ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên trường Đại học Công đoàn
luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC
Hµ néi - 2008
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên trường Đại học Công đoàn
Mã số
2
6. Phạm vi nghiên cứu
2
7. Giả thuyết khoa học
3
8. ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3
9. Cấu trúc luận văn
3
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
4
học ở trường Đại học
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
4
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
4
25
hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Đại học Công đoàn
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động nghiên
25
cứu khoa học của giảng viên
1.3.2. Xu hướng xây dựng các biện pháp quản lý hiện nay
26
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
27
giảng viên trường Đại học Công đoàn
2.1. Giới thiệu sơ lược về Trường Đại học Công đoàn
27
33
2.2.3. Nguồn lực hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường
35
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
36
Trường Đại học Công Đoàn
2.3.1. Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường
36
2.3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
39
2.3.3. Đánh giá việc thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động nghiên
44
cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Công Đoàn hiện nay
2.3.4. Kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường
47
Đại học Công Đoàn trong thời gian qua
57
một cách hệ thống, toàn diện, cân đối
3.2. Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
58
động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Công đoàn
3.2.1. Biện pháp 1: Quản lý chặt chẽ các nguồn lực nghiên cứu khoa học
58
3.2.2. Biện pháp 2: Tổ chức lại bộ máy quản lý hoạt động nghiên cứu
64
khoa học một cách hợp lý, hiệu quả
3.2.3. Biện pháp 3: Đa dạng hoá các hình thức sinh hoạt khoa học
66
3.2.4. Biện pháp 4: : Quản lý chặt chẽ hoạt động đối ngoại trong nghiên
67
cứu khoa học.
3.2.5. Biện pháp 5: Tin học hóa công tác quản lý nghiên cứu khoa học
69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
PHỤ LỤC
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giảng
viên và sinh viên các trường đại học nói chung và Trường Đại học Công đoàn
nói riêng. Chức năng của trường đại học đòi hỏi mỗi trường đại học là một cơ
sở nghiên cứu khoa học, bởi vậy công tác nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ
chính trị của mỗi giảng viên và sinh viên trong nhà trường. Cần có sự sắp xếp,
phân công hợp lý, kết hợp chặt chẽ để phát huy tối đa lực lượng khoa học và
công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học
trong cả nước.
Trường Đại học Công đoàn là trường đại học đa ngành, đa cấp, là trung
tâm đào tạo cán bộ đồng thời là trung tâm nghiên cứu lý luận về phong trào
công nhân, công đoàn của hệ thống Công đoàn trong cả nước nên nhà trường
luôn chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học.
Trong 10 năm gần đây, công tác nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học
động chuyển giao công nghệ. Hoạt động nghiên cứu khoa học của những
người đi học nâng cao trình độ ở những cơ sở khác (học cao học, làm
nghiên cứu sinh...) hay việc tham gia nghiên cứu khoa học của các đối
tượng khác như sinh viên, cán bộ quản lý, viên chức trong nhà trường...
cũng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được và thực hiện các biện pháp cải tiến quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên thì công tác nghiên cứu
khoa học của giảng viên Trường Đại học Công đoàn sẽ đi vào nề nếp, ổn
định và phát triển.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tổng kết công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của trường
Đại học Công đoàn từ năm 2001 đến nay, chỉ rõ những ưu điểm và nhược
điểm của công tác đó.
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở khoa học để cải
tiến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên tại trường Đại học
Công đoàn và các trường đại học có hoàn cảnh tương tự.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học ở trường đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên Trường Đại học Công đoàn
3
Chương 3: Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
của giảng viên Trường Đại học Công đoàn
Publisher, 2000 là tài liệu thích hợp cho sinh viên và những người bước đầu
tập sự nghiên cứu khoa học. Đó là những chỉ dẫn cơ bản bước đầu về phương
pháp luận nghiên cứu khoa học.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Từ việc nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của công tác quản lý đối
với hoạt động nghiên cứu khoa học và những khó khăn vướng mắc trong quá
trình hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học và cao đẳng, các nhà
khoa học đã có những nghiên cứu với nhiều góc độ, ở nhiều khía cạnh và cấp độ
khác nhau.
5
Trước năm 1990, Viện Nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp có
đề tài:’’Tổ chức và quản lý nghiên cứu triển khai trong các trường đại học
phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng” do Lê Thạc Cán chủ nhiệm,
chương trình cấp Nhà nước, mã số 60A.
Năm 1991, Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục hoàn thành đề tài:
“Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động
khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường’’, mã số B9138-14 do Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm.
