xác định ảnh hưởng của bột lá keo giậu (leucaena leucocephala) không xử lý và được xử lý bằng cách ngâm nước đến sức sản xuất của gà sinh sản lương phượng - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––

PHẠM THỊ THANH

XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ KEO GIẬU
(LEUCAENA LEUCOCEPHALA) KHÔNG XỬ LÝ VÀ
ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG CÁCH NGÂM NƯỚC ĐẾN SỨC
SẢN XUẤT CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Hùng
PGS. TS. Trần Thanh Vân THÁI NGUYÊN - 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả và nghiên cứu luận văn này là hoàn toàn trung thực và
chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
- Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.
- Mọi thông tin trích dẫn từ các tài liệu tham khảo được trình bày trong
luận văn này đã ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả

Phạm Thị Thanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Giới thiệu về cây keo giậu (Leucaena) 4
1.1.1. Tên gọi 4
1.1.2. Nguồn gốc, phân bố, phân loài và công dụng của keo giậu 4
1.1.3. Đặc tính sinh học của keo giậu 6
1.1.4. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của keo giậu 7
1.2. Các chất hạn chế tiêu hóa chủ yếu của keo giậu và phương pháp
loại bỏ, hạn chế độc tính của keo giậu 16
1.2.1 Mimosine và sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi mimosine
(3,4 - Dihydroxypyridine) 16
1.2.2. Tanin 20
1.2.3. Antitrypsine 21
1.2.4 Gôm galactane 21
1.2.5. Saponine 22
1.2.6. Các phương pháp loại bỏ và hạn chế các chất hạn chế tiêu hóa
của keo giậu 22
1.3. Tiềm năng sản xuất thức ăn - Phương pháp chế biến và tiêu
chuẩn chất lượng của BLKG 24
1.3.1. Tiềm năng sản xuất thức ăn 24
1.3.2. Phương pháp chế biến, tiêu chuẩn chất lượng và ảnh hưởng
của phương pháp chế biến đến chất lượng BLKG 27
1.4. Sử dụng keo giậu trong chăn nuôi gà 29
1.4.1. Trên thế giới 29
1.4.2. Ở Việt Nam 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iv
Chƣơng II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn v
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
CÁC TỪ VIẾT TẮT

AOAC : Association of Officical Analytical Chemists - Hiệp hội
các nhà phân tích hóa học
BLKG : Bột lá keo giậu
BLKGNN : Bột lá keo giậu ngâm nước
CT : Công thức
ĐC : Đối chứng
EAAI : Essential Amino Acid Index - Chỉ số acid amin thiết yếu
KL : Khối lượng
KLT : Khối lượng trứng
Kg : kilogam
LĐ : Lòng đỏ
g : gam
ME : Metabolizable Energy - Năng lượng trao đổi
SLT : Sản lượng trứng
TB : Trung bình
TN : Thí nghiệm
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TT : Tuần tuổi
TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn
TP : Thành phố
VCK : Vật chất khô


giống 69 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Cấu trúc hoá học của mimosine 18
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ đẻ trứng qua các tuần tuổi 56
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ đẻ trứng trung bình của gà (giai đoạn 27 - 45 tuần tuổi) 57
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nở của trứng 63
Hình 3.4. Biểu đồ tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng, trứng giống và gà giống 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, chăn nuôi sạch, an toàn đang trở thành vấn đề cấp thiết của
thế giới và Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu của chăn nuôi sạch, an toàn
người ta thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như: con giống, chuồng trại,
phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường và chế độ thức ăn dinh
dưỡng,…Trong những năm gần đây tình hình ô nhiễm môi trường gia tăng,
các sản phẩm động vật và sản phẩm tổng hợp nhìn chung đều chịu sự ảnh
hưởng của ô nhiễm môi trường, nhất là việc tồn dư kháng sinh, hoocmon, kim
loại nặng và kim loại độc. Vì vậy, việc sử dụng nguyên liệu sạch có nguồn

