LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Phát triển sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng
TMCP Á Châu” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực. Các số liệu có nguồn
trích dẫn, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong các công
trình nghiên cứu khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô Trường Đại Học Kinh Tế Quốc
Dân đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong thời gian học tập tại trường. Đặc biệt, tôi
xin chân thành cảm ơn PGS-TS Nguyễn Tiến Dũng đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn
thành tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã tạo điều
kiện cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Hải Phòng, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Vũ Hải Ninh
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
TMCP Thương mại cổ phần
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
WTO Tổ chức thương mại thế giới
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ATM Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động
POS Máy chấp nhận thanh toán thẻ
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
HĐQT Hội đồng quản trị
LC Thư tín dụng
CMND Chứng minh nhân dân
hưởng hết sức sâu sắc đến việc phát triển sản phẩm dịch vụ tại ngân hàng đó có đúng
đắn và hợp lý hay không. v
Sau khi nêu lên những lý luận cơ bản, tác giả trình bày những vai trò to lớn của việc
phát triển sản phẩm dịch vụ tại ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng
không chỉ thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng mà còn tạo điều kiện thuận lợi để
ngân hàng thâm nhập thị trường, mở rộng thị phần, tăng doanh số hoạt động, thu lợi
nhuận cao, tạo uy tín, thương hiệu và tăng sức mạnh cạnh tranh của mình, đồng thời
đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển đất nước. v
Sau khi nêu lên những lý luận cơ bản, tác giả trình bày những vai trò to lớn của việc
phát triển sản phẩm dịch vụ tại ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng
không chỉ thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng mà còn tạo điều kiện thuận lợi để
ngân hàng thâm nhập thị trường, mở rộng thị phần, tăng doanh số hoạt động, thu lợi
nhuận cao, tạo uy tín, thương hiệu và tăng sức mạnh cạnh tranh của mình, đồng thời
đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển đất nước. v
Thứ tư, xu hướng và kinh nghiệm phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Từ việc nêu
lên những kinh nghiệm đúc kết từ một ngân hàng TMCP quốc doanh tại Việt Nam và
các ngân hàng có vốn nước ngoài, tác giả chỉ ra một số bài học cơ bản cho NHTM Việt
Nam vi
Thứ tư, xu hướng và kinh nghiệm phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Từ việc nêu
lên những kinh nghiệm đúc kết từ một ngân hàng TMCP quốc doanh tại Việt Nam và
các ngân hàng có vốn nước ngoài, tác giả chỉ ra một số bài học cơ bản cho NHTM Việt
Nam vi
CHƯƠNG 2: TÁC GIẢ TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI
CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU VỚI HAI NỘI DUNG
CHÍNH vi
CHƯƠNG 2: TÁC GIẢ TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI
CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU VỚI HAI NỘI DUNG
CHÍNH vi
Thứ nhất, tổng quan về Ngân hàng TMCP Á Châu vi
Thứ nhất, tổng quan về Ngân hàng TMCP Á Châu vi
ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Đặc biệt, trong giai đoạn
trước mắt, các NHTM khó có thể cạnh tranh bằng công cụ lãi suất, thì các ngân
hàng càng phải chú trọng đến phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện
nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chính với
hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tuỳ theo cách phân loại và tuỳ
theo trình độ phát triển của ngân hàng. Trong các năm gần đây, hoạt động của
ngành Ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn đối với thị trường tiền tệ diễn biến bất
thường cùng với những tác động xấu của khủng hoảng tài chính thế giới, tỷ giá,
giá vàng, thị trường tiền tệ diễn biến phức tạp, chính sách thắt chặt tiền tệ của
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước là các nhân tố đang gây thêm nhiều áp lực để
các NHTM tự đổi mới mình.
Các dịch vụ ngân hàng hiện đại phát triển chậm, có những ngân hàng đã triển
khai nhiều nghiệp vụ và dịch vụ hiện đại nhưng phần lớn không phát triển được, đặc
biệt là các nghiệp vụ như bao thanh toán, Future, Option. Các ngân hàng chưa kết
nối rộng rãi hệ thống thanh toán thẻ trong nước cũng như với các tổ chức thẻ quốc
tế, do đó chưa phát huy được hết những tiện ích của thẻ, gây lãng phí nguồn lực ở
ngân hàng, chưa thực sự tiện ích cho khách hàng. Một số ngân hàng đã đầu tư khá
lớn vào hệ thống ATM, nhưng chất lượng dịch vụ chưa tốt nên hiệu quả chưa cao.
