1. Lí do chọn đề tài
Trong sách giáo khoa lịch sử hiện nay kiến thức lịch sử không chỉ tập trung ở
kênh chữ mà còn cả ở kênh hình. Như vậy kênh hình trong dạy học lịch sử hiện nay
không chỉ được sử dụng giới hạn ở việc minh hoạ cho nội dung bài học mà là một
trong những nguồn cung cấp kiến thức lịch sử quan trong cho học sinh.
Do đó, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương
pháp dạy học lịch sử nói riêng đã được đề cập và đặt ra trong thực tiễn trong suốt
nhiều năm gần đây và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lí
giáo dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp. Tất cả đều khẳng định phải đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh.
Trong dạy học lịch sử, khai thác và sử dụng kênh hình là biện pháp quan trong
tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, gây hứng thú học tập hơn cho học
sinh. Đối với giáo viên khai thác sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa, không chỉ
làm cho bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn mà còn góp phần quan trong trong việc
tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh; phát triển ở học sinh kĩ
năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ; giáo dục tư tưởng cảm xúc, cảm
nghĩ ở học sinh. Đối với học sinh thông qua “làm việc” với bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ
các em sẽ hiểu sâu sắc hơn bản chất của sự kiện lịch sử, nắm vững các quy luật của sự
phát triển xã hội, nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hỉnh ảnh
được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh thu nhận bằng trực quan
Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để phát huy nâng cao hiệu quả
bài học lịch sử, phát huy tính tích cực học tập của học sinh, đó là một trong những
vấn đề đòi hỏi các nhà giáo dục hiện nay cần thực hiện để đạt hiệu quả cao. Vấn đề
đặt ra là sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh trong dạy học lịch sử góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử.
Mặc dù việc khai thác sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa là biện pháp
quan trong để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nhưng hiện nay vấn đề này vẫn
Trang
1
chưa được quan tâm một cách đầy đủ. Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, song
chủ yếu là:
mang lại hiệu quả tốt nhất trong giảng dạy ngươi giáo viên trước tiên cần nắm vững
những kiến thức cơ bản nhưng rất quan trọng, nó là tiền đề là bước khởi đầu cho sự
thành công trong công tác giảng dạy lịch sử trong thời kì công nghệ thông tin hiện đại
như ngày nay.
1.1 Khái niệm về quá trình dạy học .
Theo quan niệm cổ truyền : quá trình dạy học là tập hợp những hành động
liên tiếp, thâm nhập vào nhau của giáo viên và của học sinh dưới sự hướng dẫn của
giáo viên, nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống những cơ sở khoa học
và trong quá trình đó, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động,
hình thành thế giới quan và nhân sinh quan. Như vậy quá trình dạy học được hiểu là
một tập hợp những hoạt động của thây và trò, dưới sự hướng dẫn chủ đạo của giáo
viên nhằm giúp trò phát huy được nhân cách và nhờ đó mà đạt tới mục đích dạy học .
Theo quan niệm hiện nay, quá trình dạy học là một quá trình tương tác ( hợp
tác) giữa thầy và trò, trong đó thầy chủ đạo nhờ các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều
chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua
việc tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích
dạy học. Khái niệm nêu trên về quá trình dạy học sẽ được phân tích kỹ nhờ những
cách tiếp cận mới để vạch rõ bản chất của khái niệm.
1.2 Bản chất của quá trình dạy học .
Sự hiểu biết của con người chỉ có thể trở nên sâu sắc và có hiệu quả khi sự hiểu
biết đó không chỉ dừng lại ở những dấu hiệu mang tính hình thức bên ngoài của sự
vật hiện tượng khiến ai cũng có thể cảm nhận được bằng trực giác, mà cái khó hơn
Trang
3
chính là nhận biết, phát hiện được thực chất bên trong những gì cấu thành sự vật và
hiện tượng đó, quy định sự tồn tại, phát triển và tiêu vong của chúng.
a. Những cơ sở để xác định bản chất của quá trình dạy học .
Để xác định bản chất của quá trình dạy học, cần căn cứ vào mối quan hệ giữa
hoạt động nhận thức của loài người với hoạt động học tập của học sinh và mối quan
hệ giữa hoạt động dạy với hoạt động của học trong quá trình dạy học.
