BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC sử dụng các tài liệu tham khảo và kênh hình trong dạy học “các quốc gia cổ đại phương đông - Pdf 27

GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử phát triển xã hội Việt Nam thì giáo dục giữ vai trò vô cùng quan
trọng. Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là những người kế tục và phát huy sự tiến
bộ. Mục tiêu của giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và tay nghề, có năng lực, phẩm
chất, tự chủ, năng động và sáng tạo. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng hoàn
thiện và có năng lực, chuyên môn sâu, ý thức và có khả năng tự tạo việc làm trong nền
kinh tế nhiều thành phần, đặt biệt là đào tạo ra những con người có khả năng sư phạm
để tiếp tục sự nghiệp giáo dục của cha ông chúng ta.
Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng là nơi giữ vai trò quan trọng trong việc
đào tạo ra nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh Sóc Trăng. Do đó, ngoài
việc cung cấp cho những sinh viên có kiến thức về chuyên môn, những kiến thức sư
phạm thì việc hướng dẫn sinh viên thực tập sư phạm là một phương pháp thiết thực
nhằm tạo cho sinh viên nền tảng vững chắc trước khi bước vào thực tiễn giảng dạy ở
các trường phổ thông.
Trong thời gian thực tập, nhất là trong thời gian em đã gặp rất nhiều khó khăn
và bỡ ngỡ trước những mới lạ và điểm khác so với môi trường mà mình đã được đào
tạo, có những mặt đòi hỏi sự phấn đấu và nỗ lực của bản than và sự trợ giúp của Thầy
Cô và đồng nghiệp. Nhưng dưới sự hướng dẫn của Thầy Phan Huy Hiền - Giảng viên
Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng, giáo viên hướng dẫn chuyên môn cô Nguyễn
Thị Cẩm Như cùng một số thầy cô trong trường THCS Pô Thi, em đã rút ra được rất
nhiều kinh nghiệm và bài học cho bản thân, mặc dù chưa được nhiều nhưng đó chính là
nền tảng giúp em tự tin hơn khi đứng trên bụt giảng và là động lực giúp em tự tin hơn
trong lần thực tập năm III và trong sự nghiệp giảng dạy sau này.
Đây là lần đầu tiên được thực tập sư phạm nên không thể tránh khỏi những
thiếu sót, em kính mong các Thầy, Cô bỏ qua những thiếu sót và đóng góp nhiều ý
kiến để em có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của một người giáo viên tập sự và trong
công tác giảng dạy của em sau này được tốt hơn.
Lớp Địa – Sử 14 Trang
1

chủ yếu là:
Lớp Địa – Sử 14 Trang
2
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
- Chúng ta mới chỉ chú ý đến kênh chữ của sách giáo khoa và coi đây là nguồn
cung cấp kiến thức lịch sử duy nhất trong dạy – học lịch sử mà không thấy rằng kênh
hình không chỉ là nguồn kiến thức quan trọng cung cấp một lượng thông tin đáng kể,
mà còn là phương tiện trực quan có giá trị giúp bài học lịch sử trở nên sinh động hấp,
dẫn hơn, gây hứng thú học tập hơn cho học sinh.
- Không ít giáo viên chưa hiểu rõ xuất sứ nội dung ý nghĩa của kênh hình trong
sách giáo khoa. Trong các đợt bồi dưỡng thay sách, giáo viên hầu như chỉ được giải
thích về cấu tạo chương trình, những điểm mới về nội dung sách giáo khoa mà không
được chú trong bồi dưỡng về việc khai thác sử dụng kênh hình, mặc dù số lượng kênh
hình trong sách giáo khoa hiện hành tăng lên đáng kể so với trước.
- Nhiều giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị, nội dung của kênh hình nhưng lại
ngại sử dụng và sợ mất thời gian hoặc nếu có sử dụng phần nhiều vẫn mang tình hình
thức minh hoạ cho bài giảng.
Chính vì vậy mà để phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến
thức lịch sử của học sinh, phát huy tính tích cực học tập của học sinh thì kênh hình
trong sách giáo khoa có một ý nghĩa rất quan trọng trong giảng dạy lịch sử. Kênh hình
sẽ giúp cho học sinh có được những biểu tượng lịch sử, qua đó hình thành các khái
niệm lịch sử trên cơ sở trực tiếp quan sát, khắc phục tình trạng, hiện đại hoá lịch sử của
học sinh. Qua hệ thống kênh hình sẽ giúp cho học sinh hiểu sâu sắc bản chất của sự
kiện lịch sử, hiểu sâu kiến thức lịch sử.
Từ những vấn đề đã nêu trên đây, đó là lí do em chon đề tài “sử dụng các tài
liệu tham khảo và kênh hình trong dạy học “các quốc gia cổ đại phương đông”
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biện pháp sử dụng tài liệu tham khảo và kênh hình trong SGK
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn
lịch sử nói chung và lịch sử 6 nói riêng.

