HC VIN CHNH TR - HNH CHNH QUC GIA H CH MINH
BO CO TNG HP KT QU NGHIấN CU
TI KHOA HC CP B NM 2011
Mó s: B.11-15 chính sách phát triển văn hóa đô thị
ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
C quan ch trỡ :
VIN VN HểA V PHT TRIN
Ch nhim ti :
TS. Lấ TRUNG KIấN
Th ký ti :
ThS. Lấ XUN KIấU
9101
H NI - 2011
1
Chương 1:
NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN VĂN HOÁ ĐÔ THỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY11
1.1. Quan niệm về chính sách phát triển văn hoá đô thị
11
1.2. Những yêu cầu đối với chính sách phát triển văn hoá đô
thị ở nước ta hiện nay
35
Chương 2:
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ ĐÔ THỊ - THỰC
TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA45
2.1. Thực trạng chính sách và thực hiện chính sách phát triển
văn hoá đô thị ở nước ta hiện nay
45
2.1.1. Quy hoạch không gian và kiến trúc đô thị 45
2.1.2. Chính sách xây dựng nếp sống văn minh đô thị 61
2.1.3. Chính sách phát triển công nghiệp văn hóa ở các đô thị
KẾT LUẬN
152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
154
1BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ACVN
Hiệp hội các đô thị Việt Nam
BDNT
Biểu diễn nghệ thuật
BSA
Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp
CHXHCNVN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CNH, HĐH, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CTQG
Chính trị quốc gia
JPHRD
Tổ chức Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Nhật Bản
GDP
Tổng sản lượng nội địa
GIS
Công ngh
ệ thông tin địa lý
kinh tế - xã hội, trong quá trình đó văn hoá đô thị trở thành một giá trị xã hội
đối với tất cả các quốc gia, dân tộc. Bước sang thế kỷ XXI, vấn đề đời sống đô
thị, lối sống đô thị, văn hoá đô thị đ
ang đặt ra trên bình diện toàn cầu. Đối mặt
với những vấn nạn của đời sống văn hoá đô thị nẩy sinh trong quá trình phát
triển, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang tìm tòi, thực thi những chính sách
phát triển văn hoá đô thị nhằm giữ gìn những giá trị văn hoá dân tộc, bảo tồn
bản sắc, hưóng đến một sự bền vững cho quá trình phát triển của mình.
1.2. Trong sự
nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Nền văn hóa mà chúng
ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa và
phát huy truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân t
ộc, vừa tiếp thu tinh hoa của
văn hóa nhân loại, khẳng định được tầm vóc, trình độ, bản lĩnh và bản sắc của
văn hóa Việt Nam trong giao lưu và hợp tác quốc tế. Đảng đã đề ra Chiến
lược phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa với chính sách mở rộng, chủ động hội nhập
khu vực và quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với
kinh tế tri thức, phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại.
Trong quá trình thực hiện chiến lược đó, chính sách xã hội nói chung,
chính sách văn hóa nói riêng có vai trò to lớn với tư cách là động lực cho sự
phát triển bền vững của con người và xã hội. Khi những nhu cầu vă
n hóa
ngày càng vượt xa những nhu cầu về vật chất, khi con người được đặt vào vị
trí trung tâm của các chiến lược phát triển thì tầm quan trọng của chính sách
văn hóa càng được khẳng định. Chính sách xã hội mà hạt nhân ngày càng lớn
Theo đó, đô thị hoá trong những năm tới sẽ hết sức năng động vì sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp hoá hiện đại hoá với tỷ lệ tăng trưởng
dân số đô thị cao, do luồng dân di cư ồ ạt từ nông thôn đổ về các thành phố.
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh sẽ là hai đô thị cuốn hút rất nhiều dân nhập
cư từ
các vùng nông thôn và sẽ là hai đô thị có dân số tăng nhanh nhất.
1
Tổng cục thống kê. Báo cáo sơ bộ kết quả Tổng điều tra dann số và nhà ở năm 2009.
2
www.Hanoinet. Kinh tế & đô thị ngày 06/10/2008.
3
www.Hanoinet. Kinh tế & đô thị ngày 02/10/2008.
