sự thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm bạc liêu - Pdf 24



class="bi x0 y17 w1 h6"

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI Hà nội – 2005
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy, các cô khoa Tâm lý – Giáo
dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập
và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin thành thật cảm ơn thầy Nguyễn Thạc đã
tận tình giúp đỡ em một cách chu đáo trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này !
Tôi xin cảm ơn các thầy, các cô trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu
cùng toàn thể các sinh viên của trường đã giúp đỡ tôi thực hiện việc điều tra
nghiên cứu trong quá thực hiện luận văn này.


ngừng phát triển về trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ . Nhờ có nó mà mỗi chúng ta có thể cập nhật kịp thời những tri thức về
các lĩnh vực văn hóa khoa học kỹ thuật và cuộc sống đang phát triển một cách hết
sức nhanh chóng và mạnh mẽ, mét sù phát triển như vũ bão về khoa học kỹ thuật.
Vì vậy nghiên cứu khoa học là một điều kiện cần thiết để chúng ta sống và tham
gia các hoạt động một cách sáng tạo, một cách có hiệu quả.
Thứ hai, hoạt động nghiên cứu khoa học có tác dụng rút ngắn thời gian
học tập của mỗi cá nhân, rút ngắn thời gian đào tạo của nhà trường. Nếu làm tốt
công tác này thì quá trình đào tạo sẽ nhanh chóng trở thành quá trình tự đào tạo.
Kết qủa của quá trình giáo dục và đào tạo phụ thuộc nhiều vào khả năng nghiên
cứu khoa học của thầy và trò trong công tác giáo dục.
Thứ ba, đối vối người giáo viên, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu
khoa học lại càng được khảng định rõ, lại càng có vai trò đặc biệt qyan trọng. Để
có khả năng nghiên cứu khoa học thì bản thân mỗi người thầy, người hướng dẫn
những bước đi ban đầu cho thế hệ tương lai của xã hội phải biết nghiên cứu khoa
học và phải biết làm tốt công việc này, phải biết thể hiện và sử dụng nã ngay trong
hoạt động giảng dạy và giáo dục của mình đối với học sinh. Hoạt động nghiên cứu
khoa học luôn bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy của người giáo viên và hoạt
động học tập của học sinh. Công việc này của người giáo viên đòi hỏi phải được
hình thành, được thích ứng càng sớm càng tốt, đặc biệt là ngay từ khi còn là sinh
viên trong các trường sư phạm. Sự thích ứng là một điều kiện cơ bản để đảm bảo
cho sù thành công trong mọi hoạt động của con người.
Để cho các sinh viên sư phạm sớm thích ứng với hoạt động nghiên cứu
khoa học một cách thuận lợi thì đòi hỏi người giáo viên sư phạm không chỉ biết
nghiên cứu khoa học, nhiệt tình hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu khoa học
mà còn đòi hỏi người giảng viên sư phạm phải biết, phải nắm thực trạng sự

thích ứng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và những nguyên
nhân của thực trạng đó một cách có cơ sở.
Đối với các trường vùng xa, vùng sâu nơi Ýt có hoàn cảnh học tập qua các

trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu có thể là chưa cao và có sự khác biệt về mức
độ giữa những sinh viên ở các khoa khác nhau, nhưng nếu có biện pháp tác động
thích hợp và có sù quan tâm hướng dẫn học tập, nghiên cứu tốt thì sinh viên cao
đẳng sư phạm cũng có khả năng thích ứng tốt đối với hoạt động này.
5 / KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Khách thể nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu trên 291 sinh viên năm thứ III
ở các khoa sư phạm cấp II của Trường C. Đ. S. P tỉnh Bạc - Liêu năm học 2004-
2005 và 26 giảng viên của trường tham gia hướng dẫn sinh viên thực tập và làm
bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục cuối khoá.
Đối tượng nghiên cứu : Sù thích ứng của sinh viên với hoạt động nghiên
cứu khoa học.
6 / PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :
Đề tài chỉ tiến hành tìm hiểu nghiên cứu trên những sinh viên năm thứ III
và những giảng viên hướng dẫn của Trường Cao đẳng Sư phạm Bạc - Liêu trong
năm học 2004 - 2005 và mét sè năm học trước đó. Việc nghiên cứu được tiến hành
chủ yếu qua việc học tập chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và
việc làm bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục cuối khoá của sinh viên.
7 / PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Phương pháp điều tra.
Phương pháp thống kê toán học.
8 / CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI :

Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề thích ứng của sinh viên cao đẳng
sư phạm đối với hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục. Đề tài cũng góp phần
chỉ ra mét sè biện pháp nhằm nâng cao thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa
học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường Cao dẳng Sư phạm và có thể
được áp dụng các biện pháp đó vào công tác đào tạo của các trường cao đẳng và
đại học sư phạm trong những điều kiện giảng dạy và học tập tương tự.

tiêu biểu với những công trình lớn nghiên cứu về thích ứng trong lịch sử của Tâm
lý học thế giới:
H. Spencer (1820-1903) đã nghiên cứu sự thích ứng trên mối quan hệ mật
thiết giữa con người với môi trường sống. Đó chính là mối quan hệ giữa các yếu tố
bên trong và bên ngòai của con người. Ông đã chú ý nghiên cứu quy luật của sự
thích ứng tâm lý , theo ông thì đó là chọn lọc tự nhiên.
J. Watson (1878-1958), mét nhà tâm lý học hành vi đã cho rằng đứng ở góc
độ thích ứng, cuộc sống của con người là tổng hợp nhiều hành vi khác nhau nhằm
mục đích giúp họ thích nghi được với môi trường sống.
S. Freud (1856-1939), người đại diện cho thuyết Phân tâm học, thì cho rằng
khả năng thích ứng với cuộc sống cá nhân chỉ thể hiện được khi “Cái tôi” có thể
điều hòa được mâu thuẫn giữa cái trung tính và cái “Siêu tôi” .
E.A. Ecmoleava lại chú ý tới thích ứng như là quá trình thích nghi của con
người bắt đầu lao động với các đặc điểm và điều kiện lao động trong mét tập thể
nhất định.
Với nhà tâm lý học A.I. Secbacop và A.V. Mudric thì thích ứng lại được hiểu
là quá trình thích nghi với điều kiện thực tế của hoạt động thể hiện khi con người
mới tham gia họat động trong lĩnh vực nhất định.
Nhìn chung, các tác giả đều chú ý tới bản chất của vấn đề thích ứng và các
lọai hình thích ứng trong thực tiễn. Họ tìm hiểu mối quan hệ giữa con người với
những yếu tố của hoàn cảnh sống cụ thể.
Ở Việt Nam, thích ứng cũng đã được xem xét từ lâu dưới những góc độ khác
nhau. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, nhiều công trình là các luận văn sau
đại học và nghiên cứu chủ yếu trên bình diện thực tiễn. Có thể kể ra mét sè công
trình tiêu biểu:
“ Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng trường đại học của sinh viên khoa Tâm lý-
Giáo dục” năm 1982 Của Nguyễn Thị Trang.
“Thích ứng học tập của sinh viên” Năm 1983 của Hoàng Trần Doãn.

“Tìm hiểu sự thích ứng với đời sống tập thể” của Lã Văn Mến, năm 1987.

nhiều góc độ khác nhau, có nhiều quan điểm khác nhau. Ở đây, khái niệm thích
ứng chỉ được bàn đến chủ yếu ở góc độ tâm lý học và trong phạm vi thích ứng với
hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, để làm rõ vấn đề, cần làm sáng tỏ thêm
mét sè khái niệm cơ bản của thích ứng ở góc độ Tâm lý học, cần phân biệt sự khác
nhau cơ bản giữa hai khái niệm thích ứng và thích nghi:
1. Theo quan điểm truyền thống của xã hội thì thích ứng được xem như là
một khả năng tự nhiên của con người giúp cho họ có thể họat động đạt kết quả tốt
trong mét lĩnh vực hoạt động nhất định, trong mét điều kiện sống nhất định. Khả
năng này là cấu trúc những đặc điểm tâm sinh lý có sẵn, mang tính tương đối ổn
định ở mỗi cá nhân khác nhau. Đó là những đặc điểm thuận lợi cho họat động sống
của cá nhân trong những hoàn cảnh nhất định. Trước một cá nhân có sẵn những
đặc điểm thuận lợi cho cuộc sống thì người ta thường nói “Thằng này vứt bụi tre
còng sống!”. Đó là lời nhận xét cho mét đứa trẻ xem ra họ có những đặc điểm tâm
sinh lý thuận lợi, có khả năng thích ứng cao với điều kiện cuộc sống vật chất cũng
như xã hội hiện tại. Như vậy, theo quan điểm truyền thống thì thích ứng là những
đặc điểm tâm sinh lý riêng sẵn có của cá thể, nó có được hình thành một cách tự
nhiên, không cần học tập, rèn luyện. Việc học tập và rèn luyện trong môi trường cụ
thể sẽ có tác dụng củng cố, phát triển những khả năng vốn có của cá nhân.
chúng ta dễ nhận thấy quan niệm như vậy thì thích ứng gần nghĩa với tư
chất. Thực tế thì tư chất và năng lực, khả năng hoạt động có mối quan hệ nhất định
với nhau, nhưng tư chất không phải là cái quyết định năng lực. Người có tư chất tốt
chưa hẳn sẽ hình thành năng lực tốt nếu không được học tập, rèn luyện đúng
phương pháp. Ngược lại, người có năng lực phát triển tốt chưa hẳn là người vốn có
tư chất tốt. Chính vì vậy, trong thực tế, có cá nhân sinh ra đã được mang sẵn những
đặc điểm thuận lợi cho họat động nhưng nó vẫn bị thui chét do sù rèn luyện sai
phương pháp. Ngược lại, trong cuộc sống, trong họat động, nhiều cá

