăng cường độ giao tiếp, cho sinh
viên giao tiếp với đám đông… bằng cách tằng cường tổ chức các câu lạc bộ Văn học, câu
lạc bộ Tiếng Anh, câu lạc bộ bạn yêu nhạc, dạ hội, các hội diễn văn nghệ, đêm thơ, đêm
nhạc, hội thi thể dục thể thao…; tổ chức cho sinh viên giao lưu với các cơ quan, đoàn thể,
các trường cùng đóng trên địa bàn; thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề,
các buổi đối thoại trực tiếp giữa sinh viên với lãnh đạo Nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội
sinh viên, với các giảng viên. Khi tổ chức các hoạt động giao tiếp và rèn luyện năng lực
giao tiếp cho sinh viên phải chú ý đến những sắc thái riêng về đặc điểm giao tiếp của giới
tính, khoá học và chuyên ngành đào tạo.
3. Kết luận
Những kết quả của nghiên cứu cho phép đi đến kết luận rằng giao tiếp là một mặt
không thể thiếu được trong quá trình học tập và rèn luyện ở nhà trường sư phạm của sinh
viên. Giao tiếp của sinh viên sư phạm có những đặc thù riêng, thể hiện cụ thể là nhu cầu
giao tiếp khá cao và chịu ảnh hưởng của thời gian theo học tại trường sư phạm, kỹ năng
giao tiếp chỉ đạt mức trung bình, nội dung giao tiếp mang đặc trưng của lứa tuổi thanh
niên, của hoạt động chủ đạo ở sinh viên là học tập và rèn luyện, liên quan mật thiết và gần
gũi với yêu cầu đào tạo của sinh viên sư phạm. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nếu
được quan tâm và có những biện pháp thích hợp thì hoàn toàn có thể nâng cao và hoàn
thiện giao tiếp cho sinh viên, tạo dựng cho sinh viên sư phạm một công cụ hữu hiệu để
thực hiện tốt các nhiệm vụ của nhà giáo dục. Dựa trên những kết quả này, các nhà giáo dục
có thể lựa chọn những cách thức tác động phù hợp đến sinh viên nhằm phát triển nhu cầu
giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, mở rộng các nội dung giao tiếp để giao tiếp của các sinh viên