thu, khả năng sinh trưởng và tái sinh nhanh, có khả năng cải tạo đất và chống
xói mòn.
Tuy nhiên, keo giậu có chứa một số chất alcaloid có hại tới sinh trưởng,
sinh sản và sức khỏe của động vật. Những alcaloid này là nguyên nhân hạn
chế sử dụng sản phẩm keo giậu trong khẩu phần ăn của động vật dạ dày đơn
và gia cầm.
Trong các chất hạn chế tiêu hóa của keo giậu, mimosine là chất đáng
quan tâm, có thể gây ra rối loạn trong trao đổi protein, làm ảnh hưởng tới sinh
trưởng, sinh sản và sức khỏe của động vật. Tuy nhiên, người ta đã có nhiều
biện pháp loại bỏ hoặc làm giảm độc tính của mimosine để sử dụng keo giậu
với một tỷ lệ lớn trong khẩu phần ăn góp phần làm giảm chi phí và làm tăng
sản lượng, chất lượng trong chăn nuôi.
Người ta thừa nhận keo giậu là một loại thức ăn ngon miệng và khá
hoàn chỉnh đối với động vật nhai lại (Lulandala và Hall, 1991 [53]). Đối động
vật dạ dày đơn như: lợn, thỏ…ở những tỷ lệ thích hợp trong khẩu phần, keo
giậu đã có ảnh hưởng tốt đến tăng khối lượng, năng suất sữa ở động vật nhai
lại (Chee và Devendra, 1993 [26]). Nhưng đối với gà, ảnh hưởng của BLKG
đến khả năng sinh sản, ấp nở của trứng và sức khỏe của đàn gà chưa được
nghiên cứu nhiều và hệ thống, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3
Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Xác định ảnh hưởng của BLKG (Leucaena leucocephala) không xử
lý và được xử lý bằng cách ngâm nước đến sức sản xuất của gà sinh sản
Lương Phượng”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định tỷ lệ thích hợp của BLKG Leucaena leucocephala không xử

Keo giậu là một cây thuộc bộ họ đậu, sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa
học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit. Tên gọi “Leucaena” là danh pháp
quốc tế gọi chung cho loài cây này. Ngoài ra, keo giậu còn có các tên khác như:
Leucaena Glauca (Wind) Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L,
Acacia glauca (L.) Moenth. Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên
khác nhau. Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Moxico và Tây Ban Nha gọi
là Guaje; Philippine gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul;
Inđonexia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là Kao haole; Trung Quốc gọi là Yin hue
huan và Quần đảo Thái Bình Dương gọi là Tanggantangan….
Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng
bằng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc
tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979 [10]). Ở các địa phương
khác nhau, keo giậu cũng có các tên khác nhau. Miền Bắc gọi là Keo giậu; Miền
Trung gọi là Táo nhơn; Miền Nam gọi là Bình linh. Giống keo giậu mọc hoang ở
nước ta thuộc kiểu Hawaii (Dương Hữu Thời và cộng sự, 1982 [15]), năng suất
không cao (Ngô Văn Mận, 1977 [12]).
1.1.2. Nguồn gốc, phân bố, phân loài và công dụng của keo giậu
- Nguồn gốc
Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS,
1984 [57]). Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500 m so
với mặt biển, đất nửa khô hạn, hơi kiềm hay acid nhẹ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
Năm 1965, Người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin
để trồng làm thức ăn cho đàn dê của họ (Brewbaker, 1985 [24]; Oakes, 1968
[60]). Cuối thế kỷ VXII và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được đưa tới các
nước nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dương: Inđonexia, Malaysia, Paypua