3
Sự phát triển vô cùng năng động của quá trình đô thị hoá cùng với quá
trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và đẩy mạnh chủ động hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế đã làm
cho đời sống văn hoá đô thị ở nước ta diễn ra vô cùng phức tạp, và phong
phú. ngoài những hình thức văn hoá đáp ứng những nhu cầu v
ăn hoá trong
sáng lành mạnh, đem lại sức sống mới, sáng tạo cho con người, là những
luồng văn hoá kích thích những nhu cầu thiếu lành mạnh như: kích động bạo
lực, khơi gợi cuộc sống dâm ô truỵ lạc, thú tính và đây là nguyên nhân trực
tiếp dẫn đến sự tha hoá về đạo đức, lối sống xã hội, từ đó dẫn đến sự tha hoá
về chính trị - xã hội. Trong môi trường đó con ng
ười đô thị, nhất là giới trẻ dễ
dàng nẩy sinh những nhu cầu giải trí không phù hợp với thuần phong mỹ tục
của dân tộc, thậm chí dẫn đến những hành vi phản văn hoá, làm mất an sinh
xã hội, làm cho đời sống văn hoá đô thị càng trở nên phức tạp với những tệ
được nghiên cứu để giải đáp những vấn đề vừa cấp bách, vừ
a cơ bản trong
quá trình đô thị hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
2.1. Vấn đề chính sách văn hoá trên thế giới
Sau hàng loạt những khủng hoảng về lối sống, về giá trị, về mô hình
phát triển của xã hội đô thị nhiều quốc gia, nhân loại chú tr
ọng hơn tới văn
hóa. Chính sách phát triển văn hoá (chính sách văn hoá) - khái niệm cốt lõi
của khoa học quản lý văn hóa đã trở thành một mối quan tâm của giới nghiên
cứu và lãnh đạo, quản lý vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX.
Năm 1967, Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hiệp quốc
(viết tắt là UNESCO) đã tổ chức một hội nghị bàn tròn chuyên gia để bàn
luận về chủ
đề chính sách văn hóa. Sau rất nhiều tranh luận, các nhà khoa
học, các nhà quản lý văn hóa của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra một
quan niệm về chính sách văn hóa như sau: “Chính sách văn hóa là một
tổng thể các thực tiễn xã hội, có ý thức và có suy nghĩ, những can thiệp và
không can thiệp nhằm mục đích thoả mãn một số nhu cầu văn hóa bằng
cách sử dụng tối ưu tất cả các ngu
ồn vật chất và nhân lực mà một xã hội
nào đó sắp đặt vào thời điểm được cân nhắc kỹ”.
5
Năm 1998, tại hội nghị ở Stockhom, trong chương trình hành động của
mình, UNESCO một lần nữa lại khẳng định muốn phát triển bền vững nền
văn hóa các quốc gia phải hoàn thiện chính sách văn hóa của mình.
Cũng với tinh thần đó, một vài công trình được xuất bản ở châu Âu và
Mỹ đã đề cập tới chính sách văn hóa với tư cách là một điều kiện khung của
6
- Tạo được một phong trào văn hóa xã hội rộng lớn, phát huy được mọi
tiềm năng sáng tạo và hoạt động văn hóa nghệ thuật theo định hướng xây
dựng đời sống văn hóa tươi vui, lành mạnh.
- Xây dựng được một đội ngũ cán bộ văn hóa nghệ thuật đồng bộ (cán
bộ quản lý, nghiên cứu, nghiệp vụ, kỹ thuật trên các lĩnh vực hoạt động), có
kiế
n thức chính trị, nghiệp vụ chuyên môn, tư cách đạo đức, nhiệt tình.
- Từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng mà trọng tâm là các thiết chế
văn hóa với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại và các phương tiện truyền
thông đại chúng.
- Tăng cường sự hợp tác và giao lưu văn hóa quốc tế vừa làm phong
phú đời sống văn hóa của nhân dân mỗi nước, vừa tiếp thu nhữ
ng tinh hoa và
thành tựu văn hóa thế giới.
- Ngoài ngân sách do Nhà nước cấp cho ngành văn hóa, huy động được
nhiều nguồn tài chính của các tổ chức xã hội, tư nhân, nhân dân lao động
nhằm bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, tài trợ cho những tài năng sáng tạo văn
hóa nghệ thuật, hỗ trợ các vùng, các địa phương có nhiều khó khăn trong việc
phát triển và hoạt động văn hóa nghệ thuật.
Như vậy có thể nhậ
n thấy vấn đề chính sách văn hoá nói chung, chính
sách phát triển văn hoá đô thị nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của
nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học trên thế giới.