Thời gian thực hiện đề tài từ ngày nhận được đề tài cho đến hết ngày 04 tháng
05 năm 2010.
Lớp Địa – Sử 14 Trang
4
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
B. NỘI DUNG
I. Những vấn đề chung
Một số vấn đề về lý luận dạy học .
1. Tác dụng của việc sử dụng tài liệu tham khảo và kênh hình trong bài
học lịch sử ở trường THCS.
Trong việc sử dụng tài liệu tham khảo và kênh hình trong bài học lịch sử ở
trường THCS, để nắm vững được những nội dung cũng như những cách thực hiện
mang lại hiệu quả tốt nhất trong giảng dạy ngươi giáo viên trước tiên cần nắm vững
những kiến thức cơ bản nhưng rất quan trọng, nó là tiền đề là bước khởi đầu cho sự
thành công trong công tác giảng dạy lịch sử trong thời kì công nghệ thông tin hiện đại
như ngày nay.
1.1 Khái niệm về quá trình dạy học .
Theo quan niệm cổ truyền : quá trình dạy học là tập hợp những hành động liên
tiếp, thâm nhập vào nhau của giáo viên và của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo
viên, nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống những cơ sở khoa học và
trong quá trình đó, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình
thành thế giới quan và nhân sinh quan. Như vậy quá trình dạy học được hiểu là một tập
hợp những hoạt động của thây và trò, dưới sự hướng dẫn chủ đạo của giáo viên nhằm
giúp trò phát huy được nhân cách và nhờ đó mà đạt tới mục đích dạy học .
Theo quan niệm hiện nay, quá trình dạy học là một quá trình tương tác ( hợp
tác) giữa thầy và trò, trong đó thầy chủ đạo nhờ các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều
chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua
việc tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích
dạy học. Khái niệm nêu trên về quá trình dạy học sẽ được phân tích kỹ nhờ những cách
tiếp cận mới để vạch rõ bản chất của khái niệm.

dung dạy học không ngừng đổi mới theo hướng hiện đại hoá, nội dung thì quá tải- mà
thời gian học tập thì quá hạn, phương pháp, phương tiện dạy học lại lạc hậu, lỗi thời
Trong quá trình dạy học hiện nay, học sinh có vốn sống và năng lực nhận thức
phát triển cao hơn so với trẻ cùng độ tuổi.
Lớp Địa – Sử 14 Trang
6
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
Do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay , được sống trong môi trường tri
thức ngày càng phong phú học sinh thường xuyên được tiếp xúc với nhiều nguồn thông
tin rất đa dạng.
So với trẻ cùng độ tuổi ở các thế hệ trước, học sinh ngày nay có năng lực nhận
thức và vốn sống phát triển hơn, thông minh hơn, năng động hơn
Vì vậy hoạt động dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển năng lực và
phẩm chất trí tuệ, tạo nên sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức.
Trong quá trình học tập, học sinh có xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kỹ
năng do chương trình đã qui định.
Nhìn chung đa số học sinh không thoả mãn với nội dung những gì các em được
học trong chương trình, các em luôn nhạy cảm với cái mới, muốn học thêm, tự tìm tòi,
phát hiện cái mới muốn liên hệ lí luận với thực tiễn, muốn phát hiện và giải quyết vấn
đề bằng nhiều con đường, cách thức, phương án khác nhau, muốn được học thêm
những môn tự chọn, tuỳ chọn
Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và các
phương tiện kỹ thuật dạy học ngày càng hiện đại.
Cùng với sự đổi mới nội dung và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực học tập của học sinh, các nhà trường hiện nay cũng đã được trang bị khá đầy đủ
các phương tiện dạy học, nhờ vậy mà gây hứng thú cho học tập cho học sinh, giúp họ
lĩnh hội nhanh dễ dàng hơn những tri thức và vận dung linh hoạt sáng tạo tri thức đó
vào thực tiễn cuộc sống.
Từ sự phân tích các cơ sở trên, chúng ta nhận thấy, hoạt động học tập của học
sinh được tiến hành trong những điều kiện sư phạm nhất định có sự tổ chức , điều

