PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã ảnh hưởng và chi phối rất
lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông
thôn nói riêng. Theo quy luật, trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn
từng bước cũng sẽ tự hình thành cơ cấu của chính mình, nhưng tự nó thì sẽ
mất thời gian rất dài và rất chậm chạp. Chính quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá sẽ tác động mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế nông thôn, làm chuyển đổi cơ
cấu giữa ngành nông nghiệp và công nghiệp; đồng thời làm cho ngành dịch
vụ dần được mở rộng và phát triển đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống.
Sự phát triển của kinh tế nông thôn với xu hướng ngành công nghiệp và dịch
vụ ngày càng tăng lên và tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế nông
thôn thì lao động nông nghiệp ngày càng giảm đi cả tương đối và tuyệt đối.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phân công lao động
xã hội ở nông thôn sẽ diễn ra theo hướng hoà nhịp với sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn. Nghĩa là sự phân công lao động xã hội được diễn ra đồng
thời từ trong nội bộ ngành nông nghiệp và cả khu vực nông thôn. Từ cơ cấu
sản xuất chủ yếu là lúa sang trồng lúa, màu, cây ăn quả, cây công nghiệp,
chăn nuôi… mở rộng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và phát triển các dịch
vụ để phục vụ cho sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp nông thôn,
đồng thời gắn kết sự giao lưu kinh tế giữa nông thôn và thành thị.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn làm cho cơ cấu kinh
tế nông thôn chuyển dịch theo hướng: Giảm tỷ trọng sản phẩm và lao động
trong sản xuất nông nghiệp (số lượng tuyệt đối của sản phẩm vẫn tăng, còn số
lượng tuyệt đối và tương đối của lao động giảm). Sự dịch chuyển ấy hoàn
toàn phù hợp quy luật khách quan, phù hợp quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông thôn. Vì nông nghiệp là ngành sản xuất ra các sản phẩm tiêu
dùng thiết yếu cho xã hội, khi năng suất lao động tăng lên thì mới có một bộ
phận lao động dôi ra và chuyển sang làm những ngành phi nông nghiệp, do
vậy nếu không có kế hoạch hợp lý để phát triển các ngành phi nông nghiệp, là
1
đang cản trở sự phát triển của khu vực nông thôn nơi mà tỉ lệ nghèo đói và tỉ
lệ thất nghiệp nông thôn cao, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, diện tích đất
2
nông nghiệp giảm do quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, dịch vụ nông
thôn không phát triển kể cà giáo dục, y tế, sự hạn chế trong việc huy động các
nguồn lực tài chính địa phương và hệ thống quản lý tài chính bất hợp lý. Đó là
lý do tôi chọn đề tài: “Khảo sát và đánh giá tình hình phát triển sản xuất
nông nghiệp trong 3 năm (2009 – 2011) ở thôn Văn La - Lương Ninh, Quảng
Ninh - Quảng Bình”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của địa phương
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất nông nghiệp trong 3 năm qua trên địa
bàn thôn
- Tìm hiểu về những khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát triển sản
xuất nông nghiệp. Đánh giá những thay đổi trong quá trình sản xuất trong 3
năm trở lại đây.
- Đề xuất giải pháp để thực hiện thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm và vai trò của phát triển sản xuất nông nghiệp
2.1.1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp
Cung cấp lương thực và thực phẩm cho toàn xã hội. Thực tế cho thấy
rằng xã hội càng phát triển thì yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng nhanh.
Một đặc điểm quan trọng của hàng hoá lương thực, thực phẩm là không thể
thay thế bằng bất kì một loại hàng hoá nào khác. Hàng hoá có chứa chất dinh
dưỡng nuôi sống con người này chỉ có thể có được thông qua hoạt động sống
của cây trồng và vật nuôi hay nói cách khác là thông qua quá trình sản xuất
nông nghiệp.[1]
Thông thường đối với các nước, có thể lựa chọn công nghiệp nặng hay
công nghiệp nhẹ làm ngành kinh tế mủi nhọn, nhưng nông nghiệp không phải
ổn định ở mức cao, nâng cao đời sống của người dân, xóa đói giảm nghèo có ý
nghĩa lớn trong việc ổn định kinh tế - xã hội của đất nước.Trong cuộc khủng
hoảng kinh tế vừa qua, nước ta có chỗ dựa vững chắc là nông nghiệp, do đó
Chính phủ có các chính sách kích thích cho nông nghiệp phát triển. Điều này sẽ
không chỉ đảm bảo phát triển về kinh tế mà còn ổn định được an sinh xã hội.
Với khả năng tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu nhập cho số đông dân
cư, nông nghiệp đã, đang đóng vai trò quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam
vượt lên sau thời kỳ suy giảm kinh tế. Chứng minh rõ nhất cho điều đó chính
là khi toàn bộ nền kinh tế phải nhập siêu trong bối cảnh khủng hoảng thì nông
nghiệp lại xuất siêu, nông sản là một trong những mặt hàng còn lại kim ngạch
xuất khẩu cao kể từ đầu năm đến nay. Các mặt hàng nông, lâm, hải sản Việt
Nam vẫn giữ được vị thế cạnh tranh và đóng góp cho sự tăng trưởng xuất
khẩu. Đặc biệt trước sự ảnh hưởng của kinh tế thế giới, không ít mặt hàng đã
giảm tỷ trọng xuất khẩu nhưng tỷ trọng xuất khẩu của nhóm mặt hàng này
vẫn tăng và giữ vai trò là chủ lực. Bên cạnh đó, nông nghiệp còn là nơi thu
hút nhiều lao động, trong khi tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao do khủng
khoảng kinh tế thì lĩnh vực nông nghiệp lại là nơi thu hút lao động vào làm
việc, số lao động thành thị "chảy" về nông thôn trong giai đoạn khủng hoảng
là rất lớn. Điều này đã phần nào giải quyết được công ăn việc làm cho những
đối tượng lao động ở thành phố bị thất nghiệp.Trong sự nghiệp tiến hành công
nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển bền vững thì nông nghiệp luôn được quan
5
tâm và ưu tiên phát triển. Bởi đầu tư thúc đẩy sản xuất nông nghiệp sẽ tạo
công ăn việc làm cho lao động nông nghiệp trở về nông thôn… Như vậy,
nông nghiệp sẽ làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn, gián tiếp làm tăng
sức mua và tăng cầu trong nước bởi đối tượng này chiếm 70% dân số. Vì thế,
cần có một chiến lược phát triển nông thôn bền vững, mặt khác, cần tập trung
vào thị trường trong nước và khu vực nông thôn. Làm được điều này thì
chúng ta sẽ có một hậu phương vững vàng cho nền kinh tế.
Như vậy, có thể nói, nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong nền
mặc dù lợi nhuận của sản xuất công nghiệp những năm qua luôn đem lại cho
đất nước tốc độ tăng trưởng GDP cao nhưng trên thực tế, chỉ số phát triển của
nông nghiệp mới thật sự mạnh. Giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng cao hơn
công nghiệp. Thực tế đó càng được chứng minh rõ ràng hơn khi các chuyên
gia kinh tế đưa ra phác đồ phân tích mức độ tác động bởi ảnh hưởng của suy
thoái kinh tế toàn cầu. Theo phác đồ này, trong 3 lần nền kinh tế đất nước bị
ảnh hưởng bởi sự suy thoái kinh tế toàn cầu thì cả 3 lần nền nông nghiệp nước
ta không những bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái kinh tế toàn cầu mà còn đạt tốc
độ tăng trưởng ấn tượng.
Mặc cho nền công nghiệp, thương mại - dịch vụ bị ảnh hưởng mạnh mẽ
bởi suy giảm kinh tế, hàng loạt nhà máy, xí nghiệp phá sản, lao động khốn đốn
vì thất nghiệp thì nông nghiệp vẫn vững bước đi lên. Trong khó khăn, nông
nghiệp lại chính là điểm trở về của lao động nông thôn, 70% lao động của cả
nước có việc làm ổn định mặc dù thu thập không cao. Đi sâu phân tích, chúng ta
sẽ thấy trong sản xuất nông nghiệp, vai trò của cây lúa đối với an ninh lương
thực là cực kỳ quan trọng. Quay trở lại thời điểm sốt giá gạo hồi đầu năm 2008,
chúng ta mới thấy hết được tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp nói chung,
vai trò của cây lúa nói riêng. Thử tưởng tượng nếu không có một nền sản xuất
nông nghiệp bền vững, chỉ cần một vài lần sốt áo giá gạo như vậy thì nền kinh tế
đất nước sẽ đi đến đâu, thị trường sẽ hỗn loạn như thế nào.
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp - nông dân,
đầu năm 2009, Chính phủ đã cho thực hiện gói kích cầu kinh tế, trong đó ưu
tiên hàng đầu cho phát triển nông nghiệp. Trung ương Đảng cũng đã xây
dựng hẳn một nghị quyết về vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn nhằm
thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển mạnh, duy trì và ổn định nền kinh tế đất
nước. Những chính sách đúng đắn đó đã góp phần rất lớn vào sự phát triển
nông nghiệp, không đẩy nền kinh tế nước ta lún sâu vào đại suy thoái. Như
7
vậy có thể nói, nông nghiệp thực sự có vai trò rất lớn trong nền kinh tế ở bất
kỳ hoàn cảnh nào, đặc biệt là trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế đất nước
8
nạn đói hay nạn suy dinh dưỡng, con số này còn tiếp tục tăng thêm 4 triệu
mỗi năm”.
Nửa thế kỷ sau cuộc cách mạng xanh tiến hành trong nông nghiệp dựa
trên việc tăng năng suất trồng trọt nhờ vào sự trợ giúp của máy móc và việc sử
dụng các loại thuốc trừ sâu, đưa lại những thành quả nhất định, bản báo cáo của
IAASTD nhấn mạnh việc cần thiết phải có những thay đổi sâu sắc trong nông
nghiệp hiện tại, không chỉ nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế mà còn cả
những mục tiêu xã hội và sinh thái nữa.
Không thể chỉ cứ sản xuất càng nhiều càng tốt mà còn phải phân chia một cách
công bằng thành quả của sự tiến bộ đồng thời bảo vệ tốt hơn thiên nhiên, môi
trường. Ngày càng có nhiều người nói tới một cuộc cách mạng mới trong nông
nghiệp, cuộc cách mạng xanh lần thứ hai hay cuộc cách mạng “hai lần xanh”.
Có lẽ không có một giải pháp chung hoàn hảo nào có thể đáp ứng được
mọi nhu cầu, IAASTD khuyến cáo một nền nông nghiệp thích ứng với từng
hoàn cảnh, từng môi trường cụ thể. Nói giản lược thì một chính sách nông
nghiệp thích hợp với Mali chưa chắc đã phù hợp với Thái Lan hay Bolivia
chẳng hạn. Cần sử dụng tất cả những phương tiện có trong tay, từ kiến thức
công nghệ sinh học hiện đại cho tới những kinh nghiệm cổ truyền. Mỗi địa
phương, mỗi quốc gia đều có thể lựa chọn để phát triển bền vững nền nông
nghiệp của mình. Nói cách khác là một nền nông nghiệp toàn cầu được đa
dạng hóa.
Tại các nước châu Âu, từ nhiều năm trở lại đây vốn có tâm lý cho rằng
nông nghiệp đang bước vào buổi “xế chiều”, thể hiện qua việc cắt giảm diện
tích đất nông nghiệp, áp đặt cô-ta sản lượng hay tỷ lệ đất bắt buộc để hoang
hóa, trợ giúp nông nghiệp ào ạt… nay cũng phải xem xét lại tất cả những
chính sách này. Những nước có “quỹ” đất lớn như Nga, Ucraina được khuyến
khích tăng diện tích trồng cây lương thực.
Ngoài đất, nông nghiệp tiêu thụ rất nhiều nước và năng lượng. Cần sản
xuất nhiều hơn nhưng “xanh” hơn và bền vững hơn. Việc sử dụng những
tăng tiêu dùng do đô thị hoá và thay đổi thói quen ăn uống, cũng góp phần tạo
ra những thay đổi ở các nước đang phát triển.
Ở những nước này, các sản phẩm từ động vật và ngũ cốc cho súc vật đã
tăng mạnh so với ngũ cốc phục vụ cho nhu cầu của con người. Tại những thị
trường phát triển hơn, những vấn đề về cung cấp các loại thực phẩm đã được
10
thay thế bằng những mối quan tâm đến đặc tính và chất lượng của sản phẩm.
Thị trường lúa mì và ngũ cốc loại 2 trên thế giới sẽ tăng trưởng chậm trong
khi thị trường lúa gạo tiếp tục tăng nhanh hơn.
Ở Mỹ, việc tăng sản xuất etanol từ ngô sẽ khiến tăng trưởng trong xuất
khẩu ngô ngừng trệ. Trong khi đó, ở Brazil, sự phát triển mạnh của lĩnh vực
sản xuất etanol từ mía sẽ không cản trở nước này thu được nhiều lợi nhuận
hơn trên thị trường đường thế giới. Cuối cùng là thị trường thịt thế giới sẽ có
xu hướng giảm do sự tái phát của các bệnh dịch động vật.
2.3.Tình hình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Trong chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân Việt Nam, nông
nghiệp và nông thôn là mối quan tâm thường xuyên trong chính sách của
Đảng và nhà nước. Trong các thời kì khác nhau, tỷ trọng nông nghiệp trong
tổng sản phẩm quốc nội và tỉ trọng đầu tư cho nông nghiệp có khác nhau,
nhưng nông nghiệp luôn được xác đình là chổ dựa vững chắc để giải quyết
các vấn đề của toàn xã hội: an toàn lương thực quốc gia, thu hẹp và tiến tới
xóa đói giảm nghèo, cung cấp nguồn nhân lực, góp phần ổn định xã hội tạo
tiền đề phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Hiện nay nước ta có khoảng 7655000 ha đất nông nghiệp, chiếm 21%
tổng diện tích tự nhiên của cả nước với 75% dân số sống ở khu vực nông thôn
và 60 % lao động đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Nông nghiệp
Việt Nam tăng trưởng và hướng ra xuất khẩu để một chính sách phát triển
kinh tế thành công ở một nước nghèo như Việt Nam cần tập trung vào 2 vấn
đề chính đó là tăng trưởng và giảm nghèo đói. Đối với một xã hội nông thôn
như ở Việt Nam, nông nghiệp là một nhân tố chính đóng góp vào phát triển
4,69%, bình quân tăng 4,93% (mục tiêu kế hoạch là 4,5%). Những kết quả
khả quan trong năm 2010 và giai đoạn 2006-2010 sẽ tạo tiền đề cho triển khai
thực hiện kế hoạch 2011 và kế hoạch 5 năm 2011-2015.
