MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo các nhà thống kê, sự phát triển của xã hội loài người vào nửa cuối
thế kỉ 20 đã bằng tổng sự phát triển của xã hội loài người trước đó. Sự nghiên
cứu đó cho thấy tri thức đã là một trong những động lực quan trọng mang tính
quyết đònh sự tồn tại và phát triển xã hội. Xã hội hiện tại đã dần dần hình thành
bộ mặt đặc trưng của nó : xã hội "dựa vào tri thức" [19], [24], [27], [28]. Điều
đó làm cho việc nghiên cứu khoa học, tập dượt nghiên cứu khoa học cho sinh
viên trong hoạt động đào tạo của các trường đại học và cao đẳng ngày càng trở
nên bức thiết.
Nghò quyết Trung ương hai, khóa 8 có nêu : “. . . tiếp tục sắp xếp lại
mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu để gắn đào tạo
với nghiên cứu khoa học . . . coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học,
nhằm giải đáp những vấn đề về lí luận và thực tiễn giáo dục” (tr.46). Về mặt lí
thuyết, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nghiên cứu khoa học, phương
pháp luận nghiên cứu khoa học, phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và
phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng . . . [1], [4], [5], [8], [10],
[11], [12], [14], [15], [20], [21], [22], [33] . . . Những công trình nghiên cứu này
đã được trình bày một cách logic, đầy đủ, có thể giúp người đọc am hiểu và vận
dụng nghiên cứu khoa học vào thực tiễn. Với các công trình nghiên cứu có được,
các tác giả nước ta đã vạch ra được mục đích, yêu cầu, nội dung của việc
nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng.
Trong các nhà trường đại học và cao đẳng, nghiên cứu khoa học của sinh viên
đã trở thành một nội dung dạy học được quan tâm. Tuy nhiên, trong ứng dụng
và nghiên cứu khoa học vào thực tiễn thì những đúc kết, những công trình
1
nghiên cứu về vấn đề này không nhiều. Chúng ta có thể kể ra như : “Hoạt động
nghiên cứu khoa học sinh viên trong giai đoạn 1990 – 1995 và việc đổi mới
công tác nghiên cứu khoa học sinh viên để góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo” (Đại học Kinh tế quốc dân); “Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một
cần thiết vào thực tiễn nhà trường tiểu học.
Từ những bức thiết đó về lí luận cũng như thực tiễn và cũng nhằm khai
thác tiềm năng lao động sư phạm này của sinh viên đã thúc đẩy chúng tôi thực
hiện đề tài : “BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯNG BÀI TẬP NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC CỦA SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SƯ
PHẠM TIỂU HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG” qua đó góp phần cải
biến hiện trạng nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên và góp phần nâng
cao hiệu quả đào tạo. Đây cũng là công trình được nghiên cứu đầu tiên ở
Trường Đại học An Giang.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu, phân tích thực trạng và đề xuất biện pháp về tổ chức quản lí
của nhà trường và biện pháp thực hiện qui trình nghiên cứu khoa học giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng BT.NCKHGD của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm
đào tạo giáo viên tiểu học của Trường Đại học An Giang.
3. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU :
3
Quá trình dạy học học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
cho sinh viên hệ cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học của Trường Đại
học An Giang .
4. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU :
Bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm
đào tạo giáo viên tiểu học với tư cách là hình thức thực hành của học phần
Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC :
Thực hiện biện pháp về tổ chức quản lí của nhà trường và biện pháp thực
hiện qui trình làm BT.NCKHGD là biện pháp quan trọng để nâng cao chất
phép biện chứng trong nhìn nhận thế giới. Phép biện chứng duy vật là sự kết
tinh của các thành tựu khoa học và các tư tưởng triết học nhân loại. Phép duy
vật là sự khẳng đònh vật chất là cái có trước quyết đònh ý thức, ý thức là sự phản
ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người. Phép biện chứng trình bày một
cách hệ thống tính biện chứng của thế giới bằng các phạm trù và những qui luật
chung của thế giới tự nhiên và rút ra những quan điểm, những qui tắc chỉ đạo
hoạt động của con người.
Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lí, những phạm cặp phạm
trù và những qui luật cơ bản, chúng vừa là cơ sở lí luận vừa là phương pháp
nhận thức thế giới [20, 66].
Với đề tài ”Biện pháp nâng cao chất lượng bài tập nghiên cứu khoa học
giáo dục của sinh viên hệ đào tạo cao đẳng sư phạm tiểu học trường Đại học An
5
Giang” chúng tôi sử dụng phép biện chứng duy vật nhằm xem xét, nhận thức
vấn đề trong mối quan hệ biện chứng, phát triển, toàn diện lòch sử, cụ thể. Trên
cơ sở đó mà tiến hành nghiên cứu việc làm BT.NCKHGD của sinh viên trong
mối quan hệ với việc đào tạo nghiên cứu khoa học nói riêng và đào tạo các mặt
nói chung. Chúng tôi cũng xem xét vấn đề nghiên cứu trên phương diện đào tạo
nhận thức lí luận và hiệu quả đạt được trong thực hành, hoạt động thực tiễn
trong thời gian thực tập sư phạm. Từ đó có hướng đánh giá, đề xuất hợp lí, có
giá trò về mặt khoa học và thực tiễn.
8.1.2. Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc.
Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc là một luận điểm quan trọng của
phương pháp luận, nó yêu cầu phải xem xét các đối tượng một cách toàn diện
nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong
những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và qui luật vận động
của đối tượng.
Quan điểm này chỉ dẫn quá trình nghiên cứu các đối tượng phức tạp bằng
- Nghiên cứu và hệ thống các tài liệu lí luận có liên quan đến đề tài.
8.3. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
8.3.1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục :
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu BT.NCKHGD của sinh viên các năm
1999, 2000, 2001, 2002; các báo cáo về công tác nghiên cứu khoa học giáo dục
các năm 1999, 2000, 2001, 2002 của Trường Đại học An Giang; các báo cáo
7
Tổng kết thực tập sư phạm nhằm tìm hiểu thực trạng tổ chức thực hiện
BT.NCKHGD của sinh viên.
8.3.2. Phương pháp quan sát :
Sử dụng phương pháp quan sát tự nhiên để quan sát hoạt động học tập
trên lớp của sinh viên khi học học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo
dục (dự giờ 05 lớp, mỗi lớp 04 tiết gồm 02 tiết lí thuyết và 02 tiết thực hành của
học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục) ; quan sát hoạt động thực
hiện BT.NCKHGD của sinh viên khi đi thực tập sư phạm.
8.3.3. Phương pháp điều tra :
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tiến hành điều tra khảo sát 180
sinh viên, 10 giảng viên và 57 giáo viên phổ thông (hướng dẫn 57 nhóm sinh
viên của 05 lớp trong thời gian thực tập sư phạm) nhằm đánh giá thực trạng về
nhận thức, thái độ và việc thực hiện BT.NCKHGD.
8.3.4. Phương pháp trò chuyện :
Chọn mẫu theo phương pháp xác xuất ngẫu nhiên đơn giản trong các đối
tượng tiếp xúc có được. Các đối tượng tiếp xúc bao gồm : sinh viên và giảng
viên tâm lí giáo dục Trường Đại học An Giang; giáo viên hướng dẫn phổ thông
và giáo viên hướng dẫn trưởng đoàn thực tập sư phạm; các cán bộ phụ trách thư
viện các trường thực tập sư phạm và cán bộ thư viện của Trường Đại học An
Giang; cán bộ phòng Đào tạo Trường Đại học An Giang nhằm góp phần tìm
hiểu và phân tích thực trạng, tham khảo đề xuất các biện pháp.
9
NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN – THỰC TIỄN.
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN :
1.1. Sơ lược lòch sử vấn đề nghiên cứu .
Trên lónh vực nghiên cúu khoa học và quản lí hoạt động nghiên cứu khoa
học nói chung, đã dược nhà nước quan tâm qua việc ban hành một số văn bản
pháp qui như sau :
- Luật (dự thảo 8/1995) khoa học và công nghệ : những qui đònh về hoạt
động khoa học công nghệ và quản lí hoạt động khoa học - công nghệ.
