ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ TRUYỀN THÔNG NÔNG THỊ NHÀN KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM
PHẦN MỀM THEO CÁC TIÊU CHUẨN
CHẤT LƯỢNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH
THÁI NGUYÊN - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ TRUYỀN THÔNG
NÔNG THỊ NHÀN KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM
PHẦN MỀM THEO CÁC TIÊU CHUẨN
CHẤT LƯỢNG
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới PGS.TS Nguyễn Thiện Luận
đã cung cấp một số tài liệu trong quá trình làm luận văn.
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền
thông - Đại học Thái Nguyên tác giả thường xuyên nhận được sự quan tâm giúp đỡ,
đóng góp ý kiến của các thầy cô trực tiếp giảng dạy và các cán bộ, giáo viên trong
trường. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những thầy cô đó.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu, các bạn đồng nghiệp
trường Trung học Phổ thông Quang Trung đã tạo điều kiện sắp xếp công việc, giúp
đỡ tác giả trong thời gian học tập và làm luận văn.
Xin chân thành cảm ơn anh chị em học viên lớp CAO HỌC K9A đã giúp đỡ,
động viên, khích lệ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Luận văn sẽ không hoàn thành được nếu không có sự quan tâm, động viên
của người thân trong gia đình tác giả. Đây là món quà tinh thần, tác giả xin gửi tặng
gia đình thân yêu của mình với lòng biết ơn sâu sắc.
Tác giả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các hình ảnh, hình vẽ vi
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. QUY TRÌNH PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM, CÁC TIÊU
CHÍ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM PHẦN MỀM 4
1.1. Các thuật ngữ 4
1.2. Quy trình phát triển phần mềm 6
2.1.2. Phân loại theo khả năng ứng dụng 30
2.1.3. Phân loại theo nhu cầu của người dùng 30
2.2. Độ đo ngoài cho sản phẩm phần mềm 31
2.3. Các tiêu chí đánh giá các nhóm phần mềm 43
2.3.1. Nhóm phần mềm Quản lý giáo dục 44
2.3.2. Nhóm phần mềm Kế toán - Tài chính 46
2.3.3. Nhóm phần mềm tiện ích diệt virus 50
Chƣơng 3. XÂY DỰNG MỘT SỐ TIÊU CHUẨN CHẤT LƢỢNG
PHẦN MỀM 55
3.1. Bài toán quản lý trường học và những phần mềm ứng dụng. 55
3.2. Đánh giá Phần mềm Quản lý trường học - V.EMIS 57
3.2.1. Tổng quan về V.EMIS 57
3.2.2. Đánh giá phần mềm V.EMIS (V.EMIS.Student) 59
3.2.3. Xây dựng tiêu chí đánh giá phần mềm V.EMIS
(V.EMIS.Student) 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
TÀI LIU THAM KHẢO 68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
tắt
Diễn giải
Ý nghĩa
ISO
The International
Organisation for
Standardisotion
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa
Hình 1.1. Mô hình chất lượng ISO/IEC 9126-1 18
Hình 1.2. Qui trình kiể m tra đánh giá sản phẩm phần mềm 19
Hình 1.3. Thang đo chất lượng 21
Hình 1.4. Mối liên hệ giữa tiêu chuẩn ISO 9126 và ISO 14598 23
Hình 3.1. Giao diện chính chương trình V.EMIS.Student phiên bản 1.1.4 59
Hình 3.2. Giao diện chức năng “Nhập danh sách học sinh trúng tuyển” 60
Hình 3.3. Giao diện chức năng “Nạp và sửa hồ sơ ban đầu” 60
Hình 3.4. Giao diện chức năng “Phân phòng thi tự động” 61
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
Cơ sở khoa học của đề tài
Khi nói đến chất lượng phần mềm, có nhiều định nghĩa tùy theo cách nhìn
khác nhau. Từ cách nhìn của khách hàng, chất lượng được xác định là việc đáp ứng
nhu cầu và đạt tới sự thỏa mãn; Từ cách nhìn của người phát triển, phần mềm được
thiết kế tốt và sản phẩm tuân thủ theo thiết kế đó (đáp ứng yêu cầu đặc tả chức
năng); Ngoài ra chất lượng có thể được xác định như quy trình hiệu quả tạo ra sản
phẩm mà không có lỗi nào và cung cấp giá trị đo được cho những người tạo ra sản
phẩm và người dùng nó. Còn theo định nghĩa hình thức về Chất lượng phần mềm
của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế ISO trong Bộ Tiêu chuẩn 8402: “Chất lượng là khả
năng đáp ứng toàn diện nhu cầu của người sử dụng về tính năng cũng như công
dụng được nêu ra một cách tường minh hoặc không tường minh trong những ngữ
cảnh xác định”. Những quan niệm và cách nhìn về chất lượng phần mềm nêu trên
có thể đầy đủ nhưng thiếu hẳn yếu tố định lượng.