Những thách thức nói trên đang ngày càng gia tăng gây áp lực đối với các
NHTM phải thay đổi chiến lược phát triển, nâng cao chất lượng, và đặc biệt phải đa
dạng sản phẩm dịch vụ nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó. Mỗi
ngân hàng phải xây dựng một chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ mới, có chiến
lược marketing phù hợp. Tăng cường hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, giới thiệu
i
sản phẩm dịch vụ ngân hàng để tạo điều kiện cho khách hàng làm quen và nhận
thức được tiện ích của các sản phẩm cung cấp.
Tóm lại, đối với dịch vụ ngân hàng tài chính, đặc biệt là dịch vụ bán lẻ, các
ngân hàng Việt Nam cần củng cố, nâng cao chất lượng dịch vụ, sử dụng chất lượng
dịch vụ như một công cụ cạnh tranh hữu hiệu từ đó hình thành nên nền tảng, phát
nhóm các giải pháp cho việc phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Á Châu
+ Phương pháp so sánh: đánh giá các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên
việc so sánh số liệu của Ngân hàng Á Châu giữa các năm tài chính với nhau cũng
như so sánh với số liệu của các ngân hàng tiêu biểu.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng
TMCP Á Châu
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm dịch vụ của Ngân
hàng TMCP Á Châu.
CHƯƠNG 1, TÁC GIẢ TRÌNH BÀY CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT
TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VỚI BỐN
NỘI DUNG CHÍNH.
Thứ nhất, ngân hàng thương mại.
Trước hết cần tìm hiểu khái niệm thế nào là ngân hàng thương mại (NHTM).
Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm
gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có
tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa,
ngược lại, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh
tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định
chế tài chính không thể thiếu được. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái
niệm về NHTM.
iii
NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa
dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung
ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác
nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của xã hội.
Đồng hành với sự phát triển của kinh tế và đòi hỏi của thực tiễn, từ một số
ít chức năng cơ bản như thanh toán, tín dụng và huy động, ngày nay NHTM đã
mới có hàm lượng công nghệ cao.
Có hai hình thức phát triển danh mục sản phẩm là theo chiều rộng và theo
chiều sâu. Sự phát triển sản phẩm theo chiều rộng thể hiện ở việc gia tăng số lượng
danh mục sản phẩm dịch vụ bằng cách tạo ra sản phẩm mới hoàn toàn khác biệt
hoặc mở rộng dòng sản phẩm cho phân khúc thị trường mới. Sự phát triển sản phẩm
theo chiều sâu thể hiện ở việc cải tiến tính năng của sản phẩm dịch vụ đó hoặc là cải
tiến kiểu dáng sản phẩm dịch vụ.
Để đánh giá sự phát triển theo chiều sâu sản phẩm dịch vụ ngân hàng cần căn
cứ trên các tiêu chí cơ bản như sự đa dạng và khác biệt sản phẩm, cơ cấu sản phẩm
dịch vụ như thế nào và sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng đến đâu. Bên cạnh đó để đánh giá sự phát triển theo chiều rộng thì căn cứ
vào các tiêu chí định lượng như quy mô doanh thu, tốc độ tăng trưởng, lượng khách
hàng và thị phần….
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển sản phẩm dịch vụ như:
các yếu tố thuộc về pháp luật, kinh tế, xã hội, thị trường tài chính. Những yếu tố nội
tại của ngân hàng như nguồn vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, chính sách cũng
có những ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến việc phát triển sản phẩm dịch vụ tại ngân
hàng đó có đúng đắn và hợp lý hay không.
Sau khi nêu lên những lý luận cơ bản, tác giả trình bày những vai trò to lớn
của việc phát triển sản phẩm dịch vụ tại ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm dịch
vụ ngân hàng không chỉ thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng mà còn tạo điều
kiện thuận lợi để ngân hàng thâm nhập thị trường, mở rộng thị phần, tăng doanh số
hoạt động, thu lợi nhuận cao, tạo uy tín, thương hiệu và tăng sức mạnh cạnh tranh
của mình, đồng thời đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển đất nước.
v
Thứ tư, xu hướng và kinh nghiệm phát triển sản phẩm dịch vụ ngân
hàng. Từ việc nêu lên những kinh nghiệm đúc kết từ một ngân hàng TMCP quốc
doanh tại Việt Nam và các ngân hàng có vốn nước ngoài, tác giả chỉ ra một số bài
học cơ bản cho NHTM Việt Nam
CHƯƠNG 2: TÁC GIẢ TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN
vụ mới như thẻ, ngân hàng điện tử, sản phẩm liên kết vẫn đóng góp mức thu nhập
hết sức khiêm tốn so với kỳ vọng và đầu tư của ngân hàng Á Châu.