2.2. Quá trình tư duy lý luận về chính sách phát triển văn hoá đô thị
ở nước ta
Ở Việt Nam, cùng với sự gia tăng nhanh chóng của tốc độ đô thị hoá,
văn hoá đô thị đã trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các
nhà khoa họ
c nước ta. Ngay từ năm 1999 Học viện Chính trị Quốc gia đã xây
t cập bộ máy quản lý đô thị” của tác giả Hoa Linh Lan đăng trên
trang báo điện tử Tổ quốc ngày 9/3/2009; “Đô thị hoá và sự biến đổi nhu
cầu văn hoá của cư dân đô thị nước ta” của Lê Trung Kiên, đăng trên tạp
chí Xây dựng & Đô thị số 6 - 2009.
Vấn đề cơ bản của văn hoá đô thị được các tác giả đề cập tới là chính
sách phát triển văn hoá
đô thị trong các lĩnh vực như: Nếp sống văn minh đô
thị, quy hoạch phát triển đô thị, kiến trúc đô thị, thiết chế văn hoá đô thị và
các hoạt động văn hoá - nghệ thuật, hoạt động vui chơi giải trí, bảo vệ môi
trường cảnh quan trong đời sống đô thị, v.v
8
Vấn đề chính sách văn hóa, trong đó có chính sách phát triển văn hoá đô
thị cũng được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý quan tâm. Một số cuộc
Hội thảo khoa học xung quanh chủ đề này đã được tổ chức. Năm 2003, Uỷ ban
Văn hóa, thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội đã tổ chức Hội thảo bàn về
chính sách văn hóa, và năm 2006 Viện Văn hóa và Phát triển (Học viện CTQG
Hồ
Chí Minh) cũng tổ chức Hội thảo Chính sách văn hóa cấp bách hiện nay.
Các cuộc Hội thảo này đã đặt vấn đề nghiêm túc về việc xem xét, đánh giá
chính sách văn hóa ở nước ta ở nhiều góc độ, từ góc độ quản lý vĩ mô đến vi
mô. Thậm chí, có ý kiến đặt ra là nước ta đã có chính sách văn hóa hay chưa?
Tất nhiên, trong khuôn khổ của các cuộc Hội thảo, những tham luận, ý kiến đó
không phả
i là chân lý cuối cùng nhưng nó cũng là những gợi mở đáng lưu ý
trong quá trình nghiên cứu về chính sách phát triển văn hoá đô thị.
Trong khuôn khổ hợp tác giữa tổ chức SIDA (Thụy Điển) và Bộ
Văn hóa Thông tin Việt Nam, một Dự án nghiên cứu về chính sách văn hóa
đã được triển khai và giao cho Viện Văn hóa Thông tin là đơn vị chủ trì. Dự
án này đã hoàn thành giai đoạn 1 là điều tra về thực trạng văn hóa thông tin
thực tiễn, Nxb Văn hóa - Thông tin. Như
ng nhìn chung, tác giả này mới
chỉ dừng lại ở việc lược thuật, giới thiệu quan niệm về chính sách văn
hóa và cách thức triển khai chính sách văn hóa trong thực tiễn của một
số nước phương Tây, đặc biệt là Đức và Mỹ.
Một số bài viết đăng trên các tạp chí cũng đề cập tới chính sách
văn hóa như: Nguyễn Quang Long Về khái niệm hành chính công và
chính sách văn hóa, Tạp chí văn hóa nghệ thu
ật số 4/2004, … Về cơ
bản, các bài viết này mới chỉ dừng lại việc đặt vấn đề chính sách văn
hóa như một phương diện của chính sách xã hội và cố gắng đưa ra một
cách hiểu về chính sách văn hóa.
Trong quá trình khảo cứu các tư liệu liên quan đến chính sách phát triển
văn hóa đô thị trong và ngoài nước, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Trên thế giới, nghiên cứu chính sách văn hóa đã được tiến hành nửa thế
kỷ nay. Việc xây dựng chính sách phát triển văn hoá đô thị tuỳ thuộc vào điều
kiện cụ thể của mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi thể chế chính trị khác nhau.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chính sách phát triển văn hóa đô thị vẫn
đang là một khoảng trống, sự thiếu hụt các công trình nghiên cứu về vấn đề
10
này đã nói lên điều đó. Xây dựng một khái niệm khoa học về chính sách văn
hóa, chính sách phát triển văn hoá đô thị, cũng như cơ cấu của nó, đặc biệt là
chỉ ra những điểm cần hoàn thiện trong quá trình xây dựng chính sách phát
triển văn hoá đô thị trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, mở
cửa, hội nhập quốc tế hiện đ
ang là những câu hỏi cần được làm rõ.