Chất lượng phần mềm luôn là mối quan tâm hàng đầu của người sử dụng. Vì
vậy, rất cần có những tiêu chí đánh giá cụ thể và phương pháp đo đạc mang yếu tố
định lượng. Đề tài mong muốn đề xuất các tiêu chí đánh giá phần mềm, giúp khách
Tìm hiểu các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm phần mềm thông qua
việc thu thập, tổng hợp các sách, các bài báo, các tài liệu trên mạng bằng tiếng Việt,
tiếng Anh.
Nghiên cứu các tiêu chuẩn, hướng dẫn của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
(ISO/IEC, IEEE ) về đánh giá chất lượng sản phẩm phần mềm qua các bộ chuẩn.
Vận dụng thử nghiệm các tiêu chí đánh giá cho một phần mềm cụ thể.
Cấu trúc và nội dung chính của luận văn
Cấu trúc và nội dung chính của luận văn gồm:
- Phần mở đầu.
- Chương 1. Quy trình phát triển phần mềm, các tiêu chí đánh giá sản phẩm
phần mềm.
Chương này trình bày tổng quan về quá trình phát triển phần mềm; Chất lượng
phần mềm; Thông qua một số mô hình đánh giá chất lượng phần mềm của các tổ chức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Tiêu chuẩn quốc tế, trình bày phương pháp và các tiêu chí đánh giá của các tổ chức đó;
Trình bày độ đo các tiêu chí chất lượng phần mềm theo ISO/IEC 9126-2.
- Chương 2. Phương pháp đánh giá sản phẩm phần mềm theo tiêu chuẩn chất lượng.
Chương này chia nhóm, phân loại các loại phần mềm khác nhau; Trình bày
đề xuất về độ đo ngoài cho sản phẩm phần mềm; Khảo sát và đề xuất phương pháp
đánh giá phần mềm theo tiêu chuẩn chất lượng cho một số loại phần mềm; Chi tiết
thang điểm cho từng tiêu chí đánh giá cụ thể.
- Chương 3. Xây dựng một số tiêu chuẩn chất lượng phần mềm.
Đặt vấn đề cho bài toán Quản lý trong trường học hiện nay; Nêu những
phần mềm được ứng dụng cho bài toán đó và nhu cầu cần được đánh giá; Áp dụng
các phương pháp được đề xuất ở Chương 2, đánh giá Phần mềm Quản lý trường
học V.EMIS; Xây dựng một số tiêu chuẩn của Phần mềm Quản lý trường học
V.EMIS.
- Phần kết luận và hướng phát triển.
Chất lượng sử dụng: Là cách nhìn của người sử dụng về chất lượng sản
phẩm phần mềm khi nó được cài đặt trong một môi trường và ngữ cảnh cụ thể.
Đánh giá phần mềm: Tập hợp các tiêu thức xác định chất lượng phần mềm
và các phương pháp xác định tiêu thức này.
Đo đạc: Là quá trình gán một giá trị hoặc phân loại cho một thực thể để mô
tả một thuộc tính của thực thể.
Luật đo (metric): Là phương pháp đo, cũng như thang đo dùng trong các
phép đo đạc.
Mô hình chất lượng: Là tập hợp các tiêu chuẩn dùng để chỉ ra các yêu cầu về
chất lượng cũng như đánh giá chất lượng của sản phẩm phần mềm.
Phần mềm: là những chương trình điều khiển các chức năng phần cứng và
hướng dẫn phần cứng thực hiện các tác vụ của mình.
Quy trình: Là phương pháp thực hiện hoặc các bước sản xuất ra sản phẩm.