Trong quá trình học tập, học sinh có xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức,
kỹ năng do chương trình đã qui định.
Nhìn chung đa số học sinh không thoả mãn với nội dung những gì các em được
học trong chương trình, các em luôn nhạy cảm với cái mới, muốn học thêm, tự tìm
tòi, phát hiện cái mới muốn liên hệ lí luận với thực tiễn, muốn phát hiện và giải quyết
vấn đề bằng nhiều con đường, cách thức, phương án khác nhau, muốn được học thêm
những môn tự chọn, tuỳ chọn
Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và các
phương tiện kỹ thuật dạy học ngày càng hiện đại.
Cùng với sự đổi mới nội dung và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực học tập của học sinh, các nhà trường hiện nay cũng đã được trang bị khá đầy đủ
các phương tiện dạy học, nhờ vậy mà gây hứng thú cho học tập cho học sinh, giúp họ
lĩnh hội nhanh dễ dàng hơn những tri thức và vận dung linh hoạt sáng tạo tri thức đó
vào thực tiễn cuộc sống.
Từ sự phân tích các cơ sở trên, chúng ta nhận thấy, hoạt động học tập của học
sinh được tiến hành trong những điều kiện sư phạm nhất định có sự tổ chức , điều
khiển, hướng dẫn cụ thể của giáo viên thông qua việc lựa chọn nội dung, việc vận
dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ chức dạy học. Quá
trình nhận thức của học sinh trong học tập không phải diễn ra theo đường vòng,
những thử nghiệm sai lầm, những thất bại tất yếu thường xảy ra như trong nhận thức
khoa học
Trang
5
Vậy quá trình dạy học, về bản chất là quá trình nhận thức đặc biệt của học sinh
do giáo viên tổ chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông. Nói
cách khác, dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo
của giáo viên nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học.
1.3 Thực trạng quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.
Trong thời gian qua, nhất là từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới, coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu thì vai trò, vị trí của bộ môn lịch sử ở trường phổ
nghiệp vụ, đến nay hầu hết đã chuẩn hoá , một số còn vươn lên trình độ cao hơn để
đáp ứng nghiệp vụ , yêu cầu ngày càng cao của bộ môn . Địa vị của người giáo viên
Lịch sử trong trường phổ thông ngày càng có uy tín, được xã hội và học sinh tôn vinh.
- Bản thân học sinh ngày càng nhận thấy vai trò tác dụng của bộ môn trong
việc học tập, rèn luyện để trở thành con người có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết
để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đổi mới và hiện đại hoá đất nước.
Bên cạnh hoàn thành nhiệm vụ của bộ môn đã nêu trên chúng ta phải thừa nhận
rằng kết quả đó còn thấp so với yêu cầu ngày càng cao của xã hội, nhất là trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Do điều kiện khách quan và chủ quan chất lượng bộ môn lịch sử còn có những
biểu hiện giảm sút, thể hiện ở những điểm sau :
Không nhớ các sự kiện lịch sử hoặc nếu có nhớ thì không chính xác là hiện
tượng không chỉ ở một số ít học sinh. Không ít học sinh rất khó khăn trong việc nhớ
lịch sử dân tộc, nhưng lại rất nhạy bén trong việc nhớ tiểu sử, tính cách, thành tích
của một vận động viên, một ca sĩ mà các em yêu thích.
Cho đến nay, đa số học sinh vẫn còn quan niệm rằng học sử chỉ cần học thuộc
lòng, nên đã dẫn tới hậu quả đáng buồn. Khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp và
khả năng tìm hiểu nguyên nhân, bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử khả năng
xâu chuỗi các sự kiện lịch sử để tìm ra nét truyền thống, những bài học còn bị hạn chế
rất nhiều, do đó làm hạn chế hiệu quả giảng dạy và học tập của bộ môn .
Trang
7
Sự biết và hiểu lịch sử của học chủ yếu là lịch sử đấu tranh bảo vệ tổ quốc,
phần biết về lịch sử văn hoá, phong tục tập quán, lối sống của dân tộc qua các kỳ thi
lịch sử quả là còn hạn chế rất nhiều .