Cuối cùng tác giả đưa ra những đánh giá chung, nêu ra kết quả đạt được cũng
như những hạn chế trong việc triển khai các sản phẩm dịch vụ tại ngân hàng thương
mại cổ phần Á Châu.
Với định hướng đa dạng hóa sản phẩm và hướng đến khách hàng để trở
thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, ngân hàng Á Châu hiện đang thực hiện
đầy đủ các chức năng của một ngân hàng bán lẻ. Danh mục sản phẩm của ngân
hàng Á Châu đa dạng và tập trung vào nhiều phân đoạn khách hàng trong đó bao
gồm khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Sau khi triển khai thực hiện
chiến lược tái cấu trúc, việc đa dạng hóa sản phẩm, phát triển sản phẩm mới để đáp
ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng đã trở thành mục tiêu xuyên suốt
trong hoạt động của ngân hàng Á Châu. Các sản phẩm của ngân hàng Á Châu được
thiết kế và vận hành dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, có độ an toàn và bảo mật
cao. Cơ cấu phát triển sản phẩm tại ngân hàng Á Châu hợp lý, cân đối giữa sản
phẩm tín dụng và phi tín dụng.
Tuy nhiên, những vấn đề nảy sinh trong hoạt động kinh doanh cho thấy hoạt
động phát triển sản phẩm mới tại ngân hàng Á Châu còn có nhiều hạn chế, những
hạn chế này cũng là điểm cố hữu thường gặp ở nhiều NHTM Việt Nam. Danh mục
sản phẩm dịch vụ hiện tại của ngân hàng ngân hàng Á Châu nghèo nàn, đơn điệu.
Đặc biệt là khi so sánh với các ngân hàng có vốn nước ngoài hoạt động tại Việt
Nam, danh mục sản phẩm của họ cho thấy chiến lược phát triển có chiều sâu của
họ, đảm bảo phục vụ nhu cầu của khách hàng không chỉ đầy đủ, kịp thời mà còn
bền vững, lâu dài.
vii
Nền kinh tế khủng hoảng, thị trường tài chính biến động tiêu cực đã làm lộ
thiên những yếu kém trong hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam nói chung
và của ngân hàng Á Châu nói riêng. Nguồn thu từ đầu tư chứng khoán, kinh doanh
vàng, kinh doanh ngoại hối hoặc giảm sút nghiêm trọng hoặc bấp bênh, dựa phần
lớn vào thị trường. Mặc dù ngân hàng Á Châu có nhiều chính sách nhằm nâng cao
mại hàng đầu Việt Nam. Với tầm nhìn như vậy, định hướng thực hiện của ngân
hàng Á Châu được chia thành hai hướng cơ bản là: phát triển thành một tập đoàn tài
chính lớn mạnh trong tương lai; và thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa
dạng hoá. ngân hàng Á Châu tăng trưởng với ba hình thức mở rộng hoạt động theo
chiều rộng; hợp tác liên minh với các tổ chức tài chính khác và hợp nhất, sáp nhập
trong điều kiện cho phép. Hoạt động tăng trưởng theo chiều rộng này sẽ nâng cao
độ phủ rộng và ảnh hưởng của ngân hàng Á Châu đối với nền kinh tế. Bên cạnh đó
chiến lược đa dạng hoá cũng hết sức cần thiết để giúp ngân hàng Á Châu từng bước
trở thành nhà cung cấp dịch vụ tài chính toàn diện.
Xây dựng định hướng lâu dài và thiết lập những mục tiêu trước mắt, cụ thể là
đến năm 2015 là từng bước để ngân hàng Á Châu vươn tới tầm nhìn là một trong
bốn ngân hàng thương mại hàng đầu ở Việt Nam về quy mô, hiệu quả và an toàn.