Sản phẩm phần mềm: Là tập hợp các chương trình máy tính, thủ tục, tài liệu
liên quan, cũng như dữ liệu đi kèm.
Tiêu chí: là bộ tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng,
mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ các
qui tắc và qui định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Tiêu chuẩn: Là những quy định thống nhất được xây dựng theo một thể thức
nhất định do một cơ quan có thẩm quyền ban hành để bắt buộc hay khuyến khích áp
dụng cho các bên liên quan.
Tiêu chuẩn hóa: Là hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung và
lặp đi lặp lại đối với những vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn nhằm đạt được mức độ trật
tự tối ưu trong những khung cảnh nhất định.
Tính an ninh, an toàn: Là khả năng của sản phẩm phần mềm bảo vệ các
thông tin và các dữ liệu khi bị xâm nhập bất hợp pháp.
Tính dung thứ được: Kết hợp các khả năng mở rộng chương trình, khả năng
Tính toàn vẹn: Có thể khống chế được việc truy cập của những người không
được phép sử dụng phần mềm và dữ liệu.
1.2. Quy trình phát triển phần mềm
Quy trình phát triển phần mềm được bắt đầu từ khi hình thành ý tưởng và
bao gồm nhiều vòng đời dưới dạng đường xoắn ốc. Quy trình này thể hiện sự hoàn
thiện dần từng giai đoạn của dòng sản phẩm theo thời gian. Mỗi vòng đời thường
bắt đầu từ công đoạn thiết kế, đặc tả các yêu cầu từ phía khách hàng đối với hệ
thống và kết thúc sau công đoạn kiểm định chấp nhận một phiên bản của sản phẩm.
Vòng đời tiếp theo là một bước phát triển để tạo ra một phiên bản mới của dòng sản
phẩm do công ty phần mềm đang bảo trì.
Quy trình phát triển phần mềm thường được thực hiện bởi thứ tự các thao tác:
Phân tích yêu cầu; Thiết kế sơ bộ; Thiết kế chi tiết; Lập trình và kiểm định đơn vị; Tích
hợp và kiểm định tích hợp; Kiểm định hệ thống; Khai thác và bảo trì hệ thống.
1.2.1. Các giai đoạn của quy trình phát triển phần mềm
Nhiều tổ chức phần mềm khác nhau có thể có các quy trình phát triển phần
mềm khác nhau; Tên gọi của mỗi giai đoạn phát triển cũng khác nhau. Nhưng hầu
hết mọi phần mềm đều được xây dựng theo thứ tự các giai đoạn như:
- Nghiên cứu sơ bộ (Preliminary Investigation);
- Phân tích hệ thống phần mềm (Analysis);
- Thiết kế hệ thống (Design of the System);
- Xây dựng phần mềm (Software Constrution);
- Thử nghiệm hệ thống (System Testing);
- Thực hiện, triển khai (System Implementation);
- Bảo trì, nâng cấp (System Maintenance).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
1.2.1.1. Nghiên cứu sơ bộ
Trước khi bắt tay vào một dự án, cần tạo một bức tranh về ý tưởng. Ý tưởng
này phải nắm bắt các yêu cầu và xuất hiện trong giai đoạn khởi đầu. Các hoạt động
thiết với nhau để xác định các yêu cầu đối với hệ thống, tức là các tính năng mới
cần phải được đưa vào. Những mục tiêu cụ thể của giai đoạn này là:
- Xác định hệ thống cần phải làm gì.
- Nghiên cứu thấu đáo tất cả các chức năng cần cung cấp và những yếu tố
liên quan.
- Xây dựng mô hình nêu bật bản chất vấn đề từ một hướng nhìn có thực.
- Định nghĩa vấn đề cho chuyên gia lĩnh vực để nhận sự đánh giá, góp ý.
- Kết quả của giai đoạn này là bản Đặc tả yêu cầu (Requirements Specifications).
1.2.1.3. Thiết kế hệ thống
Sau giai đoạn phân tích, khi các yêu cầu cụ thể đối với hệ thống đã được xác
định, giai đoạn tiếp theo là thiết kế cho các yêu cầu mới. Việc thiết kế giải quyết
câu hỏi: Hệ thống làm cách nào để thỏa mãn các yếu cầu đã được nêu trong Đặc tả
yêu cầu. Trong giai đoạn thiết kế, các công việc thường được thực hiện là:
- Nhận biết form nhập liệu tùy theo các thành phần dữ liệu cần nhập;
- Nhận biết reports và những output mà hệ thống mới phải sản sinh;
- Thiết kế forms (vẽ trên giấy hay máy tính, sử dụng công cụ thiết kế);
- Nhận biết các thành phần dữ liệu và bảng tạo database;
- Ước tính các thủ tục giải thích quá trình xử lý từ input đến output.