Các đề tài trên đã đóng góp những lí luận và giải pháp của công tác quản
lý hoạt động khoa học và công nghệ của ngành Giáo dục - Đào tạo, gắn với
đặc điểm tình hình trong gia đoạn đó.
Năm 1998, Ninh Đức Nhận hoàn thành luận văn thạc sĩ “Một số giải
pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở trường
đại học trong giai đoạn mới”. Đề tài đã đề ra một số giải pháp đổi mới công
tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở hệ thống các trường đại học
nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động khoa học và công
nghệ cho các trường đại học.
Nguyễn Thị Kim Chung bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ chuyên
riêng lẻ, hoặc chỉ có giá trị gắn với một nhà trường trong một giai đoạn lịch
sử ngắn với những hoàn cảnh chính trị, kinh tế xã hội nhất định.
Bối cảnh kinh tế xã hội gần đây có nhiều biến đổi nhanh chóng. Giáo dục
nói chung, công tác quản lý giáo dục nói riêng đang đứng trước những yêu
cầu mới cao hơn. Điều đó đòi hỏi hoạt động nghiên cứu khoa học, nhất là
khoa học về quản lý giáo dục phải được đổi mới mạnh mẽ. Cần phải có những
nghiên cứu mới thích ứng và có giá trị thực tiễn cao.
Đề tài này nhằm đề xuất những biện pháp quản lý cụ thể, phù hợp để
hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Công đoàn đạt
kết quả cao hơn, góp phần xây dựng nhà trường lớn mạnh. Mặc dù có nhiều
khó khăn nhưng chúng tôi mạnh dạn đưa ra các biện pháp có tính chất cải tiến
mạnh mẽ hiện trạng của công tác quản lý nghiên cứu khoa học vốn còn nhiều
bất cập hiện nay ở Trường Đại học Công đoàn.
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học
“Khoa học” và “ hoạt động nghiên cứu khoa học” là những khái niệm
được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống, đặc biệt là trong các nhà trường
đại học và cao đẳng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn tồn tại không ít những quan
niệm khác nhau về chúng.
1.2.1.1. Khoa học
7
Thuật ngữ “khoa học’’ được hiểu theo nhhiều góc độ và mức độ nhận
thức khác nhau.
- Hướng thứ nhất quan niệm rằng khoa học là hệ thống kiến thức, tri thức
của con người về thế giới mà họ đã tìm kiếm, phát hiện và tích luỹ được trong
lịch sử phát triển của xã hội. Khoa học chính là “…toàn bộ hệ thống kiến thức
mà nhân loại đã tích luỹ được về những quy luật trong sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế
mien phi
phi
1.2.1.2. Nghiên cứu khoa học
“Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức chân lí khoa học, một hoạt
động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm
kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người
chưa biết đến hoặc biết chưa đầy đủ, tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri
thức mới có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp”. [33, tr25].
Phạm Viết Vượng cho rằng nghiên cứu khoa học là hoạt động nhận thức
thế giới khách quan, là quá trình sáng tạo, phát hiện chân lí, phát hiện những
quy luật của thế giới, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện, nhằm vận dụng
những hiểu biết ấy vào cuộc sống.
Theo lí thuyết công nghệ thì “Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm tòi,
phát hiện thông tin mới, gia công chế biến thông tin cũ để lưu trữ và sử dụng
thông tin vào mục đích phục vụ cuộc sống và sản xuất”. [33, tr49].
Luật khoa học và Công nghệ 2000 quy định: “Nghiên cứu khoa học là
hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã
hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên
cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”. [6, tr7].
Như vậy, có thể nói, nghiên cứu khoa học là hoạt động để sáng tạo ra
khoa học, trong đó:
- Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà
khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức để sử dụng vào cải
tạo thế giới.
- Chủ thể của nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm
chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo.
- Khách thể của nghiên cứu khoa học là các sự vật, hiện tượng của tự
nhiên, xã hội và tư duy mà nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra
tri thức khoa học.
động nghiên cứu khoa học, bao gồm con người (nhân lực), nguồn lực về vật
chất (vật lực), tài chính (tài lực) và nguồn thông tin (tin lực).
10
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học là chủ thể của hoạt động nghiên
cứu khoa học, đó là những người có đủ phẩm chất và năng lực trí tuệ để trực
tiếp tham gia nghiên cứu khoa học, thường là những người có tài năng, được
đào tạo chu đáo.