hội thi số giáo viên dạy giỏi các cấp ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng nâng
cao. Chất lượng bài làm của học sinh qua các kỳ thi tốt nghiệp THCS, THPT và các kỳ
thi học sinh giỏi quốc gia ngày càng xuất hiện nhiều học sinh đạt điểm khá, giỏi.
Do kết quả giáo dục về nhiều mặt của bộ môn, đã không ngừng củng cố và nâng
cao địa vị bộ môn. Môn lịch sử ngày càng chứng tỏ rằng nó không thể thiếu được
trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, tác phong trong việc hình thành nhân
cách cho thế hệ trẻ. Yêu thích bộ môn lịch sử là xu hướng lành mạnh đang thu hút ngày
càng nhiều học sinh ở các trường phổ thông hiện nay.
Lớp Địa – Sử 14 Trang
8
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
Có được các thành tích trên là do các nguyên nhân cơ bản sau:
- Được Đảng, nhà nước, các cấp quản lí giáo dục và nhân dân quan tâm, đánh
giá cao vai trò tác dụng của bộ môn lịch sử, trong việc giáo dục toàn diện thế hệ trẻ.
- Nhận thức được vai trò, vị trí của bộ môn Lịch sử trong sự nghiệp giáo dục,
bản thân người giáo viên Lịch sử đã không ngừng tự học, tự đào tạo về chuyên môn
nghiệp vụ, đến nay hầu hết đã chuẩn hoá , một số còn vươn lên trình độ cao hơn để đáp
ứng nghiệp vụ , yêu cầu ngày càng cao của bộ môn . Địa vị của người giáo viên Lịch
sử trong trường phổ thông ngày càng có uy tín, được xã hội và học sinh tôn vinh.
- Bản thân học sinh ngày càng nhận thấy vai trò tác dụng của bộ môn trong việc
học tập, rèn luyện để trở thành con người có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết để đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ đổi mới và hiện đại hoá đất nước.
Bên cạnh hoàn thành nhiệm vụ của bộ môn đã nêu trên chúng ta phải thừa nhận
rằng kết quả đó còn thấp so với yêu cầu ngày càng cao của xã hội, nhất là trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Do điều kiện khách quan và chủ quan chất lượng bộ môn lịch sử còn có những
biểu hiện giảm sút, thể hiện ở những điểm sau :
Không nhớ các sự kiện lịch sử hoặc nếu có nhớ thì không chính xác là hiện
tượng không chỉ ở một số ít học sinh. Không ít học sinh rất khó khăn trong việc nhớ
lịch sử dân tộc, nhưng lại rất nhạy bén trong việc nhớ tiểu sử, tính cách, thành tích của

* Nguyên nhân chủ quan
Khả năng chuyên môn nghiệp vụ của một số giáo viên bị sói mòn, một số chưa
có ý thức rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ .
Kết quả học tập của học sinh bị hạn chế nhiều mặt:
Kỹ năng học tập bộ môn không được rèn luyện việc việc ghi nhớ đơn thuần về
các sự kiện, hiện tượng lịch sử của học sinh tỏ ra không ổn, hiện tượng ghi nhớ không
chính xác, nhầm lẫn sự kiện này với sự kiện kia và nhớ không nhiều
Một số giáo viên còn dạy chay, nên nó làm tăng thêm sự hạn chế trong việc
nhận thức lịch sử của học sinh.
1.4 Tính tích cực học tập của học sinh trong hoạt động học tập
a. Quan niệm về tính tích cực học tập.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử xem tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con
người trong đời sống . Khác với động vật, con người không chỉ tiếp thu những gì sẵn
Lớp Địa – Sử 14 Trang
10
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
có trong tự nhiên mà còn chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội, sáng
tạo ra nền văn hoá ở mỗi thời đại.
Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu
của giáo dục nhằm tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển
cộng đồng, có thể xem tính tích cực như là một điều kiện, là kết quả của sự phát triển
nhân cách trẻ trong quá trình giáo dục.
Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động khác nhau: lao động, học
tập, TDTT, vui chơi giải trí, các hoạt động xã hội.
Tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều
mặt trong hoạt động học tập (L.V. Relrôra). Học tập là một trường hợp riêng của sự
nhận thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ
đạo của giáo viên (P.V. Grđơnier). Vì vậy nói tới tính tích cực học tập, thực chất là nói
tới tính tích cực của nhận thức.
Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh tập trung