Mục tiêu kế hoạch 5 năm 2011-2015 của ngành nông nghiệp là phấn đấu đạt
mức tăng GDP toàn ngành là 3,5-3,8%/năm. Riêng năm 2011, kế hoạch đề ra
của ngành nông nghiệp là sẽ đạt mức tăng GDP là 3,5%, giá trị sản xuất tăng
4,5-5,0% so với năm 2010. Đóng góp vào kết quả kể trên, giá trị sản xuất
nông nghiệp đạt trên 108,75 nghìn tỷ đồng tăng 4,41%; lâm nghiệp đạt 5,35
nghìn tỷ đồng tăng 4,09% và thủy sản đạt gần 41,21 nghìn tỷ đồng tăng
5,34%.
12
Mức tăng trưởng 4,64% đạt được trong bối cảnh sản xuất nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm 2010 gặp nhiều khó khăn. Vụ đông xuân
thiếu nước trên phạm vi rộng, nắng nóng kéo dài đầu vụ hè thu và vụ mùa làm
nhiều diện tích lúa phải chuyển sang trồng cây khác. Trong khi đó, dịch bệnh
cây trồng, vật nuôi lan rộng ở nhiều địa phương, giá xăng dầu tăng nhiều đợt
có ảnh hưởng đến khai thác thuỷ sản
Năm 2010 là năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006-2010,
ngành NN&PTNT phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng sản xuất nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn đạt mức tăng trưởng cao hơn năm 2009. Theo ước
tính của Tổng cục Thống kê, bất chấp khủng hoảng kinh tế và thiên tai, dịch
bệnh, tốc độ tăng trưởng của ngành năm 2010 vẫn đạt 2,8% (năm 2009 đạt
1,83%). Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 3,36%/năm,
vượt mức mục tiêu 3-3,2%/năm của Đại hội Đảng X đề ra và kế hoạch phát
triển 5 năm của ngành. Giá trị sản xuất toàn ngành ước tăng 4,69%, bình quân
tăng 4,93% trong giai đoạn 2006-2010 so mục tiêu kế hoạch 4,5%. Năm 2010
cũng được đánh giá là năm khó khăn nhất của chăn nuôi khi các loại dịch
bệnh trên gia súc, gia cầm liên tục hoành hành. Tuy nhiên, theo số liệu Cục
Chăn nuôi, sản lượng thịt hơi các loại năm 2010 đạt 4,02 triệu tấn, tăng 6,3%.
Dự kiến, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi cả năm đạt 7%.
sông Cửu Long nơi mà hệ thống thủy lợi được cung cấp từ 2.500 km sông,
kênh rạch tự nhiên và 3.000km kênh mương nhân tạo. Ngoài ra cũng có một
số vùng nông dân trồng vụ lúa thứ 3.[9]
14
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trên địa bàn thôn Văn La ( xã Lương Ninh) đối với các đối
tượng nghiên cứu là các hộ tham gia sản xuất nông nghiệp, đồng thời tìm
những giải pháp để phát triển sản xuất nông nghiệp có hiệu quả hơn.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của địa phương
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất nông nghiệp trong 3 năm qua trên địa
bàn thôn
- Tìm hiểu về những khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát triển sản
xuất nông nghiệp. Đánh giá những thay đổi trong quá trình sản xuất trong 3 năm.
- Đề xuất giải pháp.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin thứ cấp:
+ Từ các báo cáo tổng kết của huyện, xã, thôn.
+ Các tài liệu thống kê, niên giám thống kê từ các cơ quan liên quan:
+ Từ các tài liệu như: sách, báo, internet,
- Thu thập thông tin sơ cấp:
+ Phỏng vấn người am hiểu: chủ tich xã, trưởng các ban phòng liên
quan đến nông nghiệp.
+ Phỏng vấn bán cấu trúc:
+ Phỏng vấn cấu trúc bằng bảng hỏi
+ Quang sát thực tế.
