BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Chiến
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Chiến
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số:
60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI NGỌC OÁNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Người hướng dẫn khoa học PGS. TS Bùi Ngọc Oánh đã tận tình hướng
dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
2.2.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến HVGTCVH của SV ........................ 64
2.3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục HVGTCVH cho SV trường CĐSP
Cà Mau ......................................................................................................... 69
2.3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp giáo dục HVGTCVH cho SV trường
CĐSP Cà Mau ............................................................................... 69
2.3.2. Đề xuất một số biện pháp giáo dục HVGTCVH cho SV trường
CĐSP Cà Mau ............................................................................... 71
2.3.3. Khảo sát về tính khả thi của các biện pháp giáo dục HVGTCVH
cho SV trường CĐSP Cà Mau ...................................................... 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 81
1. Kết luận ................................................................................................... 81
2. Kiến nghị ................................................................................................. 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 87
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
• CĐSP
:
Cao đẳng Sư phạm
• ĐLC
:
Bảng 2.2.
Biểu hiện của SV về việc thực hiện các nội qui, qui định của nhà
trường .......................................................................................... 42
Bảng 2.3.
Đánh giá của SVSP về biểu hiện hành vi khi đến trường .......... 44
Bảng 2.4.
Những giá trị văn hóa trong giao tiếp với thầy cô được SV coi
trọng ............................................................................................ 47
Bảng 2.5.
Hành vi giao tiếp của SV đối với thầy cô giáo ........................... 48
Bảng 2.6.
Hành vi học tập của SV khi thầy cô giảng bài............................ 50
Bảng 2.7.
Nhận xét của SV về mức độ biểu hiện các hành vi của các bạn
trong lớp học ............................................................................... 51
Bảng 2.8.
Trong đời sống xã hội, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ
bản và không thể thiếu được được đối với đời sống con người. Các Mác
khẳng định: “bản chất con người là tổng hòa tất cả các mối quan hệ xã hội”.
Chính thông qua giao tiếp, giúp con người thiết lập các mối quan hệ xã hội,
đồng thời giúp con người có thể chia sẽ, bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng
với nhau và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Như vậy, những ý nghĩ, tâm tư
tình cảm của con người thường được bộc lộ thông qua hành vi giao tiếp.
Trong giao tiếp với nhau, con người thường mong muốn mình được
người khác tôn trọng, những cách ứng xử tế nhị, lễ phép, lịch thiệp sẽ làm cho
con người dễ chịu. Những hành vi ứng xử có văn hóa sẽ góp phần nâng cao
phẩm giá con người, tăng thêm giá trị và ý nghĩa cuộc sống trong các mối
quan hệ. Ngược lại, những hành vi ứng xử thiếu tế nhị, thô lỗ, cục cằn dễ gây
ra ấn tượng xấu, cảm giác khó chịu làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã
hội. Vì vậy, để mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người trở nên
gần gủi, thân mật, con người cảm nhận được tình người ấm áp hơn thì con
người cần có HVGTCVH.
Trong thời gian gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đề
cập rất nhiều đến hành vi ứng xử của SV. Vấn đề giao tiếp của SV có những
biểu hiện xuống cấp, một bộ phận bạn trẻ có cách ứng xử đi ngược lại với các
giá trị văn hóa của dân tộc, không đúng với cách ứng xử, không phù hợp với
bổn phận của người SV.
Đối với SVSP, việc học tập và rèn luyện trên giảng đường là rất quan
trọng. Đây là thời gian rất tốt giúp họ trau dồi nhân cách của mình để khi ra
trường bước vào nghề giáo ngoài việc vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ
sư phạm, SV còn phải có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt, trong đó có năng lực
2
giao tiếp, đặc biệt là HVGTCVH. Tuy nhiên trong thực tế, một bộ phận SV đã
3.2. Khảo sát thực trạng về HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau.
3.3. Đề xuất các biện pháp nhằm giáo dục HVGTCVH cho SV.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính là những SV thuộc hệ đào tạo Cao đẳng tại
trường CĐSP Cà Mau.
Khách thể nghiên cứu bổ trợ là các giáo viên chủ nhiệm lớp, các cán bộ
quản lý đang trực tiếp giảng dạy và quản lý sinh viên ở trường CĐSP Cà
Mau.