Căn cứ vào lý luận trên và thực trạng hoạt động phát triển sản phẩm dịch vụ
đã được phân tích ở chương 2, tác giả đã nêu ra các giải pháp tăng cường chất lượng
công tác phát triển sản phẩm ngân hàng ngân hàng Á Châu như sau:
Giải pháp tạo sự khác biệt cho sản phẩm. Trong đó, ngân hàng Á Châu có
thể tạo ra sự khác biệt trong cung ứng sản phẩm dịch vụ của mình theo ba cách là
thông qua con người, môi trường vật chất và qui trình cung ứng dịch vụ. Ngoài ra
ngân hàng Á Châu không nên tạo sự khác biệt về giá cả. Thậm chí đôi khi việc xây
dựng một cơ chế phí, lãi minh bạch, thống nhất, ổn định có thể tạo ấn tượng tốt, thu
hút thiện cảm từ khách hàng.
Giải pháp bó sản phẩm. Theo đó ngân hàng Á Châu cung cấp nhiều sản
phẩm dịch vụ trong một bó chung nhằm thỏa mãn nhu cầu tối đa của một nhóm đối
tượng khách hàng cụ thể. Giải pháp cung cấp sản phẩm theo bó hay bán bó sản
phẩm nhằm mục tiêu cao nhất là bán thêm càng nhiều sản phẩm cho một đối tượng
ix
khách hàng. Đây là phương pháp kết hợp giữa phát triển sản phẩm theo chiều
rộng và theo chiều sâu. Để thực hiện được việc giải pháp bán bó sản phẩm thì
trước hết cần phân khúc thị trường nhỏ. Sau đó đối với từng phân khúc khách
hàng, khoanh vùng nhu cầu và lựa chọn một số sản phẩm cho bó sản phẩm phân
Giải pháp đẩy mạnh hoạt động marketing thông qua việc quảng bá thương
hiệu ngân hàng có chiên lược cụ thể; phân khúc khách hàng và tiếp thị có trọng
điểm cũng như nâng cao chất lượng công tác triển khai sản phẩm mới và thực hiện
tốt công tác dự báo thị trường.
Không thể không kể đến các giải pháp về chính sách, định hướng phát triển
sản phẩm dịch vụ; phát triển thị trường; giải pháp chiến lược liên kết nhằm hoàn
thiện hơn công tác phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Cuối cùng tác giả đã đề ra một số kiến nghị đến Chính phủ và Ngân hàng
Nhà nước nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển thị trường tiền tệ tài chính
lành mạnh, tự do trong khuôn khổ pháp luật, phân quyền hợp lý và nâng cao năng
lực quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động kinh doanh mà đặc biệt phát triển sản phẩm dịch vụ tại ngân
hàng ngân hàng Á Châu theo mục tiêu định hướng của ngân hàng, đáp ứng được đòi
hỏi của thực tiễn, đóng góp cho sự phát triển của ngân hàng Á Châu nói riêng, thị
trường ngân hàng, tài chính và nền kinh tế Việt Nam nói chung.
xi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thị trường tài chính Việt Nam đã đón nhận
các ngân hàng quốc tế không chỉ mạnh về tiềm lực tài chính mà còn có nhiều kinh
nghiệm trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Do đó, hội nhập quốc
tế đã mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với các tổ chức
cung ứng dịch vụ ngân hàng trong nước. Sự cạnh tranh của một ngân hàng trong
nước không còn giới hạn trong các Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng
thương mại nhà nước mà còn mở rộng ra với các ngân hàng quốc tế, các tổ chức
định chế tài chính. Trong thời gian tới sự cạnh tranh này sẽ diễn ra ngày một gay
gắt và khốc liệt hơn, đặc biệt là khi Việt Nam đang dần thực thi mạnh mẽ những
cam kết của mình. Đứng trước những cơ hội, thách thức đó, các Ngân hàng thương
mại trong nước đang từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua
dịch vụ tại Ngân hàng Á Châu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tìm hiểu các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
phổ biến trên thị trường hiện nay, thực trạng phát triển các sản phẩm dịch vụ này,
trên cơ sở đó nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc phát triển đa dạng sản
phẩm dịch vụ ngân hàng và tác động của nó đến khả năng nâng cao vị thế của Ngân
hàng Á Châu.