3. Mục tiêu của đề tài:
Khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách và việc thực hiện chính sách
phát triển văn hóa đô thị ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
Chúng ta đang sống trong một thế giới đô thị hoá - đó là một thực tế
đang được thừa nhận một cách phổ biến. Theo thông báo của Liên hiệp quốc,
từ năm 2007, dân số đô thị trong tổng số gần 7 tỷ người của trái đất vượt qua
tỷ lệ 50%. Có nghĩa nhân loại đang và sẽ sống trong một thế
giới đô thị hơn là
một thế giới nông thôn cổ truyền. Trong lịch sử, đô thị luôn giữ vai trò đầu
tầu, là người dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi theo mình trên con đường
tiến bộ và văn minh. Quá trình phát triển đô thị cũng thường là quá trình tiến
bộ, mang ánh sáng văn minh của xã hội hiện đại đến các vùng xa xôi hẻo
lánh, nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức của người dân ở đ
ây.
Tại Việt Nam, trong hội thảo về phát triển đô thị bền vững gần đây,
lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết bình quân mỗi tháng cả nước mọc lên một đô
thị mới. Thông tin cũng cho biết theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
dự báo đến năm 2015 dân số đô thị cả nước khoảng 35 triệu người, đến năm
2020 con số này tăng lên khoả
ng 44 triệu người. Năm năm tiếp theo dân số đô
thị khoảng 52 triệu người, chiếm khoảng 50% dân số cả nước.
Với tốc độ phát triển nhanh của các đô thị và cùng với nó là sự gia tăng
dân số đô thị như hiện nay, chính sách phát triển văn hóa đô thị giữ một vị trí
vô cùng quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước và dân tộc.
Như
ng để chính sách làm tốt vai trò của nó, là “phát triển” văn hóa đô thị,
trước hết cần phải làm rõ nội hàm của văn hóa đô thị.
1.1.1 Văn hoá đô thị
Khi đề cập đến thuật ngữ văn hóa đô thị rõ ràng là đã bao hàm ý nghĩa
để phân biệt với văn hóa nông thôn. Vì thế, để làm rõ những đặc trưng của văn
12
hóa đô thị, cần đặt nó trong tương quan so sánh với văn hóa nông thôn.
Về mặt thời gian, đô thị ở Việt Nam ra đời muộ
n, trong đó, yếu tố “đô” nổi
trội hơn yếu tố “thị”, thậm chí, trong nhiều trường hợp, yếu tố “đô” quyết định
yếu tố “thị”, khi “đô” bị di dời sang một địa điểm khác hoặc suy yếu, thì “thị”
cũng tàn lụi theo. Biểu tượng văn hóa của đô thị chính là những công trình
13
kiến trúc, mang tính nghệ thuật cao, được quy hoạch bài bản rõ ràng định hình
cho không gian văn hóa đô thị.
Chủ nhân của văn hóa nông thôn là những cư dân làm nghề nông, chủ
yếu là trồng lúa nước. Chất “tĩnh” của nghề trồng lúa nước, tính mùa vụ của
nghề này chi phối mạnh mẽ lối sống, cách ứng xử, tâm lý, tập quán của người
nông dân. Những cư dân trồng lúa nước sống hài hòa với thiên nhiên, nhịp
sống c
ủa họ chậm rãi, tâm lý sản xuất nhỏ phổ biến. Trong khi đó, chủ nhân
của văn hóa đô thị là các thị dân. Nhiều người trong số các cư dân đô thị có
quan hệ mật thiết với những chủ nhân của văn hóa nông thôn, thậm chí, bản
thân họ từng là nông dân, nhưng vì những lý do khác nhau, họ ly nông, ly
hương và trở thành những cư dân đô thị. Khi trở thành thị dân, do điều kiện
sống thay
đổi nên họ trở nên năng động hơn, nhịp sống nhanh hơn.