5. Giả thuyết khoa học
Trong giao tiếp, đa số SV trường CĐSP Cà Mau có hành vi giao tiếp có
văn hóa. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận SV có biểu hiện hành vi giao tiếp
chưa đúng mực. Nếu nghiên cứu được thực trạng và tìm ra nguyên nhân về
HVGTCVH của SV thì có thể đưa những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục HVGTCVH cho SV trường CĐSP Cà Mau.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Về mặt nội dung
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biểu hiện HVGTCVH của SV
trường CĐSP Cà Mau trong việc thực hiện các nội quy, quy định của nhà
trường, trong các mối quan hệ với thầy cô giáo, với cán bộ quản lý, với bạn bè
và trong lối sống của SV.
- Trong phạm vi đề tài này, khách thể nghiên cứu chính là những SV học
hệ cao đẳng ở trường CĐSP Cà Mau.
6.2. Về mặt khách thể
- 300 SV hệ Cao đẳng Sư phạm trường CĐSP Cà Mau
4
5
7.2.2. Phương pháp quan sát
7.2.2.1. Mục đích
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông tin về biểu hiện
HVGTCVH của SV. Từ đó, giúp cho nhà nghiên cứu nhận định rõ hơn về
thực trạng HVGTCVH của SV.
7.2.2.2. Cách tiến hành
Quan sát những biểu hiện về hành vi giao tiếp của SV trong giờ sinh hoạt
15 phút đầu giờ, trong giờ học, trong các hoạt động vui chơi, văn nghệ, thể
dục thể thao.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
7.2.3.1.Mục đích
Nhằm thu thập một số ý kiến cụ thể của một số SV về nhận thức và đánh
giá những biểu hiện về HVGTCVH của SV.
7.2.3.2.Cách tiến hành
Tranh thủ giờ ra chơi và trong một số hoạt động của SV sẽ tiến hành
phỏng vấn một số sinh viên về thực trạng HVGTCVH của SV.
7.2.4. Phương pháp toán thống kê
Nhằm xử lý, đánh giá, phân tích kết quả nghiên cứu
8. Cấu trúc luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm có các phần sau:
- Mở đầu
- Nội dung nghiên cứu
Gồm có hai chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của HVGTCVH
+ Chương 2: Thực trạng HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
hành vi cho học sinh nói chung và giáo dục HVGTCVH cho học sinh nói
riêng đã được xác định là một trong những nhiệm vụ sư phạm thực hành của
nhà trường Xô Viết. Trong những năm của thập kỷ 70 trở lại đây, đi sâu
nghiên cứu và công bố các tài liệu lí luận về vấn đề này đã có các tác giả:
U.C.Marienco, B.M.Kôrôtôp, I.A.Đôrôkhôp… Trong các tác phẩm của mình,
các tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải giáo dục hành vi văn hóa cho học
sinh, nhất là học sinh nhỏ [31, tr.3].
Trong các công trình nghiên cứu của mình, nhiều nhà tâm lý học và giáo
dục học nổi tiếng của Liên Xô như L.S.Vưgốtxki, X.L.Rôbinstein,
A.N.Lêônchiev, A.X.Makarenco… đã chỉ ra lý luận khoa học của hành vi và
giáo dục hành vi đạo đức nói chung, HVGTCVH cho học sinh nói riêng trong
các nhà trường. Đó là cơ sở để hình thành phẩm chất đạo đức, nhân cách của
người công dân.
8
L.S.Vưgốtxki (1896 -1934, Nga) với lý thuyết lich sử - văn hóa trong
tâm lý học được trình bày trong tác phẩm “ Các công trình nghiên cứu lịch sử
hành vi” (1930). Ngày nay gọi là lý thuyết tâm lý học lịch sử - văn hóa trong
tâm lý học lịch sử. Trong tác phẩm này, ông nhấn mạnh cơ chế tâm lý của
hành vi văn hóa: Hành vi văn hóa là hành vi bao giờ cũng có sự tham gia của
một thuộc tính hay quá trình tâm lý trong bán cầu đại não. Thuộc tính hay quá
trình tâm lý tham gia vào hành vi văn hóa giữ một vai trò như “công cụ”
tương tự như công cụ lao động trong hoạt động lao động tác động vào đối
tượng lao động thông qua “biểu tượng trong ý niệm”. Vưgốtxki và Luria viết:
Kỷ xảo sáng chế và sử dụng công cụ lao động là tiền đề của toàn bộ phát triển
văn hóa của loài người; kỷ xảo ấy, quá trình sử dụng đó tạo nên các dấu hiệu
– công cụ tâm lý ở trong đầu làm cho hành vi, hành động của con người mang
tính gián tiếp. Hành vi văn hóa, ứng xử văn hóa là hành vi ứng xử bao giờ
Trong những năm gần đây, vấn đề văn hóa giao tiếp nói chung và
HVGTCVH nói riêng của học sinh, sinh viên đã được quan tâm nghiên cứu.