nhân hình thành được, nảy sinh được những đặc điểm thuận lợi mà khi sinh
ra vốn không có sẵn những yếu tố tư chất cần thiết.
Tóm lại, những người theo quan điểm này đã phủ nhận tính tích cực hoạt

là quá trình hình thành phản xạ có điều kiện. Nó là hiện tượng sinh lý chứ không
phải hiện tượng tâm lý. “Theo J. Watson, việc học diễn ra bằng phương pháp điều
kiện hóa: nhờ lặp đi lặp lại phản ứng cơ bắp được gắn với các kích thích nhất
định, kìch thích này sau đó sẽ gây ra phản ứng. Ông cho rằng, các quy luật lĩnh
hội kinh nghiệm ở động vật và ở con người là như nhau, còn kinh nghiệm – sù
thích ứng sinh học bị tước mất ý nghĩa và nội dung tâm lý. ” [9,89].Ông chưa thấy
rõ bản chất tâm lý của thích ứng ở con người.
Mét nhà tâm lý học Hành vi người Mĩ là B.F. Skinner, người đã từng được
coi “là nhà tâm lý học Mĩ nổi tiếng nhất trên thế giới” [9,123]. Ông đã trực tiếp kế
thừa, phát triển quan điểm của Watson và đã đưa ra khái niệm Hành vi xã hội. Ông
cho rằng cái cơ bản trong hành vi xã hội của con người là sự thích nghi của cá thể
trên cơ sở các phản ứng để cân bằng với môi trường sống.
Theo Skinner thì: “Bằng cách thay đổi hoàn cảnh mà chúng tôi thay đổi
cách nhìn nhận sự vật của con người chứ chúng tôi không thay đổi cái gọi là nhận
biết. Chúng tôi thay đổi cường độ của trả lời bằng cách sử dụng các phản ứng
khác nhau chứ không thay đổi cái gọi là coi trọng điều này hơn điều kia. chúng tôi
thay đổi xác xuất các cử động bằng cách thay đổi các điều kiện thỏa mãn nhu cầu
hay làm mất đi các lích thích khó chịu chứ không thay đổi nhu cầu. Chúng tôi củng
cố hành vi bằng con đường đặc biệt chứ không gán cho con người ý định hay
phương hướng. Chúng tôi thay đổi hành vi bằng cách thay đổi phương hướng của
hành vi tới vật thể chứ không bằng lập trường đối với vật thể” [5,61]. Theo
Skinner thì ở động vật và cả ở người đều có 3 dạng hành vi: hành vi không điều
kiện, hành vi có điều kiện và hành vi tạo tác gắn với tên tuổi những người phát
hiện ra chóng: I. Pavlov và B. F. Skinner [9,127]. Mặc dù Skinner đã kế thừa và
phát triển quan niệm của của nhà tâm lý học hành vi là

Watson, nhưng ông và các nhà Hành vi học vẫn có sai lầm là đã đánh đồng
con người với con vật trong quá trình hình thành hành vi, kinh nghiệm sống. Với
quan niệm của Tâm lý học hành vi thì sự thích ứng được hiểu là sù quy định một
chiều từ hoàn cảnh sống tới cá thể. Người có khả năng thích ứng là người có được

chọn. Số giảng viên này cùng ngồi nghe giảng với sinh viên trong quá trình
giảng viên Tâm lý học lên lớp phần lý thuyết chuyên đề Phương pháp nghiên cứu
khoa học giáo dục và hướng dẫn sinh viên làm bài tập nghiên cứu khoa học giáo
dục cuối khoá. Việc giảng viên cùng sinh viên nghe báo cáo như vậy để đảm bảo
sự
: K là điểm kỹ năng.
Điểm thích ứng (Q) cũng được chia thành ba mức : “TỐT” , “TRUNG
BÌNH” và “YẾU”. với các điểm số được tính tương tự như các mức đã tính ở trên
với mặt nhận thức, thái độ và kỹ năng.
Điểm bài làm của sinh viên cũng được coi là kết quả của sự thích ứng. Điểm
thích ứng và điểm bài làm của sinh viên được xem xét trong mối tương quan với
nhau theo công thức hệ số tương quan của Spearson để xác định mối
Thứ sáu : - Lựa chọn vấn đề nghiên cứu.
- Lựa chọn các phương pháp nghiên cứu.
- Vận dụng các phương pháp nghiên cứu.
Thứ bảy (thấp nhất): Viết kết quả nghiên cứu (Bài viết hoàn chỉnh)
Như vậy, nếu tính theo thứ tự những công việc cần thực hiện thì càng những
công việc về sau, sinh viên càng khó nhận thức hơn. Mức độ khó của công việc đã
tăng dần theo thứ tự và thời gian. Điểm trung bình cho phần nhận thức của tất cả
sinh viên là 2.0, đạt mức trung bình. Ta thấy sinh viên tỏ ra khó hiểu những công
việc có liên quan đến thực tiễn hơn những công việc mang tính lý luận. Điều này
cho thấy sinh viên chỉ được tiếp xúc với lý thuyết nhiều nhưng vẫn lại xa rời với
thực tiễn cuộc sống và hoạt động.
Tóm lại sinh viên có khả năng nhận thức tương đối tốt về các công việc cụ
thể của quá trình làm bài tập nghiên cứu khoa học cuối khoá. Việc nhận thức của
sinh viên về các công việc này có chịu ảnh hưởng bởi hoạt động dạy học các môn
học, bởi sù quan tâm của các các bộ giảng dạy bộ môn ở nhà trường sư phạm.
2 . Thái độ đối với hoạt động nghiên cứu khoa học
của sinh viên.
Thái độ của sinh viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa học cũng là một

của các thầy, các cô cũng gặp nhiều trở ngại do không đúng chuyên môn, không
đúng trách nhiệm.
* Việc dạy học của giảng viên nhà trường nói chung ở nhiều phân môn kể cả
chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học vẫn theo phương pháp thầy
chưa thật sự chú ý đến tình hình thực tế của sinh viên, cho thấy sự chưa
đồng bộ trong tổ chức và hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu. Sinh
viên được quan tâm, nhắc nhở nhiều về thái dộ, về tri thức nhưng lại Ýt có điều
kiện để được thực hành, để tiếp xúc với thực tế cuộc sống. Trong việc đào tạo
ngành nghề ngày nay, điều kiện thực hành của sinh viên ở trường sư phạm vẫn còn
nhiều hạn chế. Mặc dù trường Cao đẳng sư phạm cũng đã có trường thực hành sư
phạm nhưng nó lại vẫn nằm ngoài mối quan hệ cần thiết với nhà trường, với sinh
viên.
Khả năng thích ứng của sinh viên với hoạt động nghiên cứu khoa học phụ
thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau trong đó có những yếu
tố thuộc phạm vi hoạt động của trường, có những yếu tố thuộc khả năng, thái độ và
nhận thức của đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường. Điều kiện học tập và

Kết luận

1. Kết luận.
Tõ việc phân tích kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên, có thể rút ra
mét sè kết luận sau:
1. Sù thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và sự thích
ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên cao đẳng sư phạm nói riêng
có mét ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả lao động, với giảng dạy và học tập,
nhưng nó lại là một vấn đề còn rất Ýt được quan tâm, nghiên cứu.
Nhờ vậy mà hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đuợc định

e) Nhà trường cần bố trí thời gian và hoạt động hợp lý cho sinh viên tập làm
quen với những công việc cụ thể của hoạt động nghiên cứu khoa học có sự kết hợp
giữa yêu cầu của chương trình đã quy định với tình hình thực tế của trường, của địa
phương.
g) Nhà trường phải đặc biệt coi trọng và quan tâm đến công tác nghiên cứu
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường. Đây phải là mét trong những
hoạt động trọng tâm của trường, nó không chỉ thể hiện trình độ chuyên

Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bernhard Muszynski. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Tài
liệu dùng cho học viên cao học. ĐHSP Hà Nội - 2003
2. Phạm Hoàng Gia . Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.Nhà
xuất bản giáo dục - 1972.
3. Golomoste A.E. Quan niệm giáo dục và lý thuyết về sự thích hợp
nghề nghiệp. N.X.B. Giáo dục, 1970.
4. Vò Cao Đàm . Phương pháp nghiên cứu khoa học. N. X. B Khoa học
và Thống kê , 1996Phiếu trưng cầu ý kiến
(Dùng cho sinh viên) Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác hướng dẫn sinh viên nghiên cứu
khoa học (làm bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục cuối khóa) và nâng cao hiệu
Các công việc Thường
xuyên

8. Vận dụng các phương pháp nghiên cứu
9. Xử lý và trình bày thông tin
10. Viết phần lý luận của vấn đề nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status