Kết quả giai đoạn thiết kế là Đặc tả thiết kế (Design Specifications). Bản Đặc
tả thiết kế chi tiết sẽ được chuyển sang cho các lập trình viên để thực hiện giai đoạn
xây dựng phần mềm.
1.2.1.4. Xây dựng phần mềm
Đây là giai đoạn viết lệnh (code) thực sự tạo hệ thống. Từng người viết code
thực hiện những yêu cầu đã được nhà thiết kế định sẵn. Cũng chính người viết code
chịu trách nhiệm viết tài liệu liên quan đến chương trình, giải thích thủ tục
(procedure) do mình tạo nên được viết như thế nào và lý do cho việc này.
Để đảm bảo chương trình được viết nên phải thỏa mãn mọi yêu cầu có ghi
trước trong Bản đặc tả thiết kế chi tiết, người viết code cũng đồng thời phải tiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
trong quá trình phát triển phần mềm. Tùy theo các biến đổi trong môi trường sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
dụng, hệ thống có thể trở nên lỗi thời hay cần phải được sửa đổi nâng cấp để sử
dụng có hiệu quả. Hoạt động bảo trì hệ thống có thể rất khác biệt tùy theo mức độ
sử đổi và nâng cấp cần thiết.
Kết quả của của giai đoạn này là các ghi chép về các sửa đổi đã được thực
hiện cùng các lý do.
1.2.2. Các mô hình vòng đời phần mềm
Vòng đời phần mềm (SLC - Software Life Cycle) là thời kỳ tính từ khi phần
mềm được đề xuất sử dụng cho đến khi bị loại bỏ (tức là hình thành đáp ứng yêu
cầu vận hành, bảo trì, cho đến khi loại bỏ không đâu dùng nữa).
Mô hình vòng đời phần mềm là tập hợp các công việc và quan hệ giữa chúng
với nhau diễn ra trong quá trình phát triển phần mềm.
Vòng đời phần mềm được chia thành các pha chính như: Xác định yêu cầu,
triển khai, kiểm thử, bảo trì (vận hành)… Phạm vi thứ tự các pha khác nhau tùy
theo từng mô hình dự án cụ thể.
Vòng đời phần mềm của mỗi sản phẩm nhiều khi có sự khác biệt rất lớn. Có
sản phẩm được thiết kế và viết chương trình rất nhanh nhưng lại tốn hàng năm để
bảo trì do phải sửa đổi chương trình cho phù hợp với các yêu cầu của khách hàng.
Cũng có những sản phẩm phần mềm sau một thời gian sử dụng người ta nhận thấy
rằng có lẽ nên viết hẳn một sản phẩm mới hoàn toàn thì sẽ tốt hơn là bảo trì sản
phẩm cũ. Có nhiều mô hình khác nhau, một số trong đó được ứng dụng khá phổ
biến trên thế giới.
1.2.2.1. Mô hình tăng trưởng (growth model)
Một phần mềm ra đời được đưa vào sử dụng, trong quá trình sử dụng ngoài
việc phát triển và sửa chữa những sai sót, người ta thấy cần nâng cấp chất lượng
bằng cách cải tiến một vài thuật toán hoặc thêm một số chức năng… Mỗi lần nâng
cấp như vậy người ta lại dựa trên nền tảng phần mềm đã có và xem xét, sửa đổi lại
1.2.2.2. Mô hình đồng bộ và ổn định (Synchronize-And-Stabilize Model)
Trong mô hình này, pha xác định yêu cầu được thực hiện bằng cách phỏng
vấn rất nhiều khách hàng dự kiến. Các đặc trưng của nhu cầu khách hàng được liệt
kê theo thứ tự ưu tiên, sau đó tài liệu đặc tả được soạn thảo. Tiếp theo, công việc
được chia làm ba hoặc bốn phần. Phần thứ nhất chứa các đặc trưng quan trọng nhất,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
phần thứ hai chứa các đặc trưng quan trọng thứ hai… Mỗi thành phần sẽ được xây
dựng bởi một số nhóm nhỏ làm việc song song. Cuối mỗi ngày, các nhóm đồng bộ
hóa (Synchronize), tức là họ hợp lại các phần họ đã làm riêng biệt thành một phần
đồng nhất, sau đó họ kiểm tra, sửa lỗi và kiểm thử. Sự ổn định hóa (stabilize) được
thực hiện ở giai đoạn cuối của mỗi phần. Trong giai đoạn này những lỗi còn sót lại
được phát hiện, được sửa chữa và thành phần được đóng gói (frozen), tức là không
thực hiện thay đổi nào đối với đặc tả.