Công trình nghiên cứu “Văn hóa giao tiếp” của tác giả Phạm Vũ Dũng đã
đề cập đến những nội dung: sự nâng cấp từ giao tiếp qua giao tiếp có văn hóa
đến hình thành văn hóa giao tiếp của con người, diện mạo chung của văn hóa
giao tiếp trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống, xã hội; vai trò của văn
hóa giao tiếp trong xây dựng nếp sống và lối sống mới; hệ chuẩn định của
một văn hóa giao tiếp xã hội …Thông qua nội dung của từng chương, tác giả
đã đề cập đến vấn đề: có một văn hóa giao tiếp, một hệ giá trị tinh tuyển từ
vô vàn những ngôn ngữ, cử chỉ hành vi trong xã hội loài người và có tác dụng
định hướng, điều chỉnh đời sống giao tiếp, ứng xử của cá nhân, gia đình, nhà
trường và toàn bộ xã hội. Những giá trị tinh tuyển ấy được lặp đi, lặp lại hàng
ngày, được truyền lan từ nơi này đến nơi khác có tác dụng như là hệ định
chuẩn để xem xét, đánh giá tính có văn hóa của cá nhân, nhóm và toàn bộ xã
hội trong quan hệ giao tiếp qua lại [4].
10
Cuốn sách “Văn hóa giao tiếp trong học đường đại học” của Vũ Gia Hiền
và Nguyễn Hữu Khương , nội dung của cuốn sách này đã bàn về hành vi giao
tiếp giữa thầy với trò, trò với thầy, với bàn bè, với xã hội, với chính mình…
trên nền tảng văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, và những
kinh nghiệm tự học tạo nên một thói quen mới có văn hóa trong ứng xử và
hoàn thiện nhân cách người tri thức [11].
Trong cuốn “Văn hóa giao tiếp trong nhà trường” của Nguyễn Thị Kim
Ngân, tác giả đã tập hợp sử dụng những bài viết, báo cáo tham luận của của
các nhà giáo, nhà nghiên cứu giáo dục, những người tâm huyết vấn đề giáo
dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường. Nội dung những bài viết trong cuốn
sách này đã đề cập thực trạng văn hóa giao tiếp trong môi trường học hiện nay
quen HVGTCVH của SV trường CĐSP Hà Giang, các tác giả đã tập trung
nghiên cứu về thói quen HVGTCVH của SV trong nhà trường vào hai mối
quan hệ chính là giao tiếp với giảng viên và giao tiếp với bạn bè. [22]
Các bài viết, tham luận của một số tác giả cũng đã đề cập đến
HVGTCVH như: “Giáo dục HVGTCVH cho thiếu nhi thủ đô thông qua ba tổ
chức hoạt động cơ bản của Đội” của tác giả Giáp Bình Nga – Nguyễn Thứ
Mười; bài “Giáo dục HVGTCVH cho học sinh trong nhà trường phổ thông”
của tác giả Hồ Thị Nhật.v.v…
Như vây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về HVGTCVH ở giáo dục phổ
thông. Tuy nhiên, nghiên cứu về thực trạng HVGTCVH cho SV còn ít. Vì
vậy, chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu để tìm hiểu thực trạng về
HVGTCVH của SVSP, từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao giáo
dục HVGTCVH cho SV.
12
1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến HVGTCVH
1.2.1.Giao tiếp
1.2.1.1. Một số quan niệm về giao tiếp
Giao tiếp là vấn đề phức tạp. Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn
về vấn đề giao tiếp, có thể điểm qua một số quan điểm về giao tiếp như sau:
a. Theo quan điểm của các nhà tâm lý học xã hội
- Nhà tâm lý học xã hội Mỹ C.E.Osgood cho rằng giao tiếp bao gồm các
hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông
tin. Ông cho rằng giao tiếp là một quá trình gồm hai mặt: liên lạc và ảnh
hưởng lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau. [26]
- Nhà tâm lý học xã hội người Anh M.Argule lại mô tả giao tiếp như quá
trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau. Giao tiếp
thông tin được biểu hiện bằng lời hay bằng phi ngôn ngữ từ nhiều người đến
đích và động cơ, bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong
hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm
lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ”. [9]
c. Quan niệm giao tiếp của các tác giả Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm
1970 đến những năm 1980 và cũng có những khái niệm giao tiếp được xác lập.