Điều quan trọng nhất của nhân lực khoa học là khả năng sáng tạo và lòng
yêu khoa học. Nguồn nhân lực khoa học có vai trò là tiền đề quyết định kết
quả của hoạt động khoa học. “Nhân lực khoa học là tiềm năng của mọi tiềm
năng là nhân tố quan trọng nhất tạo ra mọi thành công không những cho khoa
học mà còn cho tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của nhân loại”. [30, tr
254].
- Nguồn tài lực nghiên cứu khoa học là nguồn tài chính chi phí cho hoạt
động nghiên cứu khoa học và chi phí đầu tư cho khoa học và công nghệ, gồm:
Ngân sách của Nhà nước cho cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đầu
tư cho khoa học.
Kinh phí của tổ chức dành cho nghiên cứu khoa học.
Đầu tư tài trợ của các chương trình, dự án, các tổ chức và cá nhân.
và kịp thời.
(b). Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học có một số đặc điểm nổi bật sau đây:
- Tính mới: nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những phát hiện hoặc sáng
tạo mới, không chấp nhận sự lặp lại cái cũ.
- Tính thông tin: sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể coi là những
thông tin mới, đó là kết quả của quá trình khai thác và xử lí thông tin.
- Tính khách quan: để đảm bảo khách quan, người nghiên cứu không thể
nhận định theo ý muốn chủ quan, không thể kết luận thiếu kiểm chứng mà
phải luôn xem xét kĩ càng vấn đề nghiên cứu.
- Tính tin cậy: kết quả nghiên cứu phải được kiểm chứng bởi thực tiễn
hay những luận chứng khoa học tin cậy.
- Tính mạnh dạn, mạo hiểm: nhà nghiên cứu phải dám đảm nhận
những vấn đề chưa có ai nghiên cứu hoặc các lĩnh vực mới mẻ, thậm chí
dám lật lại những thành tựu đã được xác nhận trước đây để tìm ra kết quả
12
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
mới. Tất nhiên khả năng rủi ro, thất bại trong nghiên cứu khoa học là điều
bình thường. Điều quan trọng là phải biết chấp nhận rủi ro và rút kinh
nghiệm, biết cách học hỏi từcác sai lầm.
- Tính kinh tế: sứ mệnh của nghiên cứu khoa học là góp phần phát triển
áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế cuộc sống.
Nghiên cứu dự báo có mục đích tìm tòi, phát hiện những triển vọng,
những khả năng, xu hướng mới của sự phát triển khoa học và thực tiễn.
- Nếu dựa vào chức năng của quá trình nghiên cứu thì ta có:
Nghiên cứu mô tả là quá trình nghiên cứu để trình bày về một hiện
tượng, sự việc một cách chuẩn xác, có trình tự, có hệ thống nhằm giúp mọi
người hiểu được vấn đề, phổ biến cho mọi người hưởng ứng làm theo.
Nghiên cứu giải thích là nghiên cứu để lập luận, để kiến giải một vấn đề
nào đó trên cơ sở khoa học. Giải thích ở đây là làm rõ nguyên nhân dẫn đến
sự hình thành và tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát triển của sự
việc, sự vật mà ta cần giải thích.
Nghiên cứu tiên đoán là nghiên cứu để ngoại suy thấy được trước các xu
thế vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Việc tiên đoán có thể dựa
vào mô tả và giải thích.
Nghiên cứu sáng tạo là quá trình nghiên cứu để tìm ra những tri thức,
những quy luật và các giải pháp mới.
1.2.2. Quản lý
1.2.2.1. Một số quan niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ rất sớm và là một
nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. C. Mác đã nói: “Bất cứ lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá
lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng
14
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
vừa là chủ thể vừa là là khách thể quản lý. Mai Hữu Khuê đã nêu “Hoạt
động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang
tính tổng hợp của các dạng lao động trí óc liên kết bộ máy thành một
15
chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu quản lý và các cấp
quản lý hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả cao’’. [24, tr21].
Theo Phạm Khắc Chương thì “Quản lý là sự tác động có hướng đích của
chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm
thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối
cùng, phục vụ mục đích của con người” [20, tr5].
Như vậy, khi bàn về quản lý, các tác giả đều có quan điểm thống nhất
chung là: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với
khách thể (đối tượng) quản lý về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế xã hội… bằng
một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các
biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối
tượng”.
Có thể thấy quản lý bao giờ cũng là quản lý một hệ, một đơn vị cụ thể.