súc, bắt đầu ra hoa lúc 6 - 12 tháng tuổi, cây ra hoa 1 lần/năm.
- Công dụng
Từ hàng ngàn năm nay, thổ dân ở thung lũng Tehuacan, Chiapas và
Yucatan (miền nam Mexico) đã biết sử dụng ngọn và quả non của keo giậu
làm rau xanh cho người, sử dụng keo giậu tươi làm thức ăn cho gia súc và coi
keo giậu như một cây trồng trong hệ thống trồng trọt. Keo giậu là loài cây có
nhiều công dụng và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: thức ăn
chăn nuôi, phủ xanh đất trống và đối trọc, cung cấp gỗ củi, chế biến lâm sản
là nguồn phân để cải tạo đất; chống xói mòn cho các vùng đất dốc, làm hàng
cây chắn gió, làm bóng mát cho các cây trồng khác, làm giải phòng hỏa, trồng
để trang trí cho khu vườn, nhà …
1.1.3. Đặc tính sinh học của keo giậu
Keo giậu là một loài cây có biên độ sinh thái rộng, thích ứng với kiểu
vùng khí hậu nhiệt đới (Sorensson, 1994 [71]), có khả năng kết hợp với các
loài vi khuẩn Rhizobium và nấm Mycorrhiza cộng sinh nên có thể chịu hạn,
sử dụng có hiệu quả nước và muối khoáng nằm sâu trong đất, cũng như nitơ
trong không khí để tạo ra bộ lá giầu protein, vitamin, khoáng vi lượng (NAS,
1984 [57]). Những vi khuẩn này Rhizobium này có khả năng hấp thu một số
lượng lớn nitơ hoặc hợp chất vô cơ chứa nitơ. Hầu hết nitơ được cố định trong
rễ cây đều tìm thấy trong lá và hạt của cây (NFTA, 1985 [59]). Do sự giầu có
về protein mà keo giậu có thể sử dụng như một nguồn phân hữu cơ có thể cải
tạo và tăng độ phì nhiêu trong đất. Ngoài ra, lá và hạt keo giậu còn được sử
dụng như một nguồn thức ăn cho động vật và hạt keo giậu còn được sử dụng
như một nguồn thức ăn protein cho con người, như ở Trung Mỹ, Inđonexia và
Thái Lan (Sethi và Kulkam, 1995 [67]).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7


8
sự, 1987 [32]). Ronia và cộng sự (1979) [65] cho biết, hàm lượng protein
trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân bố ở giữa có hàm
lượng protein là 23,8 - 28,2 % VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein
là 17,4 - 24,1 % VCK.
Hàm lượng protein của keo giậu cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
giai đoạn sinh trưởng của cây, khoảng cách giữa các lần thu hoạch, giảm theo
tuổi của cây, khác nhau giữa các vị trí khác nhau trên cây.
El - Ashry và cộng sự (1993) [34] cho biết, hàm lượng protein của lá đạt
mức cao nhất ở giai đoạn đầu sinh trưởng và nó giảm dần với tuổi của cây.
Gupta và cộng sự (1986) [40] khi nghiên cứu hàm lượng protein 9 loài
keo giậu cho biết, hàm lượng protein trong lá của giống K454, loài
L.Diversifolia là cao nhất (15,65 % VCK ).
D’Mello và Frasar (1981) [29] đã quan sát thấy, hàm lượng protein thô
của các mẫu BLKG thu hoạch tại Thái Lan (Châu Á) thấp hơn so với mẫu
BLKG thu hoạch tại Malawi (Châu Phi).
Mùa vụ là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein thô trong hỗn
hợp thân, cành, lá của keo giậu. Garcia (1988) [37] cho biết, hàm lượng
protein thô trong hỗn hợp thân cành lá được thu hoạch vào tháng 2, 3, 4, 5, 6
trong năm lần lượt là: 34,2; 25,8; 20,5; 19,4; 20,5 % VCK.
Phương pháp chế biến cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng
protein của keo giậu. D’Mello và Fraser (1981) [30] nhận thấy, hàm lượng
protein thô của BLKG thu hoạch tại Malawi được chế biến bằng phương pháp
phơi khô dưới ánh nắng mặt trời cao hơn hàm lượng protein thô của BLKG
chế biến bằng phương pháp sấy khô trong lò sấy ở nhiệt độ cao (29,41 so với
28,13 % VCK).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


864
432
Methionine
88
175
96
64
88-100
42
Threonine
244
469
390
138
266
133
Serine
331
156
-
206
279
139
Acid glutamic
1138
813
-
911
640
320