Các bước đồng bộ hóa được lặp lại bảo đảm rằng các thành phần khác nhau
có thể được kết hợp và cùng làm việc tốt. Một điểm lợi của cách làm này là những
người phát triển có thể sớm nhìn thấy sự hoạt động của phần mềm và có thể hiệu
chỉnh các yêu cầu ngay trong quá trình các thành phần được xây dựng. Mô hình này
có thể áp dụng ngay cả trong trường hợp các đặc tả ban đầu không hoàn thiện.
1.2.2.3. Mô hình hướng đối tượng (Object-Oriented model)
Trong mô hình hướng đối tượng, tính lặp giữa các pha và giữa các phần
trong một pha xảy ra nhiều hơn so với mô hình khác. Một trong những mô hình
giống như mô hình hướng đối tượng là mô hình núi đồi, nó được biểu diễn bằng các
hình tròn có một phần chồng lên nhau. Bên trong các vòng tròn có các mũi tên uốn
cong ngụ ý nói rằng trong mỗi pha cũng có tính lặp giữa các phần. Các pha có phần
chung là:
- Pha yêu cầu và pha phân tích hướng đối tượng.
- Pha thiết kế hướng đối tượng, pha lập trình và tích hợp.
- Pha sử dụng và bảo trì.
khách hàng, các sản phẩm phần mềm đang gặp phải thách thức mới, đó là vấn đề
chất lượng. Điều này có nghĩa là sản phẩm phần mềm khi ra đời phải đạt được sự
thỏa mãn, hoàn thiện, chuyên nghiệp và luôn đổi mới để đáp ứng được các yêu cầu
khắt khe của người dùng. Vậy phần mềm có đáp ứng được các đòi hỏi đó hay
không cần phải có hoạt động đánh giá cụ thể.
1.4. Đánh giá phần mềm
Đánh giá phần mềm là một phương pháp đo, tức là nó xác định giá trị của
nguyên mẫu. Kết quả của phép đo trả lời cho câu hỏi: Trong hai cái cái nào tốt hơn?
Mức độ tốt? Có nhiều phương pháp đo do các tổ chức, các nhóm nghiên cứu đề
xuất. Tuy nhiên hiện nay chưa có một chuẩn đo phần mềm nào được chấp nhận
rộng rãi trên toàn thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
1.4.1. Tầ m quan trọ ng của việc đánh giá chấ t lượ ng phần mềm
Như đã nói, chất lượng phần mềm đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
ngành Công nghiệp phần mềm. Một sai lầm dù rất nhỏ của phần mềm cũng có thể
gây ra hậu quả nghiêm trọng. Các nhược điểm trong phần mềm không chỉ gây phiền
phức cho người dùng mà còn gây tổn thất rất lớn cho nền kinh tế. Chúng ta đã
chứng kiến sự cố máy tính Y2K hơn 10 năm về trước (năm 2000). Từ một giải pháp
tiết kiệm bộ nhớ (chỉ dùng hai chữ số cuối để biểu diễn năm thay vì bốn chữ số) vào
đầu những năm 70 của thế kỷ trước dẫn đến việc 25 năm sau người ta phải bỏ ra
nhiều tỷ dollars để khắc phục sự cố này.