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Nhiệt độ
Nhìn chung nhiệt độ ở đây thể hiện 4 mùa không rỏ rệt, nhiệt độ trung
bình hằng năm khoảng 24,6
0
C; tối cao trung bình 26,3
0
C; tối thấp trung bình
16,1
0
C. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8, cao điểm là tháng 6 và tháng 7, có
16
năm lên đến 37-38
0
C. Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2( có năm kéo dài qua
tháng 4) năm sau, tập trung vào tháng 12 và thang 1 , nhiệt độ tối thấp có năm
xuống 12
0
C. Biên độ giao động giữa 2 mùa là rất lớn, trong khi đó biên độ
ngày và đêm chênh lệch không đáng kể.[6]
Với lượng nhiệt và chế độ nhiệt như vậy, việc bố trí cơ cấu cây trồng ,
vật nuôi nói chung rất khó khăn, đặc biệt với cây lúa vụ đông xuân, thường
đầu vụ gieo gặp nhiệt độ thấp, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển giai
đoạn mạ, thời kỳ trổ cũng có thể gặp nhiệt độ thấp cho nên việc bố trí cây
trồng là rất quan trọng.
Lượng mưa
Lượng mưa trung bình hằng năm 2153,4 mm, năm it nhất 1448mm
năm cao nhất 3000mm; số ngày mưa trung bình hằng năm 129 ngày. Cũng
như các nơi khác trong vùng, mưa vào thu đông, từ tháng 9 đến thang 12, tập
trung vào tháng 10 tháng 11, trong 4 tháng mưa, lượng mưa thường chiếm từ
60-70% tổng lượng mưa cả năm, hằng năm thường gây ra lũ lụt, tạo dòng
hướng gió này thổi từ biển vào đât liền, mang theo hơi nước tạo ra không khí
mát mẻ nhưng thời gian ngắn (tháng 2 và tháng 3).[6]
Giờ nắng
Số giờ nắng trung bình 1750 giờ/năm. Nắng nhiều từ tháng 2 đến tháng 8,
trong giai đoạn này số ngày âm u chỉ từ 2-3 ngày/tháng. Đặc biệt tháng 5,6,7,8 là
các tháng có nhiều ngày nắng nhất, tháng có giờ nắng cao nhất228 giờ/tháng
(tháng 5), số ngày âm u không quá 1 ngày/tháng, nắng nhiều kết hợp với gió tây
nam, lượng nước bốc hơi mạnh gây hạn nặng cho cây trồng nói chung và cây lúa
vụ hè thu nói riêng, nhất là thời kỳ lúa trổ.
Thời gian có giờ nắng thấp từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, tháng có giờ
nắng thấp nhất 70 giờ/tháng (tháng 2), số ngày âm u trong giai đoạn này từ 7-12
ngày/tháng, với gío nắng này thường xuyên gây ra thiếu ánh sáng cho cây lúa
vào đầu vụ đông xuân kết hợp nhiệt độ thấp làm cho cây lúa kém phát triển.[6]
Nguồn nước
Thôn Văn La thuộc vùng tử địa nguồn nước phục vụ sản xuất bị động
hoàn toàn, nguồn nước tưới chủ yếu lấy từ gần 100ha diện tích đồng ruộng
sâu một vụ của HTX và 3 HTX lân cận ( Lương Yến, Lệ Kỳ, Vỉnh Tuy ) cụ
đông xuân cơ bản đủ nước tưới. Một phần được bổ sung từ nguồn nước hồ Lệ
18
Kỳ, chủ yếu cho vụ hè thu nhưng không đáng kể, nên việc tổ chức sản xuất vụ
hè thu phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết năm đó. Đến nay thôn vẫn chưa xác
định được nguồn nước tưới chủ động cho cả 2vụ.
Đất đai
+ Địa hình: thôn Văn La có địa hình cao dần về phía tây và thấp dần về
phía đông và bắc, diện tích sản xuất lúa tạm chia thành 3 vùng khác nhau:
- Vùng ruộng cao có 11,7 ha chủ yếu phân bố ven khu vực dân cư và
vùng ven chân đồi.
- Vùng vàn, với diện tích 88,83 ha, có độ bằng phẳng khá tốt, đây là
vùng trồng lúa chủ yếu của thôn.
- Vùng ruộng sâu: với diện tích 25,00 ha, nằm phía đông bắc của thôn,
- Đất loại 5 = 33,87 ha = 26,15%
- Đất loại 6 = 38,10 ha = 29,43%
Qua đây ta thấy đất trồng lúa của thôn thuộc loại đất xấu, không có đất
loại 1 và loại 2, đất loại 3 chỉ chiếm 15,91%, tập trung đất loại 4,5,6, trong đó
đất loại 6 chiếm lớn nhất 29,43%[7] để có năng suất lúa cao đòi hỏi nông dân
cần tập trung thâm canh và đầu tư lớn.
Diện tích cây màu chiếm 14,52% nhưng lại là đất đồi bạc màu, không có
nguồn nước tưới, chủ yếu trồng cây khoai lang, được một vụ năng suất đạt thấp.
Diện tích đất trồng lúa và hoa màu năm 2010 giảm do 1 số hộ chuyển từ trồng
lúa sang nuôi cá nhưng không đạt được hiệu quả cao. Năm 2011 được sự giúp
đỡ của trạm khuyến nông đã chuyển giao một số giống có năng suất cao cho
nông dân nên người dân mở rộng thêm diện tích sản xuất nông nghiệp.
Tóm lại việc sử dụng đất đai, bố trí cơ cấu cây trồng của thôn còn nhiều
hạn chế chưa khắc phục được, xuất phát từ điều kiện đất đai và điều kiện địa
hình của thôn không thuận lợi, mức độ đầu tư xây dựng cơ bản chưa cao,
chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng diện tích canh tác.
Tình hình kinh tế
Sau hơn 15 năm đổi mới, với nhiều chủ trương chính sách đúng đắn của
Đảng, nhà nước, nền kinh tế của thôn có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đời
sống của nông dân, người lao động được ổn định và ngày càng phát triển. Một
mặt do khả năng đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, mặt khác do
20
chính sách đa dạng hóa ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp, sau khi thực
hiện chủ trương giao ruộng đất ổn định,lâu dài cho người nông dân, ngoài sản
xuất cây lúa đơn thuần, người nông dân còn kết hợp trồng các loại rau màu
khác như cây đậu đổ, cây mía, cây dưa hấu Các loại ngành nghề được phát
triển như nghề nề, mộc, chổi đót, xay xát, buôn bán nhiều hộ có thu nhập
cao. Chăn nuôi hộ gia đình cũng là điểm mạnh của nông dân, nhất là nuôi
trâu, bò, lợn, gà công nghiệp, vịt , ngan lai. Đã góp phần ổn định việc làm,
nâng cao mức sống cho người nông dân.
Điều kiện xã hội
Thôn Văn La năm dọc trục đường Quốc lộ 1A, gần núi, gần sông, gần
biển, gần trung tâm huyện lỵ, cách thành phố Đồng Hới 7Km về phia nam, rất
thuận tiện giao thông đi lại và giao lưu giữa các vùng, cơ sở hạ tầng ngày càng
phát triển, mạng lưới điện được phủ kín địa bàn, thôn có 100% hộ được sử dụng
điện quốc gia, 100% hộ có tivi, điện thoại, xa máy. Hệ thống tryền thanh cộng
đồng được tăng cường và cũng cố, phục vụ kịp thời trong sản xuất và đời sống.
Về giáo dục và đào tạo thôn Văn La là địa bàn hoàn thành phổ cập trung học cơ
sở sớm nhất huyện (năm 2000), trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường
100%, không có trẻ em bỏ học. Công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
được chú ý. Nhìn chung điều kiện xã hội phát triển tốt, đã tạo điều kiện cho nông
dân dễ dàng tiếp cận các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước về sản xuất
nông nghiệp và các thông tin khoa học kỷ thuật, các thông tin về giống cây trồng
vật nuôi, đặc biệt để tiếp nhận trao đổi quy trình kỷ thuật, tìm kiếm các giống lúa
mới đưa vào sản xuất một cách có hiệu quả.
4.2 Tìm hiểu thực trạng sản xuất nông nghiệp trong 3
năm qua ở địa bàn thôn
4.2.1.Tình hình phát triển trồng trọt
Cây Lúa:
Nhiều năm qua người dân trên địa bàn thôn vẫn lấy cây lúa là cây trồng
chính để tạo thu nhập. Ngoài ra họ còn trồng thêm một số cây trồng phụ để
tăng thu nhập như: xà lách, cải, ngò, tương ô, tiêu, chuối ba lùn nhưng thực
hiện việc này chỉ với kinh nghiệm, đồng vốn ít ỏi của chủ hộ và đặc biệt họ
chưa dám mạnh dạn đầu tư, sản xuất chủ yếu theo phương thức cổ truyền
chưa biết áp dụng các tiến bộ của khoa học kỷ thuật, quy mô sản xuất nhỏ lẻ.
Vì thế những năm gần đây lãnh đạo thôn đã chỉ đạo phát triển nông nghiếp
theo hướng chuyên môn hóa sản xuất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và áp dụng
tiến bộ khoa học kỷ thuật nhắm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người
nông dân. Bước đầu cũng đã có sự tăng thu nhập mặc dù còn chưa cao nhưng
22
Cây lúa:
Diện tích 2 vụ lúa là 129,53 ha, năng suất đạt 115 tạ/ha. Sản lượng thóc
1391,24 tấn.
Vụ đông xuân:
23
Diện tích gieo trồng 125 ha, đạt 98% kế hoạch , tỷ lệ giống mới chiếm
95,6% diện tích, trong đó cơ cấu giống chất lượng cao như: IR 38, CR203,
13/2, khang dân, Việc đánh giá, lựa chọn các giống lúa cho năng suốt cao,
chống chịu tốt, phù hợp với cơ cấu mùa vụ, chất đất, điều kiện tự nhiên, điều
kiện sinh thái trên địa bàn xã là rất cần thiết.
Bảng 2: Cơ cấu giống lúa vụ đông xuân trước năm 2009
Giống lúa
Năm
Trước 2009 Sau 2009
Dài ngày
Chiêm cũ Chiêm cũ
Trung Bình
VN10, VN20 S10, S20, P6
Ngắn ngày
Nếp rằn, lúa lai MTL32
(Nguồn theo số liệu phỏng vấn hộ)
Bảng 3: Cơ cấu giống lúa hè thu trước năm từ 2009 :
Trước 2009 Sau 2009
Trung bình CR203, nếp rằn HT1
Ngắn ngày CN2, OMC 504
(Nguồn theo số liệu phỏng vấn hộ)
Từ 2 bảng trên cho ta thấy: Thôn Văn La có số lượng giống tương đối
nhiều và thường xuyên được bổ sung về số lượng làm cho năng suất, sản lượng
tăng lên đáng kể. Qua tìm hiểu bà con nông dân chúng tôi nhận thấy rằng:
Đối vối vụ đông xuân: trên đồng đất Văn La trước năm 2009 giống
Hè thu Tạ/ha 40,30 42,50
Bình quân Tạ/ha 41,15 45,25
(Nguồn theo số liệu phỏng vấn hộ)
Qua bảng trên ta thấy việc thay đổi cơ cấu giống lúa của thôn rất có
hiệu quả: cụ thể vụ đông xuân 2009-2010 đã đưa các giống X23, X21, P6 vào
làm đại trà thay các giống X30, DT10, 13/2. Và đưa các giống 504, DT,
AD77 vào thay các giống thoái hóa như MTL32; OMCS4; Khang dân. Năng
suất cao như giống X23; X21 chống chịu chân ruộng chua phèn rất tốt; ở vụ
25