- Tác giả Phạm Minh Hạc đã định nghĩa: “ Giao tiếp là hoạt động xác lập
và vận hành các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau”. [1, tr.166]
- Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy thì “giao tiếp là hoạt
động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa con người với con
người hoặc giữa con người với các yếu tố khác, nhằm thõa mãn những nhu
cầu nhất định”. [14]
- Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa
người và người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ. Ngày nay, từ này hàm
14
ngụ sự trao đổi ấy thông qua một bộ giải mã, người phát tin mã hóa một số tín
hiệu, người tiếp nhận giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên
kia hiểu được”. [26]
- Tác giả Nguyễn Ngọc Bích: “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều
người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm,
hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau”. [26]
- Tác giả Trần Trọng Thủy thì quan niệm: “Giao tiếp của con người là
một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức
trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng
ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”. [26]
- Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “Giao tiếp là tiếp xúc tâm lý có tính đa
chiều và đồng chủ thể giữa người với người được quy định bởi các yếu tố văn
lại với nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ
người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể
khác”. [33]
1.2.1.2. Chức năng của giao tiếp
* Theo nhà tâm lý học B.Ph.Lômôv, giao tiếp có ba chức năng: [26]
- Chức năng giao tiếp - thông tin: thể hiện trong toàn bộ quá trình truyền
và thu nhận thông tin của các chủ thể giao tiếp`
- Chức năng giao tiếp - điều chỉnh: Trong quá trình giao tiếp, chủ thể
không những tự chủ cảm xúc, thái độ, hành vi mà còn điều chỉnh người khác
cho phù hợp với mục đích giao tiếp.
- Chức năng giao tiếp - cảm xúc: Trong giao tiếp con người không chỉ
truyền và nhận thông tin, cũng không chỉ tác động lẫn nhau mà còn quy định
các trạng thái cảm xúc của chủ thể.
* Các nhà tâm lý học Việt Nam cũng nghiên cứu những chức năng khác
nhau của giao tiếp. Những nghiên cứu này cũng đem đến cái nhìn mới lạ về
vấn đề giao tiếp.
16
- Tác giả Nguyễn Xuân Thức phân chia chức năng của giao tiếp thành
hai nhóm: [26]
+ Nhóm các chức năng thuần túy xã hội, bao gồm các chức năng giao
tiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay một nhóm người để điều khiển
và tác động lẫn nhau.
+ Nhóm các chức năng tâm lý xã hội, gồm các chức năng giao tiếp phục
vụ nhu cầu của từng thành viên trong xã hội với người khác.
- Theo tác giả Hoàng Anh, giao tiếp có các chức năng cơ bản sau: [1]
+ Chức năng thông tin hai chiều giữa hai người hay hai nhóm người.
+ Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm
hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ
thuật để đạt mục đích đã định trong giao tiếp. [6, tr.61]
Nhóm tác giả Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc cho rằng: kỹ năng
giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và
những biểu hiện tâm lý bên trong của đối tượng và bản thân của chủ thể giao
tiếp; là khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ,
biết cách tổ chức điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích
giao tiếp. [1]
Trong khi thể hiện kỹ năng giao tiếp, hệ thống những thao tác, cử chỉ,
điệu bộ, hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) được chủ thể giao tiếp phối hợp hài
hòa, hợp lý nhằm đảm bảo đạt kết quả cao trong hoạt động giao tiếp, với sự
tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp ít nhất, trong những điều kiện thay
đổi. Do vậy, kỹ năng giao tiếp thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa những
chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ mắt, ánh mắt,
nụ cười (vận động môi miệng), tư thế đầu, cổ, vai, tay, chân, đồng thời với
ngôn ngữ nói, viết của chủ thể giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa, hợp lý giữa các
vận động mang nội dung tâm lý nhất định, phù hợp với mục đích, ngôn ngữ
và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được của chủ thể giao tiếp.