Ở nước Mỹ ước tính hàng năm thiệt hại do nhược điểm trong phần mềm gây
ra lên đến 59,5 tỷ USD - Theo số liệu của Viện Công Nghệ và Tiêu Chuẩn Quốc
Gia (NIST) thuộc Bộ Thương Mại Mỹ. Và cũng theo NIST, thử nghiệm để phát
hiện và loại bỏ khiếm khuyết ngay từ quá trình sản xuất phần mềm có thể giảm mức
thiệt hại khoảng 22,2 tỷ USD trong tổng số 59,5 tỷ này. Nhiều doanh nghiệp đã
nhận thức đúng về vai trò của chất lượng phần mềm và định hướng xây dựng các
quy trình sản xuất phần mềm theo chuẩn quốc tế với mục đích sản xuất phần mềm
ISO/IEC 12119:1994 để đánh giá chung cho các tài liệu hướng dẫn, tài liệu mô tả
sản phẩm, chương trình và dữ liệu.
Tóm lại, mỗi một tổ chức áp dụng đánh giá phần mềm một cách riêng theo
đặc thù của tổ chức đó. Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một tiêu chuẩn chung nào
để đánh giá chất lượng phần mềm, chưa thể trả lời được câu hỏi đánh giá phần mềm
trong nước theo các mặt nào, sử dụng tiêu chuẩn nào, bằng cách nào đánh giá được
thực chất chất lượng phần mềm, độ tin cậy và chính xác của các phương pháp đánh
giá. Để đánh giá chất lượng của sản phẩm phần mềm có đáp ứng được các nhu cầu
cho trước hay không thì cần áp dụng tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá cụ thể, có tiến
trình đánh giá phù hợp.
1.4.2. Một số mô hình đánh giá chất lượng phần mềm
1.4.2.1. Mô hình ISO/IEC-9126 [5]
ISO-9126 là bộ tiêu chuẩn quốc tế về Đánh giá phần mềm, được chia làm
bốn phần:
9126-1 Đưa ra mô hình chất lượng sản phẩm phần mềm.
9126-2 Độ đo ngoài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
9126-3 Độ đo trong.
9126-4 Độ đo cho chất lượng sản phẩm phần mềm trong quá trình sử dụng.
Mô hình chất lượng ISO-9126 trên thực tế được mô tả là một phương pháp
phân loại và chia nhỏ những thuộc tính chất lượng, nhằm tạo nên những đại lượng
đo đếm được dùng để kiểm định chất lượng của sản phẩm phần mềm. Dưới đây đưa
ra 6 tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng sản phẩm phần mềm trong mô hình chất
lượng ISO/IEC 9126-1.
- Tiêu chuẩn 1. Tính chức năng (functionality): Khả năng của phần mềm
cung cấp các chức năng đáp ứng được các yêu cầu khi nó được sử dụng với những
điều kiện cụ thể. Tiêu chuẩn này là tổ hợp của các thuộc tính chất lượng:
+ Tính thích hợp (suitability): Phần mềm cung cấp một tập các chức năng thích
+ Hiệu quả về thời gian (time behaviour): Thời gian xử lý, thời gian phúc
đáp của hệ thống và lưu lượng công việc.
+ Hiệu quả về tài nguyên (resource utilisation): Sử dụng tài nguyên thích
hợp trong một khoảng thời gian hợp lý.
- Tiêu chuẩn 5. Cập nhật - Bảo trì (maintainability): Phần mềm có thể sửa
đổi được.
+ Phân tích được (analysability): Phần mềm có thể chuẩn đoán những sự
thiếu sót hoặc những nguyên nhân gây lỗi trong phần mềm, hoặc những phần sẽ
được sửa đổi trong tương lai được xác định.
+ Thay đổi được (changeability): Phần mềm cho phép một sự cải tiến xác
định sẽ được thực hiện.
+ Ổn định (stability): Phần mềm giảm thiểu các hiện tượng bất ngờ từ những
nâng cấp của phần mềm.
+ Có thể kiểm tra (testability): Cho phép kiểm tra sau khi thay đổi và nâng cấp.
- Tiêu chuẩn 6. Linh hoạt (portability): Phần mềm sẽ được chuyển từ môi
trường này sang môi trường khác.
+ Tính thích nghi (adaptability): Phần mềm có thể được thay đổi cho phù
hợp với các môi trường khác nhau.
+ Cài đặt được (installability): Có thể cài đặt trên một môi trường cụ thể.
+ Cùng tồn tại (co-existence): Có thể tồn tại cùng với các phần mềm khác
trong một môi trường chia sẻ tài nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên