xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy hướng dẫn học sinh tự học phần sinh thái học (sinh học 12) - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ HÀ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY
HƢỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN
SINH THÁI HỌC (SINH HỌC 12)

Chuyên ngành: LL & PPDH BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh
Học viên Nguyễn Thị Hà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1

1.1.1. Khái niệm về bản đồ tư duy 5
1.1.2. Nguyên lý hoạt động của bản đồ tư duy 5
1.1.3. Nguyên tắc xây dựng bản đồ tư duy 7
1.1.4. Lập bản đồ tư duy 8
1.1.5. Tổng quan về bản đồ tư duy 9
1.2. Vấn đề tự học 12
1.2.1. Khái niệm về tự học 12
1.2.2. Các mức độ của năng lực tự học 14
1.2.3. Vai trò của tự học trong đổi mới giáo dục hiện nay 15
1.2.4. Tiêu chí đánh giá năng lực tự học 16
1.2.5. Tổng quan về vấn đề tự học 17
Chƣơng 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY HƢỚNG
DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC (SINH HỌC 12) 20
2.1. Phân tích cấu trúc, nội dung phần Sinh thái học (Sinh học 12) 20
2.1.1. Cấu trúc chương trình 20
2.1.2. Nội dung chương trình 21
2.1.3. Một số lưu ý về kiến thức Sinh thái học 23
2.2. Xây dựng BĐTD trong phần Sinh thái học (Sinh học 12) 26
2.2.1. Các nguyên tắc xây dựng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh
thái học (Sinh học 12) 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
2.2.2. Quy trình thiết kế BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái học
(Sinh học 12) 29
2.2.3. Xây dựng một số BĐTD phần Sinh thái học (Sinh học 12) 32
2.3. Sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái học (Sinh học
12) trong khâu NCTL mới 44
2.3.1. Quy trình sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái

ĐC : Đối chứng
TN : Thực nghiệm
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
PPDH : Phương pháp dạy học
PT : Phổ thông
Nxb : Nhà xuất bản
MT : Môi trường
THPT : Trung học phổ thông
TW : Trung ương
QĐ : Quyết định Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Thời lượng chương trình Sinh học 12 20
Bảng 2.2: Tóm tắt quy trình tự học trên lớp 45
Bảng 2.3. Các phương pháp tổ chức hoạt động tự học cho HS 46
Bảng 3.1. Các bài thực nghiệm 65
Bảng 3.2. Tần suất trắc nghiệm tại thực nghiệm 66
Bảng 3.3. Tần suất hội tụ tiến các bài kiểm tra trắc nghiệm tại thực nghiệm 67
Bảng 3.4. Kiểm định
X
điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 69
Bảng 3.5. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 70
Bảng 3.6. Tần suất điểm kiểm tra sau thực nghiệm 70
Bảng 3.7. Tần suất hội tụ tiến của bài kiểm tra sau TN 71

Hình 2.16. BĐTD sự điều chỉnh số lượng cá thể của quần thể 54
Hình 2.17. BĐTD khái niệm quần xã sinh vật 56
Hình 2.18. BĐTD một số đặc trưng cơ bản của quần xã 57
Hình 2.19. BĐTD mối quan hệ giữa các loài trong quần xã 58
Hình 2.20. BĐTD hiện tượng khống chế sinh học 59
Hình 2.21. BĐTD khái niệm diễn thế sinh thái 61
Hình 2.22. BĐTD các loại diễn thế sinh thái 62
Hình 2.23. BĐTD nguyên nhân diễn thế sinh thái 63
Hình 2.24. BĐTD ý nghĩa của diễn thế sinh thái 63
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 67
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 68
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất điểm bài kiểm tra sau TN 71
Hình 3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra sau TN 72

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở trường học phổ thông
Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của cải cách
giáo dục. Hiện nay, vấn đề đổi mới PPDH nói chung cũng như đổi mới PPDH Sinh
học nói riêng đã được pháp chế hóa trong các đường lối, quan điểm chỉ đạo của
Đảng và nhà nước về giáo dục.
Nghị quyết TW2 (khóa VIII) nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ các phương pháp giáo
dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của
người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại
vào trong quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho
HS, nhất là SV đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và
rộng khắp trong trong toàn dân, nhất là thanh niên” [2], [4], [10].

Lợi thế của BĐTD là có sự kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu đại não,
làm tăng khả năng sáng tạo của con người. Đồng thời tránh được sự nhàm chán, đơn
điệu, phát huy khả năng tư duy khi tự mình lập ra BĐTD.
Với ưu điểm và lợi thế trên, BĐTD không chỉ được ứng dụng trong hoạt
động học của HS mà còn là công cụ hữu ích của các giáo viên trong việc giảng dạy.
1.3. Xuất pháp từ nội dung phần Sinh thái học (Sinh học 12)
Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật
và sinh vật với MT. Tuy là một ngành khoa học còn trẻ nhưng Sinh thái học có ý nghĩa
to lớn với con người và sinh quyển, nó cung cấp tri thức sinh thái cho con người làm cơ
sở khoa học để tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng hợp lý và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, tri thức sinh thái còn gắn liền với kiến thức về giáo dục
và BVMT. Trong điều kiện tình hình MT sống hiện nay đang bị suy thoái nghiêm trọng
thì việc nâng cao chất lượng dạy học Sinh thái học ở trường PT là việc làm cấp bách.
Một số nước trên thế giới từ lâu đã đưa bộ môn Sinh thái học vào THPT. Ở
Việt Nam, Sinh thái học mới được đưa vào giảng dạy ở trường PT từ sau khi nước
ta thực hiện cải cách giáo dục (1980). Năm 2005, thực hiện chương trình đổi mới
SGK, kiến thức Sinh thái được trình bày trong phần 7 của chương trình Sinh học 12,
thể hiện quan điểm tiếp cận cấu trúc hệ thống.
Các mối quan hệ sinh thái đều nằm trong một hệ thống cấu trúc, các thành
phần trong hệ thống đều có quan hệ với nhau về cấu trúc và chức năng. Đây là điểm
thuận lợi để có thể vận dụng xây dựng BĐTD vào để thể hiện các mối quan hệ đó.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Mặt khác, Sinh thái học có nội dung rất rộng và mang tính thực tiễn cao. Đây
là phần kiến thức khó ngay cả với GV, thời lượng không nhiều, rất ít tiết thực hành
và không có buổi tham quan thiên nhiên. Vì vậy, cần rèn luyện kỹ năng tự học, phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng và

- Nghiên cứu cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 12 - THPT, đặc biệt là
phần Sinh thái học để xây dựng BĐTD hướng dẫn HS tự học.
- Truy cập mạng internet.
6.2. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
TN có ĐC nhằm kiểm chứng giả thuyết của đề tài. Phương pháp thực nghiệm
sư phạm sẽ được trình bày kỹ ở chương 3.
6.3. Phƣơng pháp phân tích số liệu và thống kê toán học
Số liệu thu được từ thực nghiệm sư phạm sẽ được phân tích và xử lý bằng
thống kê toán học.
7. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS tự học trong dạy học phần Sinh thái
học (Sinh học 12) sẽ góp phần nâng cao kết quả học tập của HS.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
8.1. Đề xuất đƣợc quy trình và nguyên tắc xây dựng BĐTD hƣớng dẫn HS tự
học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
8.2. Xây dựng đƣợc hệ thống BĐTD hƣớng dẫn HS tự học phần Sinh thái học
(Sinh học 12).
8.3. Xác định đƣợc tiêu chí đo khả năng tự học phần Sinh thái học (Sinh học 12)
của HS.
8.4. Thiết kế đƣợc một số giáo án mẫu về sử dụng BĐTD để hƣớng dẫn HS tự
học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học
Chương 2: Xây dựng và sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái
học (Sinh học 12)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

trong công việc. Chúng ta hay gặp phải những vấn đề khi phải đưa ra những ý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
tưởng độc đáo hay một giải pháp sáng tạo thì đầu óc họ lại trống rỗng? Lời giải
thích đơn giản là do chúng ta chưa sử dụng tối đa năng lực bộ não của mình. Thông
thường, một người trung bình chỉ sử dụng chưa đến 10% năng lực bộ não trong các
lĩnh vực sáng tạo, ghi nhớ và học tập - vậy thử tưởng tượng xem chúng ta sẽ đạt
được gì khi sử dụng 20%, 40% hay thậm trí 100% tiềm năng của não?
Nếu chỉ ghi chép thông tin bằng ký tự; đường thẳng; con số, với cách ghi
chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà chưa hề sử
dụng khả năng nào bên phải, nơi xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không
gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng
50% của bộ não khi ghi nhận thông tin [7].
Các dòng kẻ, chữ và số được xử lý bởi kỹ năng thần kinh của não trái. Đây
chính là bán cầu não mà theo truyền thống được sử dụng để thực hiện tốt các công
việc bình thường. Do đó, khi sử dụng nó, tư duy sáng tạo của bạn sẽ bị giới hạn. Để
thực sự trở nên sáng tạo bạn cần phải sử dụng trí tưởng tượng - chức năng hoạt
động của bán cầu não phải. Các chức năng thần kinh của bán cầu não phải gồm có
sự tri nhận màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu và khả năng không gian [7], [42], [43],
[44]. Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan
đã đưa ra BĐTD để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này. Sử dụng BĐTD,
chúng ta hoàn toàn có thể bắt đầu tận dụng tối đa tiềm năng bộ não của mình.
BĐTD không những sử dụng chữ và số mà còn sử dụng màu sắc và hình
ảnh; nhờ vậy nó kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu não trái và phải [7], [42],
[44]. Điều này giải thích vì sao có thể phát huy toàn bộ khả năng tư duy của mình
khi sử dụng BĐTD. Mỗi bán cầu đại não đều đồng thời nhận sự hỗ trợ và củng cố
cho nửa kia nhằm đem đến khả năng sáng tạo vô biên (hình 1.1).
Nghiên cứu của giáo sư Sperry và Ornstein (1970) cho thấy, mọi người ai

