ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên trường Đại học Công đoàn luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Bá Lãm Hµ néi - 2008 MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
5. Phương pháp nghiên cứu
2
6. Phạm vi nghiên cứu
2
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên
25
1.3.2. Xu hướng xây dựng các biện pháp quản lý hiện nay
26 Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên trường Đại học Công đoàn
27
2.1. Giới thiệu sơ lược về Trường Đại học Công đoàn
27
2.1.1. Bối cảnh ra đời và một số thành tựu nổi bật
27
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Trường Đại học Công đoàn
27
2.1.3. Biên chế, tổ chức
29
2.1.4. Những thành tích chủ yếu
32
2.1.5. Những thiếu sót
33
2.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Công đoàn
33
2.2.1. Chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động VN
33
2.2.2. Chủ trương của nhà trường về công tác nghiên cứu khoa học
33
2.2.3. Nguồn lực hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường
35
3.1.4. Nguyên tắc sử dụng phối hợp toàn diện các phương pháp quản lý
một cách hệ thống, toàn diện, cân đối
57
3.2. Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Công đoàn
58
3.2.1. Biện pháp 1: Quản lý chặt chẽ các nguồn lực nghiên cứu khoa học
58
3.2.2. Biện pháp 2: Tổ chức lại bộ máy quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học một cách hợp lý, hiệu quả
64
3.2.3. Biện pháp 3: Đa dạng hoá các hình thức sinh hoạt khoa học
66
3.2.4. Biện pháp 4: : Quản lý chặt chẽ hoạt động đối ngoại trong nghiên
cứu khoa học.
67
3.2.5. Biện pháp 5: Tin học hóa công tác quản lý nghiên cứu khoa học
69
3.2.6. Biện pháp 6: Phối hợp chặt chẽ giữa Ban giám hiệu, các bộ phận và
các tổ chức trong Nhà trường về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
72
3.2.7. Biện pháp 7: Xây dựng cơ chế khen thưởng, kỷ luật hợp lý trong
hoạt động nghiên cứu khoa học
73
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
74
3.4. Thăm dò tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp
76
3.4.1. Quá trình thăm dò
76
nghiên cứu của sinh viên đã được giải thưởng trong các cuộc thi “Sinh viên
nghiên cứu khoa học” và giải thưởng “Sáng tạo kỹ thuật Việt Nam -
VIFOTEX” do Bộ Giáo dục & Đào tạo và Hội Khoa học - kỹ thuật Việt Nam
tổ chức.
Tuy vậy, việc nghiên cứu khoa học ở một số không nhỏ cán bộ, giảng
viên, sinh viên còn là mới mẻ. Nhận thức về vai trò của công tác nghiên cứu
khoa học chưa thật đúng và toàn diện, phương pháp nghiên cứu của một số
giảng viên, nhất là giảng viên trẻ còn lúng túng. Chất lượng của một số đề tài
còn hạn chế do người nghiên cứu chưa có phương pháp hoặc thiếu nhiệt tình.
Trong công tác tổ chức quản lý nghiên cứu khoa học chưa có sự phối hợp 2
đồng bộ giữa các bộ phận chức năng trong trường, quy mô và chất lượng
nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nhà trường và
xã hội, sự phối hợp nghiên cứu liên ngành còn gặp nhiều khó khăn… Việc
hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khoa học trong và ngoài nước tuy đã có
nhưng chưa được mở rộng và có hiệu quả thiết thực.
Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp bách là cần hoàn thiện công tác quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Công đoàn. Với những lý
do đó, chúng tôi chọn đề tài: "Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Công đoàn”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên Trường Đại học Công đoàn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
nghiên cứu khoa học của nhà trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học ở trường đại học.
Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tổng kết công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của trường
Đại học Công đoàn từ năm 2001 đến nay, chỉ rõ những ưu điểm và nhược
điểm của công tác đó.
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở khoa học để cải
tiến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên tại trường Đại học
Công đoàn và các trường đại học có hoàn cảnh tương tự.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học ở trường đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên Trường Đại học Công đoàn 4
Chương 3: Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
của giảng viên Trường Đại học Công đoàn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Tuy tác giả đề tài chưa nghiên cứu được một cách hệ thống vấn đề
quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, nhưng cũng có tham khảo tài liệu
về các phạm trù, các vấn đề liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học
như về quản lý, quản lý giáo dục, phương pháp luận nghiên cứu khoa học
khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường’’, mã số B91-
38-14 do Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm.
Các đề tài trên đã đóng góp những lí luận và giải pháp của công tác quản
lý hoạt động khoa học và công nghệ của ngành Giáo dục - Đào tạo, gắn với
đặc điểm tình hình trong gia đoạn đó.
Năm 1998, Ninh Đức Nhận hoàn thành luận văn thạc sĩ “Một số giải
pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở trường
đại học trong giai đoạn mới”. Đề tài đã đề ra một số giải pháp đổi mới công
tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở hệ thống các trường đại học
nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động khoa học và công
nghệ cho các trường đại học.
Nguyễn Thị Kim Chung bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ chuyên
ngành quản lý giáo dục với đề tài: “Một số biện pháp quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học giáo dục của Trường Cao đẳng Sư phạm Hưng Yên’’.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng kết quả
của hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Cao đẳng Sư phạm Hưng Yên,
tác giả đã đưa ra 7 biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả cho
nghiên cứu khoa học giáo dục của nhà trường.
Tạp chí Giáo dục gần đây có nhiều nhà khoa học và nhà quản lý giáo dục
đăng những công trình nghiên cứu và bài viết về hoạt động nghiên cứu khoa
học ở giáo dục đại học như:
- “Nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo đại học” của Đỗ Thị Châu (Đại học Quốc gia). Số 96/9 - 2004. 7
- “Logic nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoa học về giải
pháp quản lý giáo dục” của Nguyễn Phúc Châu (Học viện Cán bộ quản lý
giáo dục - Đào tạo Trung ương) số 143, kì 1 tháng 8/2006
Nhìn chung, các tác giả đã đóng góp lý luận và hướng giải quyết nhiều
của con người về thế giới mà họ đã tìm kiếm, phát hiện và tích luỹ được trong
lịch sử phát triển của xã hội. Khoa học chính là “…toàn bộ hệ thống kiến thức
mà nhân loại đã tích luỹ được về những quy luật trong sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế
giới xung quanh và làm biến đổi thế giới đó nhằm phục vụ đời sống con
người.”[18, tr2]. Khoa học là quy luật của hiện thực vốn ẩn náu.
Trong quyển XIX của Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô có viết: “Khoa
học là tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật khách quan
của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong
lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở… thực tiễn xã hội.” [dẫn theo
36,142]
Như vậy, theo quan điểm này thì khoa học là một dạng sản phẩm hoạt động
của con người, do con người tích luỹ dược.
- Hướng thứ hai quan niệm khoa học là một hình thức tìm tòi, phát hiện
các quy luật của sự vật, hiện tượng và vận dung các quy luật đó để sáng tạo ra
các giải pháp tác động vào thế giới, phục vụ lợi ích của con người.
- Dưới góc độ triết học, khoa học là một bộ phận hợp thành của ý thức xã
hội. Ở đây, khoa học đươc hiểu như một phạm trù triết học…
- Khoa học là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp xã hội đặc thù.
Cụ thể hơn: “Khoa học là một hoạt động có tính chất hệ thống, thông qua việc
nghiên cứu, nhằm tìm ra những kiến giải mang tính khái quát, chính xác và
khách quan hóa được về hiện thực.”[26, tr31]
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm khoa học theo định nghĩa
của Luật Khoa học và Công nghệ hiện hành như sau:
- “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của
tự nhiên, xã hội và tư duy.”[6, tr15] 9
1.2.1.2. Nghiên cứu khoa học
10
những tri thức mà “bằng các giác quan, con người tri giác, cảm nhận về bản
thân, về thế giới và xã hội xung quanh, từ đó có những kinh nghiệm sống,
những hiểu biết về mọi mặt’’. Tri thức khoa học là:“… kết quả của quá trình
nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện đặc biệt
do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện” [22, tr 16].
- Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và
các quy luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng
vào sản xuất vật chất hay tạo ra các giá trị tinh thần để thoả mãn như cầu
cuộc sống của con người.
1.2.1.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học
Thực chất hoạt động nghiên cứu khoa học chính là các quá trình nghiên
cứu khoa học. Đó là hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó là hệ
thống tri thức khoa học tham gia ngày càng sâu sắc và đầy đủ vào quá trình
sản xuất vật chất và mọi mặt của đời sống xã hội.