Có tình trạng nêu trên là do các nguyên nhân sau đây:
* Nguyên nhân khách quan
Cấu trúc của chương trình nhiều chỗ còn chưa hợp lí . Nhiều bài còn quá nặng
kiến thức trong khi đó số tiết lại cắt giảm
Việc sử dụng kênh hình đôi khi còn chưa phù hợp. Có giáo viên còn ngại sử
Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu
của giáo dục nhằm tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển
cộng đồng, có thể xem tính tích cực như là một điều kiện, là kết quả của sự phát triển
nhân cách trẻ trong quá trình giáo dục.
Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động khác nhau: lao động,
học tập, TDTT, vui chơi giải trí, các hoạt động xã hội.
Tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều
mặt trong hoạt động học tập (L.V. Relrôra). Học tập là một trường hợp riêng của sự
nhận thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự
chỉ đạo của giáo viên (P.V. Grđơnier). Vì vậy nói tới tính tích cực học tập, thực chất
là nói tới tính tích cực của nhận thức.
Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh tập
trung ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững
kiến thức . Khi nắm vững kiến thức, học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã
trải qua trong nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có cố gắng trí tuệ.
b. Những dấu hiệu và cấp độ biểu hiện tích cực học tập.
Học sinh khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ
sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.
Trang
9
Học sinh hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo viên
trình bày chưa rõ.
Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để
nhận thức các vấn đề mới.
Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới
lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy còn có những biểu
hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc
nhiên, buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra lời giải thích
hay cho một bài tập khó .
dạy lịch sử người giáo viên chủ yếu sử dụng lời nói để tái tạo lại các sự kiện, hiện
tượng lịch sử nên giờ học thường trở nên nhàm chán và khô cứng.
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng của bộ môn Lịch sử và yêu cầu
đổi mới giáo dục, cũng như thực tiễn dạy học bộ môn, việc biên soạn sách giáo khoa
lịch sử trung học cơ sở có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp. Sách giáo khoa
lịch sử hiện nay được biên soạn không chỉ là tài liệu giảng dạy của giáo viên mà còn
là tài liệu học tập ở lớp và ở nhà của học sinh theo định hướng mới. Đó là, học sinh
không phải học thuộc lòng sách giáo khoa mà cần phải tìm tòi, nghiên cứu những sự
kiện có trong sách giáo khoa dưới sự tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên. Từ
đó, các em tự hình thành cho mình những hiểu biết mới về Lịch sử. Do đó, những
thông tin trong sách giáo khoa một mặt được trình bày dưới dạng nêu vấn đề để học
sinh suy nghĩ. Mặt khác, kèm theo những thông tin là những câu hỏi, bài tập yêu cầu
học sinh thực hiện các hoạt động học tập khác nhau, trong đó đặc biệt là sự giảm tải
25% số lượng kênh chữ, tăng đáng kể số lượng kênh hình. Kênh hình trong sách giáo
khoa không chỉ minh họa, làm cơ sở cho việc tạo biểu tượng Lịch sử mà còn là một
nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh. Bên cạnh đó, một số bài viết trong sách giáo
Trang
11
khoa còn có nhiều nội dung để ngỏ, chưa viết hết, yêu cầu học sinh thông qua làm
việc với tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, sẽ tìm tòi, khám phá những kiến thức cần thiết liên
quan đến nội dung bài học mà tác giả sách giáo khoa muốn truyền tải đến học sinh.
Hiện nay, sách giáo khoa bên cạnh việc khai thác nội dung lịch sử thông qua
kênh chữ, bên cạnh đã rất chú trọng đến kênh hình. Điều đó được thể hiện thông qua
số lượng kênh hình tăng lên đáng kể so với trước, hơn nữa kênh hình trong sách giáo
khoa hiện hành không chỉ giới hạn ở việc minh hoạ cho nội dung bài học mà nó
thường chứa đựng những kiến thức lịch sử quan trọng đòi hỏi học sinh phải nắm được
thông qua “làm việc” với kênh hình. Vì vậy, khi giảng dạy lịch sử đòi hỏi người giáo
viên không chỉ sử dụng lời nói mà còn sử dụng những hình ảnh trực quan của quá khứ
để tái tạo lại lịch sử nên giờ học trở nên sinh động và hấp dẫn hơn đối với học sinh.