256
290
148
244-653
122
Leucine
448
457
494
283
444
222
Tyrosine
238
-
232
162
208-263
104
Mimosine
0
0
0
763
343
172
Phenylalanine
319
256
307

10
Người ta nhận thấy, protein của lá và hạt keo giậu khá giầu các acid amin
không thay thế như isoleucine, leucine, phenylalanine và histidine, còn hàm
lượng lysine và methionine ở mức tương đối thấp so với một số loại thức ăn
của động vật. Thành phần và hàm lượng các acid amin trong BLKG có thể so
sánh tương đương với thành phần và hàm lượng các acid amin trong khô dầu
đậu tương và bột cá (bảng 1.1). Các acid amin chứa lưu huỳnh trong lá và hạt
keo giậu ở mức thấp nhưng động vật nhai lại có khả năng tự tổng hợp những
acid amin này, còn đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm thì sự thiếu hụt
các acid amin chứa lưu huỳnh phải bổ sung chúng vào trong khẩu phần
(Garcia và cộng sự, 1996 [37]).
- Các chất khoáng
Keo giậu là loài cây giầu các chất khoáng đặc biệt là trong thân và lá, hàm
lượng các chất khoáng là khá cao và có nhiều biến dộng, nó phụ thuộc vào các
loài keo giậu và ngay trong cùng một loài cũng có sự biến động giữa các giống,
các phần và các giai đoạn sinh trưởng của cây, mùa vụ, giai đoạn thu hoạch, vị
trí địa lý và hàm lượng khoáng có trong đất nơi cây sinh sống.
Garcia và cộng sự (1996) [38] đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 65
báo cáo khoa học cho biết, hàm lượng trung bình các chất khoáng có trong
keo giậu như sau: canxi là 1,80 % (biến động từ 0,88 - 2,90 %); phốt pho là
0,26 % (biến động 0,14 - 1,38 %); lưu huỳnh là 0,22 % (biến động 0,14 - 0,29
%); magie là 0,33 % (biến động từ 0,17 - 0,48 %); natri là 1,34 % (biến động
0,22 - 2,66 %); kali là 1,45 % (biến động từ 0,79 - 2,11 %).
El - Ashry và cộng sự (1993) [34] cũng cho biết, hàm lượng khoáng
tổng số tăng lên với tuổi của cây, hàm lượng canxi, kali và magie tăng lên dần
dần với sự tăng lên của tuổi cây, trong khi đó hàm lượng phốt pho, sắt, kẽm,
mangan lại giảm đi khi tuổi của cây tăng lên.
Các kết quả nghiên cứu của Garcia (1988) [37] cho biết, hàm lượng
khoáng tổng số của keo giậu biến đổi qua các tháng thu hoạch (từ tháng 2 đến
tháng 6) lần lượt là: 8,6; 6,3; 5,5; và 6,1 % VCK.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12
chậm lại sự suy giảm hàm lượng caroteniod của BLKG trong thời gian bảo
quản hoặc trong quá trình chế biến.
- Chất xơ
Keo giậu có hàm lượng chất xơ khá cao so với các loại thức ăn ngũ cốc
khác nhưng lại thấp hơn nhiều so với các loại thức ăn xanh khác. Do hàm
lượng chất xơ cao nên đã hạn chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong
keo giậu, đặc biệt là đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm. Hàm lượng chất
xơ trong keo giậu cũng thay đổi theo giống và các phần khác nhau của cây,
ngay trong cùng một loài hàm lượng chất xơ cũng khác nhau.
Garcia và cộng sự (1996) [38] cho biết, hàm lượng chất xơ thô trong
hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35 % (biến động từ 32 - 38 % VCK),
trong BLKG là 19,2 % VCK (biến động từ 18,0 - 20,4 %VCK).
- Các chất hạn chế tiêu hóa có trong lá keo giậu
Ngoài các thành phần dinh dưỡng, keo giậu còn chứa một số alcaloid
có hại tới sinh trưởng, sinh sản và sức khỏe của động vật như là mimosine,
tanin, antitrypsine, gôm galactane, saponine và flavone. Đây chính là nguyên
nhân làm hạn chế sử dụng các sản phẩm của keo giậu trong khẩu phần ăn của
động vật (chi tiết được trình bày ở phần sau).
1.1.4.2. Giá trị dinh dưỡng của keo giậu
Giá trị dinh dưỡng của keo giậu phụ thuộc vào hàm lượng các chất
dinh dưỡng có trong keo giậu và khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng đó,
đặc biệt là protein.
Upadhyay và cộng sự (1974) [80] cho biết, khả năng tiêu hóa VCK là
71 %, protein thô là 78 %, lipit 48 % và xơ thô là 57 % của hỗn hợp cành,
lá keo giậu chất lượng tốt ở động vật nhai lại.