Hoạt động nghiên cứu khoa học là một nội dung của hoạt động khoa học
và công nghệ. Với tư cách là một nội dung của khoa học và công nghệ, hoạt
động nghiên cứu khoa học được hiểu là tổ hợp những nghiên cứu cơ bản,
nghiên cứu ứng dụng và triển khai được thực hiện để đạt mục tiêu của khoa
học đã đặt ra. Trong một tổ chức, người ta nói “Hoạt động nghiên cứu khoa
học” là chỉ một lĩnh vực hoạt động khác như “hoạt động sản xuất”, hoạt động
giáo dục.
Sau đây, tác giả đề cập đến một số vấn đề quan trọng trong hoạt động
nghiên cứu khoa học:
(a). Nguồn lực nghiên cứu khoa học
Nguồn lực nghiên cứu khoa học là tất cả các nguồn lực phục vụ cho hoạt
động nghiên cứu khoa học, bao gồm con người (nhân lực), nguồn lực về vật
chất (vật lực), tài chính (tài lực) và nguồn thông tin (tin lực). 12
thông tin gồm sách, tài liệu báo cáo khoa học trong và ngoài trường, thu thập
được của các đồng nghiệp đi trước, tài liệu trong các phòng tư liệu, các kho
dự trữ, số liệu thống kế… và đặc biệt là từ internet.
Thông tin về phương pháp nghiên cứu.
Thông tin về phương pháp xử lí dữ liệu có hai loại: xử lí các dữ liệu định
lượng và xử lí các dữ liệu định tính.
Thông tin về các nguồn lực.
Nguồn thông tin quản lý trong nội bộ tổ chức liên quan đến hoạt động
nghiên cứu khoa học giữa các bộ phận, cá nhân phản ánh các mối liên hệ cong
tác và trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ với nhau. Thông tin luôn là mạch máu,
là điều kiện sống còn của quản lý.
Sức mạnh của tin lực nghiên cứu khoa học biểu hiện ở số lượng và chất
lượng nghiên cứu thông tin.
Chất lượng của thông tin được đánh giá ở tính khách quan, độ chính xác
và kịp thời.
(b). Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học có một số đặc điểm nổi bật sau đây:
- Tính mới: nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những phát hiện hoặc sáng
tạo mới, không chấp nhận sự lặp lại cái cũ.
- Tính thông tin: sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể coi là những
thông tin mới, đó là kết quả của quá trình khai thác và xử lí thông tin.
- Tính khách quan: để đảm bảo khách quan, người nghiên cứu không thể
nhận định theo ý muốn chủ quan, không thể kết luận thiếu kiểm chứng mà
phải luôn xem xét kĩ càng vấn đề nghiên cứu.
- Tính tin cậy: kết quả nghiên cứu phải được kiểm chứng bởi thực tiễn
hay những luận chứng khoa học tin cậy.
- Tính mạnh dạn, mạo hiểm: nhà nghiên cứu phải dám đảm nhận
chất và quy luật vận động của thế giới. 14
Nghiên cứu ứng dụng có mục đích là tìm cách vận dụng những tri thức
cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới, những nguyên lý mới trong
quản lý kinh tế, xã hội.
Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu có mục đích tìm khả năng
áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế cuộc sống.
Nghiên cứu dự báo có mục đích tìm tòi, phát hiện những triển vọng,
những khả năng, xu hướng mới của sự phát triển khoa học và thực tiễn.
- Nếu dựa vào chức năng của quá trình nghiên cứu thì ta có:
Nghiên cứu mô tả là quá trình nghiên cứu để trình bày về một hiện
tượng, sự việc một cách chuẩn xác, có trình tự, có hệ thống nhằm giúp mọi
người hiểu được vấn đề, phổ biến cho mọi người hưởng ứng làm theo.
Nghiên cứu giải thích là nghiên cứu để lập luận, để kiến giải một vấn đề
nào đó trên cơ sở khoa học. Giải thích ở đây là làm rõ nguyên nhân dẫn đến
sự hình thành và tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát triển của sự
việc, sự vật mà ta cần giải thích.
Nghiên cứu tiên đoán là nghiên cứu để ngoại suy thấy được trước các xu
thế vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Việc tiên đoán có thể dựa
vào mô tả và giải thích.
Nghiên cứu sáng tạo là quá trình nghiên cứu để tìm ra những tri thức,
những quy luật và các giải pháp mới.
1.2.2. Quản lý
1.2.2.1. Một số quan niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ rất sớm và là một
nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. C. Mác đã nói: “Bất cứ lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá
lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
vừa là chủ thể vừa là là khách thể quản lý. Mai Hữu Khuê đã nêu “Hoạt
động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang
tính tổng hợp của các dạng lao động trí óc liên kết bộ máy thành một 16
chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu quản lý và các cấp
quản lý hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả cao’’. [24, tr21].