học tập của mình. Thay cho mục đích trước kia là học để trở thành cán bộ nhà nước, có
việc làm ổn định suốt đời sẽ là học để chuẩn bị cho cuộc sống có việc làm ngày càng
tốt hơn. Thay cho tâm lí ỉ lại sẽ là sự tháo vát tự xoay sở, sự năng động tự tạo việc làm.
Cùng với những điều chỉnh trong xã hội về sử dụng lao động, tiền lương, đãi ngộ, khắc
phục tiêu cực ô dù, móc ngoặt thanh niên sẽ có ý thức được rằng học giỏi trong nhà
trường hứa hẹn thành đạt trong cuộc đời, phấn đấu trong học tập để có trình độ thực
lực là con đường tốt nhất để mỗi thanh niên đạt tới vị trí kinh tế xã hội phù hợp với
năng lực của mình. Với một tâm lí như vậy họ sẽ chủ động lao vào học tập không biết
mệt mỏi. Một đối tượng như vậy sẽ đòi hỏi nhà trường phải thay đổi nhiều về nội dung
phương pháp giáo dục để có những sản phẩm đào tạo với chất lượng ngày càng cao
hơn, cung cấp cho thị trường lao động.
1.5 Tác dụng của việc sử dụng tài liệu tham khảo và kênh hình
trong bài học lịch sử ở trường THCS.
Trong phương pháp dạy học lịch sử, nội dung của một sự kiện lịch sử được học
sinh nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh của quá khứ bằng những hoạt động của
tri giác và cảm giác. Trong sách giáo khoa lịch sử cũ kênh hình hầu như không được
chú trọng nếu có cũng chỉ để minh hoạ cho nội dung kênh chữ. Vì vậy khi giảng dạy
lịch sử người giáo viên chủ yếu sử dụng lời nói để tái tạo lại các sự kiện, hiện tượng
lịch sử nên giờ học thường trở nên nhàm chán và khô cứng.
Lớp Địa – Sử 14 Trang
12
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng của bộ môn Lịch sử và yêu cầu đổi
mới giáo dục, cũng như thực tiễn dạy học bộ môn, việc biên soạn sách giáo khoa lịch
sử trung học cơ sở có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp. Sách giáo khoa lịch
sử hiện nay được biên soạn không chỉ là tài liệu giảng dạy của giáo viên mà còn là tài
liệu học tập ở lớp và ở nhà của học sinh theo định hướng mới. Đó là, học sinh không
phải học thuộc lòng sách giáo khoa mà cần phải tìm tòi, nghiên cứu những sự kiện có
trong sách giáo khoa dưới sự tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên. Từ đó, các em
tự hình thành cho mình những hiểu biết mới về Lịch sử. Do đó, những thông tin trong

một mặt được trình bày dưới dạng nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ, mặt khác kèm theo
những thông tin là những câu hỏi, bài tập yêu cầu học sinh thực hiện các hoạt động học
tập khác nhau trong đó đặc biệt là sự giảm tải 25% số lượng kênh chữ tăng đáng kể số
lượng kênh hình.
Kênh hình trong sách giáo khoa không chỉ minh hoạ, làm cơ sở cho việc tạo
biểu tượng lịch sử mà còn là một nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh. Bên cạnh đó,
một số bài viết trong sách giáo khoa còn có nhiều nội dung để ngỏ, chưa viết hết, yêu
cầu học sinh thông qua làm việc với tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ…. Sẽ tìm tòi, khám phá
những kiến thức cần thiết liên quan đến nội dung bài học mà tác giả sách giáo khoa
muốn chuyển tải đến học sinh.
Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử gồm nhiều loại : bản đồ, sơ đồ, hình vẽ,
tranh ảnh lịch sử. Mỗi loại có một phương pháp sử dụng riêng. Song tựu trung lại, có
thể sử dụng trong bài kiến thức mới , củng cố kiến thức đã học, ra bài tập về nhà và
trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Riêng đối với hình vẽ, tranh ảnh
lịch sử lại có hai dạng: dùng để minh hoạ cho kênh chữ hoặc với tư cách là nguồn cung
cấp thông tin, kiến thức cho người học.
Do đặc điểm của học tập lịch sử là không trực tiếp quan sát các sự kiện nên vì
vậy đồ dùng trực quan nói chung và kênh hình trong sách giáo khoa nói riêng có vai trò
ý nghĩa rất quan trọng.
Trong dạy học lịch sử, phương pháp sử dụng kênh hình góp phần quan trọng tạo
biểu tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục được tình trạng “hiện đại
hoá” lịch sử của học sinh .
Kênh hình là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, hình thành
khái niệm lịch sử, nắm vững của sự phát triển của xã hội .
Lớp Địa – Sử 14 Trang
14
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
Kênh hình trong sách giáo khoa còn có vai tro to lớn trong việc giúp học sinh
nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc
biệt vững trắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực

+ Bản đồ tổng hợp
+ Bản đồ minh hoạ
* Sơ đồ lịch sử.
Sơ đồ nhằm cụ thể hoá nội dung, sự kiện bằng những hình học đơn giản, diễn tả
tổ chức một cơ cấu xã hội một chế độ chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử.
Ví dụ như sơ đồ: “Bộ máy công xã Pari 1871”
* Hình vẽ lịch sử.
Hình vẽ có giá trị như một tư liệu lịch sử, cung cấp hiểu biết về tư liệu lịch sử
* Tranh ảnh lịch sử
Tranh ảnh lịch sử lấy chủ đề về lịch sử như chân dung các nhân vật lịch sử,
quang cảnh lịch sử nhằm tạo biểu tượng, khôi phục lại hình ảnh con người, đồ vật,
biến cố, sự kiện một cách cụ thể, sinh động và khá sát thực .
2. Phương pháp sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử nhàm
phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THCS.
Muốn đổi mới cách học thì trước hết phải đổi mới cách dạy, phải xác định rõ vai
trò của thầy và trò trong dạy – học. Trong phương pháp đổi mới phải có sự kết hợp,
hợp tác của thầy – trò và có sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành
công. Tăng cường vận dụng các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn lịch sử để
phát huy tính tích cực của học sinh.
Trong sách giáo khoa lịch sử kênh hình gồm nhiều loại: Lược đồ, sơ đồ, tranh
ảnh, hình vẽ, … Trong một bài học có thể có một hoặc nhiều kênh hình vì vậy giáo
viên cần căn cứ vào mục đích yêu cầu của bài học, xác định loại kênh hình để có
những cách khai thác sử dụng phù hợp và có hiệu quả.
* Phương pháp sử dụng bản đồ, sơ đồ lịch sử.
Bản đồ, sơ đồ lịch sử là những kênh hình không thể thiếu được trong dạy học
lịch sử. Nhờ có bản đồ, sơ đồ mà học sinh có biểu tượng đúng đắn về hình ảnh địa lí,
địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử. Vì vậy khi giảng bài, giáo viên có thể không trình bày
tất cả nội dung trong sách giáo khoa mà lên hướng dẫn học sinh nhận biết các sự kiện
qua việc quan sát bản đồ. Giáo viên có thể đặt ra câu hỏi cho học sinh, những câu hỏi
mà chỉ có thể đọc được bản đồ mới trả lời được.