Đó cũng là những yêu cầu đòi hỏi người giáo viên thời buổi công nghệ phải đáp ứng
tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục được tình trạng
“hiện đại hoá” lịch sử của học sinh .
Kênh hình là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, hình thành
khái niệm lịch sử, nắm vững của sự phát triển của xã hội .
Kênh hình trong sách giáo khoa còn có vai tro to lớn trong việc giúp học sinh
nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc
biệt vững trắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực
quan.
Cùng với góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm, kênh hình còn góp
phần vào việc phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ của học
sinh.
Nhìn vào kênh hình học sinh sẽ hình dung ra được quá khứ lịch sử được phản
ánh, minh hoạ như thế nào. Học sinh suy nghĩ và tìm cách diễn đạt bằng lời nói chính
xác có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua.
Kênh hình còn góp phần to lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, cảm xúc
thẩm mĩ trong học sinh.
Trang
13
Với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển nêu trên, kênh hình góp
phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học lịch sử gây hứng thú học tập cho học sinh,
nó là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại.
Do vậy khi sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử đòi hỏi giáo viên
khi sử dụng phải linh hoạt, sáng tạo . Vì vậy giáo viên phải chuẩn bị chu đáo và nhất
là phải có phương pháp phù hợp với từng loại kênh hình sao cho phù hợp với từng
kiểu bài khi lên lớp .
b. Các loại kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử ở THCS
Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử ở THCS gồm các loại sau:
* Bản đồ lịch sử.
- Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không
gian xác định Đồng thời bản đồ lịch sử còn giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các
những cách khai thác sử dụng phù hợp và có hiệu quả.
* Phương pháp sử dụng bản đồ, sơ đồ lịch sử.
Bản đồ, sơ đồ lịch sử là những kênh hình không thể thiếu được trong dạy học
lịch sử. Nhờ có bản đồ, sơ đồ mà học sinh có biểu tượng đúng đắn về hình ảnh địa lí,
địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử. Vì vậy khi giảng bài, giáo viên có thể không trình bày
tất cả nội dung trong sách giáo khoa mà lên hướng dẫn học sinh nhận biết các sự kiện
qua việc quan sát bản đồ. Giáo viên có thể đặt ra câu hỏi cho học sinh, những câu hỏi
mà chỉ có thể đọc được bản đồ mới trả lời được.
Như vậy bản đồ, sơ đồ giúp học sinh có lựa chọn đúng đắn về không gian, hoàn
cảnh địa lí xảy ra sự kiện, ghi nhớ địa danh gắn liền với những đặc điểm điều kiện tự
nhiên, cụ thể hoá sự kiện lịch sử. Bản đồ còn góp phần phát triển óc quan sát, trí
tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cũng như tính tích cực hoạt động của học sinh. Nhìn
vào bất cứ bản đồ lịch sử nào học sinh cũng thích nhận xét, phán đoán, hình dung
Trang
15
những hiện tượng lịch sử được phản ánh, suy nghĩ và diễn đạt bằng lời nói chính xác,
rõ ràng, cụ thể những hiện tượng lịch sử đã qua.
Lược đồ gợi ý học sinh quan sát, khai thác nội dung bằng những câu hỏi gợi ý
để học sinh nắm được nội dung lịch sử trên lược đồ. Cuối cùng giáo viên lược thuật
một cách ngắn gọn để học sinh hiểu nội dung lịch sử trên lược đồ.
*PhƯơng pháp sử dụng tranh ảnh, hình vẽ, chân dung lịch sử.
Hình vẽ, tranh, ảnh trong sách giáo khoa là một phần của đồ dùng trực quan
trong quá trình dạy học. Nó có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là phương tiện trực
quan có giá trị giúp bài học trở nên sinh động, hấp trong sách giáo khoa là phương
tiện trực quan rất quan trọng trong dạy học lịch sử. Nó không chỉ góp phần quan
trọng tái tạo lại cho học sinh những hình ảnh lịch sử với các nét điển hình đặc trưng
nhất mà còn khắc phục được tình trạng nhầm lẫn, hiện đại hoá lịch sử của học sinh.