Phạm vi nghiên cứu: tình hình hoạt động kinh doanh và phát triển sản phẩm
dịch vụ của Ngân hàng Á Châu từ năm 2005 đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp luận: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp: trên cơ sở phân tích lý thuyết và thực
tiễn công tác phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đề tài khái quát hóa bản
chất, phân tích thực trạng công tác đó tại Ngân hàng Á Châu, từ cơ sở đó đưa ra
2
nhóm các giải pháp cho việc phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Á Châu
+ Phương pháp so sánh: đánh giá các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên
việc so sánh số liệu của Ngân hàng Á Châu giữa các năm tài chính với nhau cũng
như so sánh với số liệu của các ngân hàng tiêu biểu.
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: tự điều tra, phỏng vấn chọn mẫu.
+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: tập hợp dữ liệu từ các nguồn dữ liệu
nội bộ của Ngân hàng Á Châu và các nguồn ngoại vi như sách báo, các phương tiện
truyền thông, thông tin thương mại, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước
và một số Ngân hàng thương mại khác…
- Phương pháp xử lý dữ liệu:
+ Phương pháp xử lý toán học đối với các thông tin định lượng.
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Sự thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm của ngân hàng thương mại
(NHTM) đã gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống
NHTM không những đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển
của nền kinh tế hàng hoá, mà ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến
giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn
thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Cho đến thời
điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM. Theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ
một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu
cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ
chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. Đạo luật
ngân hàng Cộng hòa Pháp (1941) định nghĩa: Ngân hàng thương mại là những cơ
sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức
ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong
các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức
tín dụng năm 2010 Khoản 1,2,3 Điều 4 đã định nghĩa:
• Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt
động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
• Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
5
chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
• Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật
này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
(Luật các tổ chức tín dụng năm 2010).
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài
chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản
các ngành trong nền kinh tế. Không những thế do ngân sách nhà nước có hạn nên
việc tạm thời vay nợ tại các NHTM để cân đối thu chi là việc tất nhiên, trong trường
hợp như vậy tín dụng NHTM đã tạo ra sự trôi chảy cho hoạt động của Chính phủ.
Nhìn chung, việc cải thiện tình trạng mất cân đối ngân sách không thể đơn thuần
dựa vào phát hành hay mua lại trái phiếu. Các NHTM cung ứng vốn cho ngân sách
bằng cách mua các chứng khoán công cộng. Nhờ đó mà nguồn vốn tín dụng của các
NHTM đã gián tiếp thực hiện các mục tiêu công cộng của Chính phủ.
Thứ năm là chức năng tài trợ ngoại thương: ngoại thương được hình thành
và bắt đầu do hoạt động buôn bán quốc tế, ngoài ra lý do hình thành ngoại thương
bắt nguồn từ sự khác nhau giữa hệ thống tiền tệ ở các nước, năng lực tài chính của
người mua và người bán ở các nước khác nhau. Từ đó NHTM cung ứng các nghiệp
vụ thanh toán quốc tế: chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, tín dụng thư, mua và bán sec
du lịch….
Thứ sáu là chức năng ủy thác: Việc thu nhập tăng đã tạo ra khả năng tích lũy
lành mạnh do đó góp phần vào việc phát triển các dịch vụ ủy thác và NHTM là một
đơn vị đáng tin cậy cung cấp dịch vụ này. Mỗi cá nhân tích lũy một khối lượng tài
sản lớn, thậm chí chỉ ở mức trung bình cũng có thể xuất hiện nhu cầu muốn phân
chia số tài sản đó trước khi qua đời. Với hình thức ủy thác, người ủy thác, các văn
phòng ủy thác có trách nhiệm sử dụng vốn để đầu tư và quản lý số vốn này.
Thứ bảy là chức năng bảo quản an toàn vật có giá: Chức năng bảo quản vật
có giá ra đời ngay trước cả chức năng tín dụng vốn là chức năng cơ bản và chủ yếu
của ngân hàng. Vì vậy NHTM phải là nơi kiên cố để bảo quản tiền bạc và các vật có
7
giá. Công việc bảo quản vật có giá được phân thành 2 bộ phận khác nhau trong một
ngân hàng: cho thuê két sắt bảo quản; ký thác và trực tiếp bảo quản vật có giá của
khách hàng. Với két sắt bảo quản ký thác kháng hàng có quyền kiểm tra tài sản của
mình vào bất cứ lúc nào và các NHTM chỉ đơn thuần cung cấp kho bảo quản và các
phương tiện cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho các tài sản của khách hàng. Khác
với hình thức trên việc bảo quản vật có giá liên quan trực tiếp đến chứng khoán như
trái phiếu và cổ phiếu được giữ lại làm vật thế chấp cho các khoản nợ vay và chứng