bày ngắn gọn nội dung lịch sử có trên lược đồ. Sau đó giáo viên lược thuật một cách
ngắn gọn nội dung.
Tranh ảnh, hình vẽ lịch sử có ý nghĩa to lớn là nguồn kiến thức lịch sử, có tính
giáo dục tính cách, phát triển tư duy học sinh. Sử dụng tốt loại kênh hình này sẽ phát
huy được tính tích cực học tập của học sinh tạo ra sự hứng thú trong quá trình nhận
Lớp Địa – Sử 14 Trang
17
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
thức. Vì vậy khi sử dụng kênh hình tranh ảnh, hình vẽ giáo viên cho học sinh quan sát
tranh ảnh, hình vẽ tương ứng với nội dung kiến thức có liên quan và đồng thời nên sử
dụng câu hỏi miêu tả hoặc tường thuật kiến thức lịch sử biểu hiện trong đó. Tuy nhiên
cũng cần dành thời gian để học sinh quan sát tranh ảnh, hình vẽ và động viên các em
nói lên những suy nghĩ, nhận thức của mình , qua quan sát tranh ảnh qua đó giáo viên
uốn nắn, hướng dẫn học sinh nhận thức. Trong những điều kiện có thể gợi ý, tạo ra các
cuộc thảo luận, tranh luận của các em khi quan sát một bức tranh hay hình vẽ nào đó.
Đối với các tranh ảnh về nhân vật lịch sử chúng ta cần hướng cho học sinh khi
quan sát và tạo nên các biểu tượng về nhân vật. Giúp các em không chỉ ở việc miêu tả
bề ngoài ( áo quần, hình dáng…) mà cần chú ý phân tích nội dung, tính cách, hành vi,
vai trò của nhân vật đó. Sử dụng chân dung phải nhằm mục đích giáo dưỡng, giáo dục.
Đối với các nhân vật chính diện cần khơi dậy ở các em lòng kính trọng, cảm phục, biết
ơn với những cống hiến cũng như tài trí của họ.
Đối với nhân vật phản diện hướng cho học sinh nhận xét những biểu hiện của
tính gian ác, tham lam, xảo huyệt của nhân vật ấy, không nên để học sinh bị thu hút về
hình thức của nhân vật mà quên đó là nhân vật phản diện.
Trong khi sử dụng chân dung, giáo viên phải phân tích, giải thích, hướng dẫn
cho học sinh không những hiểu được vai trò của nhân vật trong lịch sử, qua đó các em
tự đánh giá được nhân vật đó.
II. Sử dụng tài liệu tham khảo và sử dụng kênh hình trong dạy
học bài “Các quốc gia cổ đại phương Đông”
1. Thiết kế bài giảng “Các quốc gia cổ đại phương Đông”

1. Ổn định lớp.
2.Kiểm tra bài cũ.
- Bầy người nguyên thuỷ sống như thế nào?
- Đời sống của Người tinh khôn có những điểm nào tiến bộ hơn so với Người tối
cổ?
- Công cụ bằng kim loại đã có tác dụng như thế nào?
3.Giảng bài mới:
A. Phần mở bài:
Lớp Địa – Sử 14 Trang
19
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
Khi công cụ kim loại ra đời  sản xuất phát triển thì xã hội nguyên thuỷ tan rã,
xã hội có giai cấp và nhà nước ra đời. Những nhà nước đầu tiên đã được hình thành ở
phương Đông, các quốc gia này đều được hình thành trên lưu vực của những con sông
lớn có điều kiện thuận lợi và hình thành một loại hình xã hội riêng biệt, xã hội cổ đại
phương Đông.
B. Giảng nội dung bài mới:
Hoạt động của Thầy Hoạt động của Trò Nội dung
a. Hoạt động 1: Các quốc
gia cổ đại phương Đông đã
được hình thành ở đâu và
từ bao giờ?
Giáo viên hướng dẫn học
sinh quan sát bức tranh,
đồng thời giới thiệu cho học
sinh thấy những hình ảnh
khắc trên tường đá lăng mộ.
Sau đó giáo viên đặt ra một
số câu hỏi và yêu cầu học
sinh trả lời

- Hình thành vào cuối
thiên niên kỷ IV –
đầu thiên niên kỷ III
TCN.
Lớp Địa – Sử 14 Trang
20
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
- Nhờ có đất phù sa màu mỡ
và nước tưới đầy đủ, sản
xuất nông nghiệp cho năng
suất cao, lương thực dư
thừa.
F Vấn đề gì đã phát sinh?
F Kể tên các quốc gia cổ
đại phương Đông ?
b. Hoạt động 2: Xã hội cổ
đại phương Đông bao gồm
những tầng lớp nào?
Trước tiên giáo viên chi học
sinh quan sát hình ảnh bia
khắc luật Ham-mu-ra-bi
trong sách giáo khoa. Sau đó
giáo viên giới thiệu đôi nét
về bộ luật này và đặt ra các
câu hỏi yêu cầu học sinh trả
lời
F Xã hội cổ đại có những
tầng lớp nào?
- Cư dân chủ yếu làm nghề
nông  bộ phận đông đảo