- Nghò đònh 35/HĐBT ngày 28/9/92 về công tác quản lí hoạt động khoa
học - công nghệ.
- Thông tư liên Bộ 195/TTLB ngày 13.11.92 hướng dẫn đăng kí hoạt
động của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển khoa học.
- Quyết đònh số 324/CT ngày 11/9/92 của Chủ tòch Hội đồng Bộ trưởng
về việc tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ.
- Quyết đònh số 419/TTg ngày 21.7.95 của Thủ tướng Chính phủ về cơ
chế quản lí các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
- Quyết đònh số 362/TTg ngày 30.5.96 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động khoa học - công nghệ
giai đoạn 5 năm 1996 – 2000.
10
- Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh : Những bài học kinh nghiệm
trong công tác quản lí khoa học công nghệ của phòng Quản lí khoa học.
- Đại học Mỏ – Đòa chất : Một số đặc điểm tình hình hoạt động khoa học
công nghệ 91 – 95 và kinh nghiệm trong việc quản lí đề tài khoa học các cấp
của trường.
- Trung tâm đào tạo Quốc tế về Khoa học vật liệu : Tổng kết hoạt động
khoa học công nghệ 5 năm 1991 –1995 và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lí khoa
học công nghệ.
- Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội : chú ý đến
nghiên cứu khoa học – công nghệ phục vụ sự nghiệp đào tạo với chất lượng cao.
- Đại học Bách khoa Hà Nội : Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển
giao công nghệ của trung tâm nghiên cứu vật liệu Polyme.
- Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội : Nhấn mạnh vai trò của khoa học
công nghệ nông nghiệp, thực trạng, giải pháp và những kiến nghò đối với hoạt
động khoa học công nghệ của trường.
- Đại học Nông lâm Huế : về công tác quản lí các đề tài nghiên cứu khoa
học phục vụ sản xuất.
- Đại học Tây Nguyên : đề cập đến việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu
khoa học để phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên.
- Viện Khoa học Giáo dục : Vai trò của việc quản lí công tác nghiên cứu
nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả nghiên cứu.
12
- Đại học Kó thuật thành phố Hồ Chí Minh : Những đánh giá và kinh
nghiệm về hoạt động khoa học công nghệ, công tác quản lí hoạt động này tại
trường. . .
Những báo cáo kinh nghiệm, những công trình nghiên cứu nói trên đã nói
lên sự quan tâm, nhận thức được về vò trí, vai trò của công tác nghiên cứu khoa
học trong góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Đặc biệt hai công trình nghiên
cứu của :
1.2.1. Khoa học.
Lòch sử phát triển khoa học từ xưa đến nay đã có nhiều quan niệm khác
nhau về khoa học :
- Aristote cho rằng : “Chỉ có cái tổng quát mới đáng gọi là khoa học”.
- Furie : “Khoa học phải hướng tới cái chân lí tổng quát hoặc hơn nữa là
cái tất yếu về cùng một đối tượng”.
- Cuvrie :”Khoa học là hệ thống những nhận thức và nghiên cứu có
phương pháp nhằm mục đích khám phá ra những qui luật tổng quát về các hiện
tượng” [17 , 40].
- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được
tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những
khái niệm, phán đoán, học thuyết” [17, 41].
- “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” (Pierre
14
Auger : Tendences actuelles de la recherche scientifique, UNESCO, Paris,
1961, tr 17-19) [5, 13].
- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về
những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri
thức này hình thành trong lòch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn
xã hội” [12, 12].
Từ những quan niệm trên về ‘khoa học’, chúng tôi hoàn toàn thống nhất
với quan niệm của các tác giả :
- Nguyễn Sinh Huy - Trần Trọng Thủy : “Khoa học là toàn bộ hệ thống
kiến thức mà nhân loại đã tích lũy được về những qui luật trong sự phát triển
của thiên nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch
đến thế giới xung quanh đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó nhằm
phục vụ lợi ích cho con người” [10, 2].
- Từ điển tiếng Việt : “Khoa học là một hệ thống tri thức tích lũy trong
nhà trường tiểu học một cách sáng tạo sau này.
1.2.3. Bài tập nghiên cứu khoa học.
Hiện nay có bốn hình thức nghiên cứu khoa học được xác đònh trong các
trường lớp đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nước ta. Đó là :
- Luận án (Tiến só).
- Luận văn (Thạc só và Đại học).
- Khóa luận tốt nghiệp (Đại học).
16
- Bài tập nghiên cứu khoa học.
Những hình thức trên được trình bày từ cao đến thấp, từ khó đến dễ. Có
thể hiểu một cách đại lược ba hình thức đầu làm cơ sở để phân biệt với hình
thức làm bài tập nghiên cứu khoa học :
“Luận án tiến só phải là công trình độc lập. Trên cơ sở nghiên cứu, nó
phải nêu tên và lập luận cho những luận điểm khoa học tạo nên hướng mới có
triển vọng trong lónh vực khoa học tương ứng. Hoặc nó thể hiện được sự tổng
kết về lí thuyết và giải quyết vấn đề khoa học lớn lao có ý nghóa quan trọng đối
với kinh tế, chính trò và văn hóa xã hội” [1, 39].
“Luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu khoa học của học sinh
được tiến hành vào năm cuối cùng của khóa học, có giá trò thay thế tất cả các
môn chuyên môn phải thi tốt nghiệp. . . Luận văn tốt nghiệp phải được tác giả
trình bày và bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp. Luận văn tốt
nghiệp thường dài từ 40-70 trang” [1, 38].
“Luận văn tốt nghiệp sau đại học có yêu cầu cao hơn luận văn tốt nghiệp
đại học, thường đòi hỏi phải tiến hành thực nghiệm, phải có khối lượng lớn hơn,
thường dài từ 50-100 trang” [1, 39].
”Khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu khoa học của học sinh đại
học ở năm tốt nghiệp có giá trò thay thế một môn thi tốt nghiệp. Yêu cầu đối với
khóa luận tốt nghiệp cao hơn nhiều so với bài tập nghiên cứu. . . và nhất thiết
phải được bảo vệ trước hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp. Khóa luận tốt
18
+ Học sinh phải biết vận dụng tổng hợp toàn bộ những tri thức
trong cả giáo trình và các phương pháp nghiên cứu khoa học đã học vào việc
nghiên cứu, xử lí tài liệu và trình bày.
+ Học sinh phải trình bày bài tập nghiên cứu theo đúng hình thức
qui đònh, lời văn phải đúng ngữ pháp, luận văn rõ ràng đảm bảo logic. Khối
lượng thường là 20-40 trang.
Loại bài tập nghiên cứu này thường được tiến hành ở các năm thứ hai và
ba, thường do giáo viên chấm, nhưng cũng có thể tổ chức cho bảo vệ” [1, 38].
Trong hình thức bài tập nghiên cứu, áp dụng trong khi học tập từng học
phần, có tác giả gọi là Bài tập niên luận [17, 50].
Từ những hình thức nghiên cứu khoa học đã trình bày nhất là nhất là hình
thức làm bài tập nghiên cứu khoa học của tác giả Lê Khánh Bằng và Vũ Cao
Đàm, chúng ta có thể hiểu làm BT.NCKHGD của sinh viên hệ cao đẳng sư
phạm đào tạo giáo viên tiểu học là một hình thức nghiên cứu khoa học thấp với
mục đích “Giúp các giáo sinh bước đầu tập vận dụng những hiểu biết về phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục vào việc nghiên cứu một vấn đề giáo dục cụ
thể nào đó trong thực tế nhà trường tiểu học hiện nay” [26, 1] (xem thêm mục
1.3.4 và1.3.5 chương 1).
1.2.4. Chất lượng.
Theo tác giả Đại từ điển tiếng Việt, chất lượng là :
“1. Cái làm nên phẩm chất, giá trò của con người, sự vật.
2. Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia”
[39, 331].