Trên lược đồ các sự kiện luôn được thể hiện trong một không gian, thời điểm, địa
điểm cùng một số yếu tố địa lí nhất định. Đối với học sinh việc sử dụng lược đồ
không những chỉ để ghi nhớ, xác định vị các địa điểm lịch sử mà còn để hiểu rõ nội
về hình thức của nhân vật mà quên đó là nhân vật phản diện.
Trong khi sử dụng chân dung, giáo viên phải phân tích, giải thích, hướng dẫn
cho học sinh không những hiểu được vai trò của nhân vật trong lịch sử, qua đó các em
tự đánh giá được nhân vật đó.
II. Sử dụng tài liệu tham khảo và sử dụng kênh hình trong dạy học bài
“Các quốc gia cổ đại phương Đông”
1. Thiết kế bài giảng “Các quốc gia cổ đại phương Đông”
Tiết 4: CÁC QUỐC GIA CỔ ĐẠI PHƯƠNG ĐÔNG
Trang
17
I-MỤC TIÊU BÀI HỌC :
1.Kiến thức:
Học sinh cần nắm
- Sau khi xã hội nguyên thủy tan rã, xã hội có giai cấp và nhà nước ra đời.
- Những nhà nước đầu tiên đã được hình thành ở phương Đông, bao gồm Ai
Cập, Lưỡng Hà, An Độ và Trung Quốc từ cuối thiên niên kỷ IV – đầu thiên niên kỷ
III Tr.CN
- Nền tảng kinh tế, thể chế nhà nước ở các quốc gia này.
2. Về tư tưởng, tình cảm:
- Xã hội cổ đại phát triển cao hơn xã hội nguyên thuỷ nhưng cũng là thời đại
bắt đầu cố giai cấp.
- Bước đầu ý thức về sự bất bình đẳng, sự phân chia giai cấp trong xã hội và về
nhà nước chuyên chế.
3.Về kỹ năng:
Bước đầu hình thành các khái niệm về các quốc gia cổ đại.
4.Trọng tâm:
- Nhà nước ra đời từ bao giờ ?
- Xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp.
- Những thành tựu văn hoá và kiến trúc thời cổ đại.
II- ĐỒ DÙNG DẠY HỌC :
sinh quan sát bức tranh,
đồng thời giới thiệu cho
học sinh thấy những hình
ảnh khắc trên tường đá
lăng mộ. Sau đó giáo viên
đặt ra một số câu hỏi và
yêu cầu học sinh trả lời
F Các quốc gia ấy ra đời
Học sinh quan sát, kết
hợp lời giáo viên giảng
với quan sát bức tranh,
hình ảnh khắc trên lăng
mộ và trả lời các câu hỏi
giáo viên đặt ra
- Các lưu vực sông lớn
1. Các quốc gia cổ
đại phương Đông
đã được hình
thành ở đâu và từ
bao giờ?
- Hình thành trên
Trang
19
ở đâu? Từ bao giờ?
F Tại sao lại ra đời ở các
dòng sông lớn?
F Họ sống bằng nghề nào
là chính?
F Muốn cho nông nghiệp
đạt năng suất cao họ đã
ảnh mà giáo viên hướng
dẫn khai thác kiến thức kết
hợp trả lời các câu hỏi
giáo viên đã đặt ra
lưu vực các con
sông lớn.
- Hình thành vào
cuối thiên niên kỷ
IV – đầu thiên niên
kỷ III TCN.
2. Xã hội cổ đại
phương Đông bao
gồm những tầng
lớp nào?
Trang
20
đôi nét về bộ luật này và
đặt ra các câu hỏi yêu cầu
học sinh trả lời
F Xã hội cổ đại có những
tầng lớp nào?
- Cư dân chủ yếu làm
nghề nông bộ phận
đông đảo nhất và là lực
lượng sản xuất chính của
xã hội.
F Nghĩa vụ của nông
dân ?
F Cuộc sống của họ phụ
thuộc vào ai?