Trong quản lý bao giờ cũng bao gồm các thành phần cơ bản: chủ thể quản lý,
đối tượng và khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, các công cụ quản lý. Hoạt
động quản lý về bản chất là tác động (bằng tổ chức, điều khiển và chỉ huy)
hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm
làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu đã đề ra với hiệu quả mong muốn.
Tiếp cận trong quản lý là đường lối xem xét hệ thống quản lý, là cách
thức thâm nhập vào hệ thống quản lý, là đường lối xử lí các vấn đề của quản
lý. Trên thực tế có một số cách tiếp cận thông dụng: tiếp cận lịch sử/logic;
tiếp cận phân tích/tổng hợp; tiếp cận mục tiêu và tiếp cận hệ thống.
Tiếp cận hệ thống cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ
thống hoàn chỉnh bao gồm những nhân tố và mối quan hệ tương tác giữa các
nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức
để đạt được mục tiêu cụ thể”.
1.2.2.2. Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ khách quan mà chủ thể quản
lý phải thực hiện để đạt mục đích và mục tiêu quản lý đề ra. Các nhà nghiên
cứu về quản lý đã đưa ra nhiều quan điểm về nội dung của các chức năng.
Song, về cơ bản họ đều thống nhất có 4 chức năng quản lý cơ bản sau đây:
(a). Kế hoạch hoá
Kế hoạch hoá có nghĩa là công việc hoạch định, gồm xác định mục tiêu,
mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và xác định các con đường,
biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Ba nội dung chủ yếu
của chức năng kế hoạch hoá là:
- Xác định (hình thành) mục tiêu đối với tổ chức.
- Xác định và đảm bảo các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục
tiêu đã đề ra.
17
- Quyết định những hoạt động cần thiết, tối ưu để đạt được các mục tiêu đó.
Trước khi xây dựng kế hoạch, bất cứ một tổ chức nào cũng phải xác định sứ
mệnh của tổ chức mình. Đó là loại mục tiêu có tính chiến lược cao nhất, dựa trên
những tiền đề kế hoạch hoá, những tiền đề này là những giả định cơ bản về mục
đích tồn tại của tổ chức, những giá trị của tổ chức, đặc trưng chuyên biệt cũng
như vị trí của tổ chức trong xã hội.
(b). Tổ chức
Khi người quản lý tổ chức đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá
những ý tưởng khá trừu tượng đó thành hiện thực. Xét về mặt chức năng quản
lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, các bộ phận trong tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thành công các
kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu
xét thực tiễn để thực hiện các nhiệm vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích
những nhân tố tích cực, phát hiện sai lệch và đưa những quyết định điều chỉnh
nhằm giúp các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ góp phần đưa toàn bộ hệ thống
được quản lý đạt tới một trình độ cao hơn. Chức năng kiểm tra là một chức
năng quan trọng không thể thiếu được trong quá trình quản lý. Kiểm tra phải
thể hiện rõ bốn bước cơ bản, đó là:
- Xác định chuẩn kiểm tra.
- Đo lường, thu thập thông tin về kết quả đạt được.
- So sánh kết quả với chuẩn mực đã đề ra.
- Đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết.
Tóm lại, chức năng quản lý là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận
quản lý, giữ vai trò to lớn trong thực tiễn quản lý. Thực hiện đầy đủ các chức
năng quản lý và các giai đoạn của chu trình quản lý là cơ sở đảm bảo cho hệ
thống được quản lý một cách có hiệu quả mà trong đó yếu tố thông tin điều
kiện tất yếu, là phương tiện quan trọng để thực hiện hoạt động quản lý.
Trong quản lý, thông tin chính xác, kịp thời sẽ đem lại chất lượng, hiệu
quả của các quyết định quản lý. Thông tin có ý nghĩa, vai trò quan trọng và có
quan hệ chặt chẽ với các chức năng quản lý.
1.2.2.3. Vai trò của quản lý
Quản lý là nhân tố cơ bản, quyết định sự tồn tại, phát triển hay diệt
vong của mọi tổ chức. Trong tất các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội đều có hoạt động quản lý, như quản lý kinh tế, quản lý giáo dục, quản
lý văn hoá… Tuy mỗi lĩnh vực đều có những nét đặc thù riêng song chúng
đều có những điểm chung nhất về bản chất của hoạt động quản lý. Hoạt
động quản lý luôn luôn góp phần quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả
của từng tổ chức, từng con người trong một hệ thống nhất định. Quản lý là
19
một nhân tố tất yếu của sự phát triển, nó vừa là hệ quả vừa là động lực thúc