21
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
F Cuộc sống của họ phụ
thuộc vào ai?
F Đứng đầu quan lại là ai?
F Hầu hạ vua, quý tộc là ai?
- Cho HS quan sát hình 9 và
tìm hiểu về bộ luật hamurabi
và thần Samat đang trao bộ
luật cho vua Hamuarabi.
F Em có nhận xét gì về đạo
luật này?
F Qua đạo luật,em nghĩ gì
về người cày có ruộng?
- Sự quan tâm của nhà nước
 khuyến khích sản xuất
nông nghiệp.
- Cày thuê ruộng phải có
trách nhiệm và nghĩa vụ đối
với ruộng cày cấy.
c. Hoạt động 3: Nhà nước
chuyên chế cổ đại phương
Đông
F Các nhà nước cổ đại
phương Đông do ai đứng
đầu đất nước ?
F Vua có quyền hành gì?
- Đứng đầu là Vua có quyến
lực tối cao trong các lĩnh
vực.

22
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
- Giải thích: ở mỗi nước vua
được gọi dưới các tên gọi
khác nhau:
+ Trung Quốc: thiên tử
+ Ai Cập: Pharaon
+ Lưỡng Hà: Ensi
F Giúp việc cho vua là tầng
lớp nào?
F Nhiệm vụ của quý tộc?
 Họ tham gia vào việc
chính trị và có quyền hành,
thậm chí lấn quyền vua.
F Em có nhận xét gì về bộ
máy hành chính của các
nước phương Đông?
-Tầng lớp quý tộc.
-Thu thuế, xây dựng cung
điện, đền tháp và chỉ huy
quân đội.
- Bộ máy hành chính từ
trung ương đến địa phương
còn đơn giản và do quý tộc
nắm giữ.
- Giúp việc cho vua là
tầng lớp quý tộc.
 Bộ máy hành
chính còn đơn giản và
do quý tộc nắm giữ.

cho vào sọt do hai người khiêng. Toàn bộ nửa dưới bức tranh miêu tả nội dung này.
Gặt hái xong, lúa được đem về nhà đập, xảy hạt lép,phơi khô và cất giữ để ăn dần
Từ việc đọc và phân tích bức tranh đá này kết hợp với những bức tranh khác, có
thể khẳng định ở cuối thế kỉ XVI TCN, kĩ thuật làm ruộng của người Ai Cập đã đạt đến
trình độ cao hơn. Vì vậy nâng suất lao động tăng lên và đại bộ phận dân cư đều tham
gia hoạt động sản xuất nông nghiệp-nền kinh tế chủ đạo của cư dân Ai Cập cổ đại nói
riêng và cư dân phương Đông nói chung.
Hình 9 – Bìa đá khắc luật Ham-mu-ra-bi (Lưỡng Hà)
Lớp Địa – Sử 14 Trang
24
GVHD: Phan Huy Hiền SVTH: Nguyễn Văn Sơn
Thông qua cách trình bày người giáo viên góp phần giúp cho học sinh nắm rõ
nội dung của hình ảnh
Nội dung
Năm 1901-1902, các nhà khảo cổ học Pháp đang khai quật ở một khu vực hoang
tàn của thành phố cổ Su-dơ, một người công dân đã cuốc phải một tảng đá. Họ đã cẩn
thận đào tảng đá đó lên. Đó là một cái cột tròn bằng đá lửa, cao gần 2 mét được các
nhà khoa học xác định là bìa đá khắc bộ luật của vua Ham-mu-ra-bi trị vì ở Babilon từ
năm 1792 đến năm 1750 TCN.
Bia được chia thành hai phần rõ rệt. Phần trên là hình trạm nổi khắc hình vua
Ham-mu-ra-bi mặc áo dài, đầu vấn khăn như người Ba Tư cổ, đứng trước vị thần Mặt
Trời. Vị thần ngồi trên ngai, đội mũ có sừng đang phê chuẩn bộ luật do vua Ham-mu-
ra-bi đặt ra và cho phép nhà vua thay mặt các vị thần thi hành pháp luật. Phần dưới của
bia chia làm nhiều ô khắc những điều luật do vua Ham-mu-ra-bi đặt ra cho Babilon.
Nội dung của bộ luật gồm 282 điều, đề cập đến hầu hết các vấn đề kinh vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của Vương quốc Babilon. Trong đó đặc biệt nhấn
mạnh đến quyền lực của nhà vua và công tác thủy lợi cũng như sản xuất nông nghiệp.
Đồng thời bộ luật cũng thể hiện sự công bằng, bình đẳng giữa con người với con
người.
Phương pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status