Có 3 tầng lớp cơ
bản:
- Nông dân công xã:
chiếm số đông, giữ
vai trò chủ yếu
trong sản xuất.
- Quý tộc: có nhiều
của cải và quyền
thế.
- Nô lệ: phục dịch
cho quý tộc.
nô lệ, dân nghèo
Trang
21
đạo luật này?
F Qua đạo luật,em nghĩ
gì về người cày có ruộng?
- Sự quan tâm của nhà
nước
khuyến khích sản xuất
nông nghiệp.
- Cày thuê ruộng phải có
trách nhiệm và nghĩa vụ
đối với ruộng cày cấy.
c. Hoạt động 3: Nhà
nước chuyên chế cổ đại
phương Đông
F Các nhà nước cổ đại
phương Đông do ai đứng
đầu đất nước ?
chuyên chế)
- Giúp việc cho vua
là tầng lớp quý tộc.
Trang
22
F Nhiệm vụ của quý tộc?
Họ tham gia vào việc
chính trị và có quyền
hành, thậm chí lấn quyền
vua.
F Em có nhận xét gì về
bộ máy hành chính của
các nước phương Đông?
- Bộ máy hành chính từ
trung ương đến địa
phương còn đơn giản và
do quý tộc nắm giữ.
Bộ máy hành
chính còn đơn giản
và do quý tộc nắm
giữ.
C. Kết luận toàn bài:
Cũng do nhu cầu sản xuất nông nghiệp và trị thuỷ các dòng sông mà ở
phương Đông đã xuất hiện các quốc gia chuyên chế cổ đại, trong đó vua là người
đứng đầu, do các yếu tố về kinh tế – xã hội, chính trị đã tạo thành một xã hội riêng
biệt – xã hội cổ đại phương Đông.
4. Củng cố:
- Kể tên các quốc gia cổ đại phương Đông ?
- Xã hội cổ đại phương Đông bao gồm những tầng lớp nào ?
- Ở các nước phương Đông, nhà vua có quyền hành gì ?
Trang
24
Thông qua cách trình bày người giáo viên góp phần giúp cho học sinh nắm rõ
nội dung của hình ảnh
Nội dung
Năm 1901-1902, các nhà khảo cổ học Pháp đang khai quật ở một khu vực
hoang tàn của thành phố cổ Su-dơ, một người công dân đã cuốc phải một tảng đá. Họ
đã cẩn thận đào tảng đá đó lên. Đó là một cái cột tròn bằng đá lửa, cao gần 2 mét
được các nhà khoa học xác định là bìa đá khắc bộ luật của vua Ham-mu-ra-bi trị vì ở
Babilon từ năm 1792 đến năm 1750 TCN.
Bia được chia thành hai phần rõ rệt. Phần trên là hình trạm nổi khắc hình vua
Ham-mu-ra-bi mặc áo dài, đầu vấn khăn như người Ba Tư cổ, đứng trước vị thần Mặt
Trời. Vị thần ngồi trên ngai, đội mũ có sừng đang phê chuẩn bộ luật do vua Ham-mu-
ra-bi đặt ra và cho phép nhà vua thay mặt các vị thần thi hành pháp luật. Phần dưới
của bia chia làm nhiều ô khắc những điều luật do vua Ham-mu-ra-bi đặt ra cho
Babilon.
Nội dung của bộ luật gồm 282 điều, đề cập đến hầu hết các vấn đề kinh vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của Vương quốc Babilon. Trong đó đặc biệt nhấn
mạnh đến quyền lực của nhà vua và công tác thủy lợi cũng như sản xuất nông nghiệp.
Đồng thời bộ luật cũng thể hiện sự công bằng, bình đẳng giữa con người với con
người.
Phương pháp
3. Minh họa việc sử dụng
Hình 8 – Tranh khắc trên tường đá một lăng mộ ở Ai Cập thế kỉ XIV
TCN
Ở hình này giáo viên sử dụng để giảng dạy mục 1- Các quốc gia cổ đại phương
Đông được hình thành ở đâu và từ bao giờ? Đặc biệt là khi dạy về đời sống kinh tế
của các quốc gia này.
Trang
25