3. Từ mỗi nhánh chính sẽ vẽ các nhánh phụ để khai thác tiếp nội dung thuộc
nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.
4. Tiếp tục như vậy ở các chủ đề tiếp theo.
Chú ý
1. Nên sử dụng ít nhất 3 màu khác nhau.
2. Phát huy phong cách cá nhân của bản thân, óc sáng tạo, tránh căng thẳng.
3. Làm cho bản đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ tự
hoặc giàn ý để bao quát các nhánh của bản đồ.
4. Sử dụng từ ngữ đơn giản để thể hiện thông tin. Tránh những từ dư thừa sẽ
làm bản đồ trở nên lộn xộn.
5. Chữ viết phải rõ ràng, dễ đọc.
6. Sử dụng các liên kết đan chéo, sẽ thấy được mối quan hệ giữa các từ khóa.
7. Sử dụng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì các đường kẻ
cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút sự chú ý của mắt nhiều hơn.
8. Từ khóa của vấn đề nên sử dụng hình ảnh vì một hình ảnh có thể diễn đạt
cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình.
1.1.4. Lập bản đồ tư duy
Lập BĐTD là việc bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm và viết ra những ý tưởng
khác liên quan tỏa ra từ trung tâm. Bằng cách, tập chung vào những ý tưởng chủ
chốt được viết bằng từ ngữ của mình, sau đó tìm ra những ý tưởng liên quan và kết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
nối những ý tưởng lại với nhau hình thành nên một BĐTD. Ý tưởng của BĐTD là
những suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một cách thức phi tuyến tính.
Trong dạy học, khi lập một BĐTD cho một tổ hợp kiến thức sẽ giúp HS ghi
nhớ, hiểu, khái quát hóa những thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn.
Có 2 cách lập BĐTD
- Lập BĐTD trên giấy

thuật, Leonardo da Vinci, một trong những nghệ sĩ nổi tiếng, đã sử dụng hình ảnh
và văn bản một cách phi tuyến tính cho các ghi chú.
Cuối năm 1950, Alam Collin và 1960 M. Ros Quillian phát triển các khái
niệm về mạng sematic như một cách để hiểu và mô tả việc học của con người, sự
sáng tạo và mối liên quan đến chức năng của bộ não. Ông cho rằng: sự sáng tạo và
đổi mới luôn đồng hành với việc sử dụng BĐTD.
Mười năm sau đó, phương pháp này phát triển vào cuối thập niên 60 của thế
kỷ 20 bởi Tony Buzan như một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ
dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và
dễ ôn tập hơn.
Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền
bá kỹ xảo về BĐTD cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục.
Tony Buzan là một trong số ít người dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm
ra quy luật của bộ não và làm việc theo quy luật đó để đạt được những thành
công đáng kinh ngạc. Ông là tác giả đi đầu trong lĩnh vực về não và phương
pháp học tập với hơn 80 tác phẩm và 3 triệu bản đã được bán ra. Nhiều cuốn
sách và những sản phẩm dành được những thành công lớn ở hơn 100 nước với
30 ngôn ngữ, doanh thu lên đến hơn 100 triệu bảng Anh. Là giảng viên hàng đầu
trên thế giới trong lĩnh vực này Tony Buzan được coi là “thầy phù thủy về tư
duy”, với nhiều bài thuyết giảng cho đông đảo khán giả - từ những trẻ em 5 tuổi,
những SV thiệt thòi hay những SV tốt nghiệp hàng đầu của ĐH Oxbridge, cho
đến những giám đốc kinh doanh hàng đầu thế giới.
Sinh năm 1942 tại Luân đôn, Tony Buzan là cha đẻ của phương pháp tư duy
Mind Map và khái niệm xóa mù tư duy. Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về
tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của ĐH
British Columbia năm 1964. Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use
your head”. Trong đó ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với
các phương pháp Mind map [42].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