Theo Phạm Khắc Chương thì “Quản lý là sự tác động có hướng đích của
chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm
thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối
cùng, phục vụ mục đích của con người” [20, tr5].
Như vậy, khi bàn về quản lý, các tác giả đều có quan điểm thống nhất
chung là: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với
khách thể (đối tượng) quản lý về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế xã hội… bằng
một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các
biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối
tượng”.
Có thể thấy quản lý bao giờ cũng là quản lý một hệ, một đơn vị cụ thể.
Trong quản lý bao giờ cũng bao gồm các thành phần cơ bản: chủ thể quản lý,
đối tượng và khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, các công cụ quản lý. Hoạt
động quản lý về bản chất là tác động (bằng tổ chức, điều khiển và chỉ huy)
hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm
làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu đã đề ra với hiệu quả mong muốn.
Tiếp cận trong quản lý là đường lối xem xét hệ thống quản lý, là cách
thức thâm nhập vào hệ thống quản lý, là đường lối xử lí các vấn đề của quản
lý. Trên thực tế có một số cách tiếp cận thông dụng: tiếp cận lịch sử/logic;
tiếp cận phân tích/tổng hợp; tiếp cận mục tiêu và tiếp cận hệ thống.
Tiếp cận hệ thống cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ
thống hoàn chỉnh bao gồm những nhân tố và mối quan hệ tương tác giữa các
Kế hoạch hoá có nghĩa là công việc hoạch định, gồm xác định mục tiêu,
mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và xác định các con đường,
biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Ba nội dung chủ yếu
của chức năng kế hoạch hoá là:
- Xác định (hình thành) mục tiêu đối với tổ chức.
- Xác định và đảm bảo các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục
tiêu đã đề ra. 18
- Quyết định những hoạt động cần thiết, tối ưu để đạt được các mục tiêu đó.
Trước khi xây dựng kế hoạch, bất cứ một tổ chức nào cũng phải xác định sứ
mệnh của tổ chức mình. Đó là loại mục tiêu có tính chiến lược cao nhất, dựa trên
những tiền đề kế hoạch hoá, những tiền đề này là những giả định cơ bản về mục
đích tồn tại của tổ chức, những giá trị của tổ chức, đặc trưng chuyên biệt cũng
như vị trí của tổ chức trong xã hội.
(b). Tổ chức
Khi người quản lý tổ chức đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá
những ý tưởng khá trừu tượng đó thành hiện thực. Xét về mặt chức năng quản
lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, các bộ phận trong tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thành công các
kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu
quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực. Thành
tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực sử dụng các nguồn lực
hợp lí và khoa học của người quản lý.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các
phòng, ban cùng các công việc của chúng. Sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ
được bố trí, sắp xếp phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức
với các cương vị nhất định trong tổ chức.
(c). Chỉ đạo, điều hành
quan hệ chặt chẽ với các chức năng quản lý.
1.2.2.3. Vai trò của quản lý
Quản lý là nhân tố cơ bản, quyết định sự tồn tại, phát triển hay diệt
vong của mọi tổ chức. Trong tất các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội đều có hoạt động quản lý, như quản lý kinh tế, quản lý giáo dục, quản
lý văn hoá… Tuy mỗi lĩnh vực đều có những nét đặc thù riêng song chúng
đều có những điểm chung nhất về bản chất của hoạt động quản lý. Hoạt
động quản lý luôn luôn góp phần quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả
của từng tổ chức, từng con người trong một hệ thống nhất định. Quản lý là 20
một nhân tố tất yếu của sự phát triển, nó vừa là hệ quả vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển xã hội.
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng năng lực quản lý (chất xám
quản lý) được xếp trong hệ thống năm yếu tố tạo thành sức mạnh của nền
kinh tế của một quốc gia, đó là: lao động, vốn, công nghệ, năng lực quản
lý và tài nguyên. (sơ đồ 1). Theo Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả của
trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý thì trong thời đại khoa
học công nghệ ngày nay, việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu
khoa học - công hệ mới vào thực tiễn quản lý là xu hướng của quản lý
hiện đại, nên quản lý còn được xem là công nghệ - công nghệ điều hành,
phối hợp, sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) và thông tin
của một tổ chức để đưa tổ chức đạt tới mục tiêu. [16, tr 66].