19
Theo “Le Petit Larousse” chất lượng (qualité) được đònh nghóa như sau :
Qualité : “Ce qui fait le mérite de quelqu’un” [42, 841] (cái làm nên phẩm chất
vật).
4. Chất lượng vận động sẽ dẫn đến sự thay đổi sự vật về căn bản.
Theo đó, nâng cao chất lượng của một sự vật nào đó là làm cho sự vật đó
phát triển theo chiều hướng tích cực về chất lượng cũng như về số lượng. Như
vậy, nâng cao chất lượng BT.NCKHGD của sinh viên có nghóa là đưa ra những
biện pháp nhằm nâng cao về số lượng, về chất lượng BT.NCKHGD của sinh
viên theo yêu cầu của mục tiêu đào tạo. Điều đó đòi hỏi :
1.Trước hết, cần phải xác đònh được về chất của BT.NCKHGD của sinh
viên.
2. Thứ đến, trên cơ sở xác đònh về chất mà có sự qui đònh về lượng.
3. Trên cơ sở xác đònh về chất lượng và số lượng mà hình thành chuẩn
đánh giá.
Từ đó mà có những biện pháp tác động hữu hiệu để thúc đẩy
BT.NCKHGD của sinh viên phát triển theo chiều hướng thuận lợi, tích cực, đáp
ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo.
1.3. BT. NCKHGD là hình thức thực hành của học phần Phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục - một nội dung dạy học trong thực
hiện mục tiêu giáo dục.
21
1.3.1. Mục tiêu đào tạo giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng sư
phạm.
Theo Luật Giáo dục ban hành năm 1998 : “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghóa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [29, 8].
Cũng theo luật Giáo dục :“Mục tiêu của giáo dục đại học và sau đại học
là đào tạo người học có phẩm chất chính trò, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân
biến khoa học giáo dục. Các chủ trương, chính sách về giáo dục phải được xây
dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục, phù hợp với thực tiễn
Việt Nam” [29, 13-14].
1.3.3. Ý nghóa của việc nghiên cứu khoa học giáo dục.
Nghiên cứu khoa học giáo dục có ý nghóa quan trọng trong đào tạo sinh
viên các trường Đại học, Cao dẳng. Tài liệu biên soạn theo chương trình chi tiết,
đã được vụ Đại học thông qua [22] đã nhấn mạnh :
1. “ . . . Khoa học giáo dục là một bộ phận của các khoa học về con người.
Nghiên cứu khoa học giáo dục là nghiên cứu bản chất, qui luật của giáo dục
nhằm phát triển, bồi dưỡng tiềm năng trí tuệ của con người. Kết quả nghiên cứu
giáo dục trực tiếp quyết đònh thành bại sự nghiệp giáo dục của một đất nước”
[22, 10].
2. “Nghiên cứu khoa học nói chung, trong đó có khoa học giáo dục, đều
nhắm tới việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào giải quyết những vấn đề
23
của thực tiễn. Nghiên cứu và ứng dụng là hai khâu của một chu trình khép kín.
Nghiên cứu để ứng dụng và ứng dụng kết quả khoa học sẽ làm cho khoa học
phát triển và thực tiễn được cải tạo. Nghiên cứu khoa học giáo dục cũng nhằm
tới mục đích tối cao là giải quyết các hiện thực giáo dục, làm cho sự nghiệp giáo
dục của nước ta phát triển tốt hơn, chất lượng giáo dục được nâng cao hơn để
góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội” [22. 12].
1.3.4. Mục đích yêu cầu của học phần Phương pháp nghiên cứu khoa
học giáo dục.
Theo chương trình cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học, mục
đích yêu cầu của học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục là :
1. Giúp giáo sinh nắm được các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo
dục, biết cách thiết kế, tổ chức và thực thi một đề tài nghiên cứu khoa học về
+ Thực nghiệm thăm dò,
+ Thực nghiệm xét nghiệm.
+ Thực nghiệm đònh tính và đònh lượng.
+ Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.
+ Thực nghiệm tự nhiên.
- Đọc sách và tài liệu.
- Trò chuyện.
- Điều tra.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
25