các chất dinh dưỡng biến đổi theo mùa (bảng 1.2). Hàm lượng protein thô và
β caroten đạt giá trị cao nhất vào mùa khô (tháng 11).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14
Bảng 1.2. Chất lƣợng bột lá keo giậu chế biến bằng phƣơng pháp
phơi khô ở các tháng trong năm
Tháng
Chỉ tiêu
Tháng 4
(vụ xuân-hè)
Tháng 8
( vụ hè-thu)
Tháng 11
(vụ đông xuân)
Protein thô (%)
23,50
26,45
29,41
Xơ thô (%)
10,37
9,04
8,41
Canxi (%)
2,14
1,90
1,47
Phốt pho (%)

9,4
Soedomo, 1984
Philippin
24,4
9,6
6,4
49,0
10,6
Gantt, 1953
Thái Lan
25,5
14,3
4,6
46,5
9,4
Wanapat, 1993
Malawi
28,6
8,9
4,7
50,9
6,9
D’Mello, 1981
TB thế giới
26,4
11,2
5,3
48,1
9,0
-

TPHCM
2
X

Protein thô
31,52
30,58
28,55
27,32
29,56
Lipit
4,71
4,05
3,93
5,58
4,57
Xơ thô
9,12
8,97
9,25
9,15
9,12
DXKN
3
41,46
41,25
43,29
45,02
42,75
Khoáng tổng số

Thái nguyên;
2
T P Hồ chí Minh;
3
Dẫn xuất không nitơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16
Keo giậu là một cây thuộc bộ đậu có thành phần hóa học và hàm lượng
các acid amin phong phú và biến động do nhiều nhân tố khác nhau như: loài,
giống, mùa vụ, vị trí địa lý, chất đất, giai đoạn sinh trưởng, giữa các phần khác
nhau của cây. Keo giậu có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng cần cho sự phát
triển của động vật như: protein, lipit, khoáng, vitamin và các sắc tố,…dễ dàng
tiêu hóa bởi động vật. Đồng thời có giá trị năng lượng trao đổi khá cao, có thể
đáp ứng được một phần nhu cầu năng lượng của động vật. Tuy nhiên, keo giậu
có hạn chế do có các độc tố như: mimosine, tanin, antitrysine, gôm galactane…
làm ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh trưởng của động vật.
1.2. Các chất hạn chế tiêu hóa chủ yếu của keo giậu và phƣơng pháp loại
bỏ, hạn chế độc tính của keo giậu
Keo giậu là loại cây thuộc bộ họ đậu giầu dinh dưỡng như: protein,
vitamin, các sắc tố, khoáng vi lượng…có lợi cho cơ thể động vật. Bên cạnh đó keo
giậu cũng chứa nhiều độc tố hạn chế sử dụng keo giậu trong khẩu phần ăn của
động vật. Đó là các chất như: mimosine; 3,4 - Dihydroxypyridine (DHP); tanin;
antitrypsine; gôm galactane; saponine…
1.2.1. Mimosine và sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi mimosine
(3,4 - Dihydroxypyridine)
1.2.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng mimosine của keo giậu
Mimosine là một acid amin phi protein có trong thành phần của cây keo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status