và đội ngũ thầy cô giáo, phụ huynh và các em HS PT.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Năm 2010, ứng dụng BĐTD trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại
355 trường trên toàn quốc và được cả GV cũng như HS các trường hồ hởi tiếp nhận.
Nhiều Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo sau khi được Dự án THCS II tập huấn cho
cốt cán cấp THCS đã chủ động phổ biến đến cả cấp tiểu học và THPT. Kết quả ghi
nhận ban đầu cho thấy: Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho
HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, “định vị trong đầu” được
các kiến thức, sự kiện cơ bản, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, học
tốt không chỉ kiến thức trong sách vở mà còn cả từ thực tiễn cuộc sống.
Trước kết quả khả quan này, năm 2011, Bộ GD & ĐT đã quyết định đưa
chuyên đề phương pháp dạy học bằng BĐTD thành 1 trong 5 chuyên đề tập huấn
cho giáo viên THCS trên toàn quốc.
Qua thực tế ứng dụng, nhiều GV đánh giá: Kết hợp với các phương pháp dạy
học tích cực khác (ứng dụng công nghệ thông tin) mà ngành giáo dục đã và đang
triển khai, BĐTD sẽ là đòn bẩy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp HS
tích cực chủ động và có tư duy tốt hơn.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã nêu được hướng của đổi mới PPDH là
biến quá trình dạy học thành quá trình tự học và vai trò của của BĐTD trong việc
đổi mới PPDH. Tuy nhiên, việc xây dựng BĐTD hướng dẫn học sinh tự học chưa
được đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Xây dựng và
sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
1.2. Vấn đề tự học
1.2.1. Khái niệm về tự học
Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là
vấn đề được quan tâm. Để học được suốt đời thì phải có quá trình tự học. Khả năng
này cần được rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Vì vậy, quá

tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chất
lượng đào tạo”.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo,… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của
chính bản thân người học”.
Theo tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh: “Tự học là một hoạt động tâm lý đặc trưng
của con người, hoạt động tự học là hoạt động tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức
khoa học bằng hành động của cá nhân hướng tới những mục tiêu nhất định”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Về vai trò của người thầy trong dạy học hiện đại, theo quan điểm của nhiều
tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá Hoành, Nguyễn Kì, Jean - Marc
Denommé…, chức năng chính của người thầy trong quá trình dạy học hiện đại là
người tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người học hoạt động, để tự
người học thu lượm tri thức, chiếm lấy làm tài sản sở hữu của mình. Người dạy giúp
đỡ người học thực hiện phương pháp học. Như vậy, trong dạy học hiện đại, quá
trình điều khiển của thầy phải hướng đến tự phủ định mình, nghĩa là dạy học phải
làm sao cho HS dần dần tự học tập, nghiên cứu mà không cần giáo viên hướng dẫn
nữa. Đó là điều cốt lõi giúp HS khi ra trường có đủ sức làm chủ bản thân, có khả
năng hội nhập và tự thích ứng cao với hoàn cảnh, trong điều kiện tri thức của nhân
loại tăng rất nhanh [35].
1.2.2. Các mức độ của năng lực tự học
Theo Nguyễn Kỳ: “Năng lực là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác
động đến nội dung trong hàng loạt tình huống, vấn đề khác nhau. Trong bất cứ một
con người Việt Nam nào, trừ những người bị tâm thần, khuyết tật, đều tiềm ẩn một
tiềm lực, một tài nguyên Quốc gia vô giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự
giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày, đó là
năng lực tự học sáng tạo”.

Với đề tài này chúng tôi tập chung nghiên cứu mức: Tự học có hướng dẫn
(người học có SGK, có thầy lên lớp tổ chức, giải đáp thắc mắc).
1.2.3. Vai trò của tự học trong đổi mới giáo dục hiện nay
* Đối với người học
Tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn, không chỉ ý nghĩa trong nhà trường mà
còn trong cuộc sống. Trong nhà trường, bản chất của sự học là tự học. Do đó, kết
quả học tập của HS tỷ lệ thuận với năng lực tự học của họ. Ngoài ra, tự học còn tạo
điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi
người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt đời [19].
* Đối với người dạy
Theo V.P Xtơrôricôrin (1981), tổ chức tự học cho HS còn có vai trò sau:
- Nâng cao tính tích cực, tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức
của HS.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
- Rèn cho HS kỹ năng, kỹ xảo được quy định trong chương trình của mỗi
môn, phù hợp với mục đích của nhà trường.
- Dạy cho HS biết cách áp dụng các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã thu nhận
được vào cuộc sống và lao động công ích.
- Phát triển khả năng nhận thức của HS (tính quan sát, tính ham hiểu biết,
khả năng tư duy logic, tính tích cực sáng tạo).
- Luyện cho HS khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới những
mục đích đặt ra.
- Chuẩn bị cho HS để các em có thể tiếp tục tự học một cách có kết quả.
- Tự học là biện pháp tối ưu nhất làm tăng độ bền kiến thức của mỗi HS.
* Đối với đổi mới dạy học
Trong quá trình bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học có ý nghĩa vô cùng to
lớn, nó giúp cho con người chủ động tiếp thu tri thức khoa học ở mọi lúc, mọi nơi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status