Nếu như ở nông thôn, quan hệ huyết thống, quan hệ cùng nơi cư trú và
quan hệ lợi ích là những nguyên nhân gắn kết cá nhân thành các nhóm xã hội,
thành cộng đồng, trong đó, nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân quan trọng
nhất thì ở các đô thị, nguyên nhân thứ hai và thứ ba đáng kể hơn. Điều này chi
phối mạnh mẽ tới sự hình thành lối sống coi tr
ọng tình làng nghĩa xóm ở nông
thôn, vì người trong làng thường là “dây mơ rễ má” với nhau cả nên tồn tại
cách ứng xử “hòa cả làng”, “phép vua thua lệ làng”; trong khi đó, ở thành thị,
người ta “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, tính độc lập, cá nhân rất cao và
bảo tồn và hưởng thụ văn hoá, giá trị văn hóa. Người dân đô thị ngày càng
chú trọng đến chất lượng các loại hình dịch vụ văn hoá, có nhiều điều kiện
để chọn lựa cách thức hưởng thụ giá trị văn hoá khác nhau.
Trong tổ chức đời sống văn hoá, cộng đồng cư dân đô thị đã cơ bản
khắc phục được tác phong s
ản xuất nhỏ, trì trệ, luộm thuộm, manh mún;
hình thành nên tác phong công
nghiệp hiện đại; xây dựng được ý thức chấp
hành pháp luật, ý thức công dân và ý thức cá
nhân. Xã hội công dân đang
manh nha hình thành ở khu vực đô thị. Tuy nhiên, sự tác động của phương
thức sản xuất kinh doanh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội
nhập cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề về văn hoá không phù hợp với v
ăn hoá
dân tộc như các loại hình văn hoá “trái luồng”, độc hại: sách báo, băng đĩa
đồi trụy, xuất bản lậu…. Tình trạng văn hoá đọc, viết đang bị mai một là
15
một ví dụ tiêu biểu về phong cách sống của cư dân đô thị hiện đại, đặc biệt
đối với một bộ phận không nhỏ của thế hệ thanh thiếu niên hiện nay.
Đối với cư dân đô thị, kinh tế thị trường thậm chí đã làm thay đổi thế
giới quan, nhân sinh quan, tình cảm và tâm lý của họ. Về mặt tích cực, kinh
tế thị trường làm thay đổi thái độ đối v
ới lao động của người thành thị: tất cả
phải vươn ra thị trường, tất cả phải kiếm được việc làm, phải có thu nhập,
không trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước và sự ban phát của xã
hội. Thái độ đối với gia đình, bạn bè, xã hội cũng có sự thay đổi theo hướng
hiện đại, đó là sự thông cảm, sẻ chia và tôn trọng tự do cá nhân. Người dân
thành th
ị ngày nay đã vượt qua được tính ích kỷ, tự ti của người nông dân và
là một biện pháp nhất thời, cụ thể. Một hội nghề nghiệp, một câu lạc bộ, một
công ty hay một quốc gia đều có những chính sách của mình. Về phương
diện học thuật, chính sách là một ph
ạm trù quan trọng của khoa học chính
trị. Nó liên quan đến việc thực thi quyền lực của giai cấp cầm quyền được tổ
chức thành nhà nước. Thông qua việc thực hiện các chính sách của nhà
nước, giai cấp cầm quyền tiến hành các biện pháp nhằm đạt được các mục
tiêu của mình trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Chính vì vậy, khái
niệm chính sách được đề cập đến thực chất là chính sách công.
Khoa học nghiên cứ
u về chính sách đã có một bề dày phát triển trên
thế giới. Tại phương Tây, các nhà chính trị và khoa học bắt đầu tập trung
phân tích chính sách công từ giữa những năm 1940, chủ yếu do vai trò của
trung tâm của nhà nước trong công cuộc tái thiết sau Đại chiến thế giới lần
thứ II. Trước đó, họ mới chỉ tập trung vào các quá trình chính trị chứ không
phải là sản phẩm của quá trình đó. Vào những năm 1950, lĩnh vự
c nghiên
cứu độc lập về chính sách mới trở nên rõ ràng sau một loạt các nghiên cứu cơ
bản cũng như sự công nhận của giới khoa học và giới chính trị.
Trong những năm 1960, giới nghiên cứu chính sách ở phương Tây đã
đạt được những thành tựu nhất định, đặc biệt trong việc ứng dụng thực tiễn.
Năm 1970, 1980 đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của lĩnh v
ực nghiên
cứu này. Các trường đại học đều thành lập chuyên ngành riêng về phân tích
chính sách, cung cấp các chuyên gia tư vấn và đánh giá chính sách cho toàn
bộ hệ thống chính trị.
Ở Việt Nam, những năm gần đây, các nghiên cứu về chính sách cũng
đã được công bố trên sách, báo và tạp chí chuyên ngành. Các nghiên cứu này
chủ yếu tập trung vào những nội dung cụ thể của chính sách từ góc độ
6
.
4
T. Lowi (1964), "Chính sách công, nghiên cứu tình huống và lý thuyết chính trị", Tạp chí
Chính trị thế giới (16), tr.15-24.
5
B.Guy Peters (1990), Chính sách công ở Mỹ, Nxb Chatham House, trang 6.
6
Viện Khoa học chính trị - Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1999), Tìm hiểu về
khoa học chính sách công, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 12.
18
James Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn: “Chính sách là một
quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể
trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”
7
.
Chính các quan niệm triết học xã hội đã ảnh hưởng rất lớn đến quan
niệm về chính sách. Sự khác biệt trong các quan niệm về chính sách còn bắt
nguồn từ việc lựa chọn các phương pháp khoa học khác nhau để giải quyết
vấn đề. Hơn nữa, bản thân thuật ngữ khoa học cũng có lịch sử của nó được
gắn bó chặt chẽ với lịch sử tích luỹ và phát triể
n tri thức nhân loại.
Tuy có nhiều định nghĩa và giữa các định nghĩa có những khác biệt đáng kể,
nhưng cái cốt lõi của chính sách vẫn là vấn đề mang bản chất xã hội - nhà nước.
Nói đến chính sách là nói đến các nội dung quan trọng sau đây:
- Chính sách là sản phẩm của một quá trình thực thi quyền lực chính trị.
- Quá trình hoạch định chính sách chủ yếu được diễn ra trong nội bộ
và điều kiện cụ thể.
Quan niệm về chính sách văn hóa
Để sự quản lý nhà nước về văn hóa có hiệu quả, đương nhiên chúng ta
không thể thiếu chính sách văn hóa, với tư cách là một công cụ quan trọng
hàng đầu của quá trình quản lý.
“Chính sách văn hoá” với tư cách là một thuật ngữ khoa học ra đời sau
chiến tranh thế giới lần thứ II và được phổ bi
ến trong giới hoạt động văn hoá.
Tuy nhiên, cũng giống như nhiều khái niệm khoa học khác, cho đến nay, có
khá nhiều những cách hiểu khác nhau về “chính sách văn hoá”.
Tổ chức văn hoá, khoa học, giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO)
định nghĩa: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động,
các cách làm thực tiễn và các phương pháp quản lý hành chính hay ngân
sách dùng làm cơ sở cho hoạt động văn hóa của Nhà nước”
8
.
Hội nghị bàn tròn của các chuyên gia văn hóa tại Monaco 1967 thì
quan niệm về chính sách văn hoá như sau:
“Chính sách văn hóa là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức
và có suy tính kỹ về những can thiệp hay không can thiệp của nhà nước (vào
các hoạt động văn hóa), nhằm vào việc đáp ứng các nhu cầu văn hóa của
nhân dân, bằng cách sử dụng tối ưu tất cả những nguồn vật chất và nhân lự
c,
mà một xã hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm thích hợp”.
Vấn đề chính sách văn hoá còn được tiếp tục bàn tới trong các hội
nghị quốc tế tiếp sau đó như Hội nghị toàn cầu về chính sách văn hoá tổ
8
Tổng thuật chính sách văn hóa của các nước trên thế giới, Nxb Văn hóa - thông tin,
H.1993, trang 12.
chính sách văn hoá là các cơ quan quyền lực. Nhưng mặt khác, chính sách
văn hóa chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có sự tham gia đồng thời của cả
3 thành tố: cộng đồng văn hóa, giới chính trị và công chúng. Nói cách
khác, chính sách văn hóa không phải chỉ là sự hoạch định riêng của Nhà
nước mà nó phải thể hiện cả quyề
n lợi và trách nhiệm của cộng đồng văn
hóa và công chúng.
21
Những tiền đề quan trọng để hoạch định chính sách văn hóa là: định
hướng chính trị, những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể nhất định trong từng
giai đoạn lịch sử, cũng như khả năng nắm bắt được những nhu cầu văn hóa
của các nhóm xã hội và công dân.
Ở đây, cũng cần phải phân biệt ba khái niệm: đường lối văn hóa, chính
sách v
ăn hóa và các giải pháp. Đường lối văn hóa bao gồm những nguyên tắc
và định hướng chung nhất nhằm phát triển văn hóa, thường mang tính dài
hạn. Chính sách văn hóa là sự cụ thể hóa, thể chế hóa định hướng đó của
đường lối, trong trung hạn và ngắn hạn. Các giải pháp là sự cụ thể hóa của
chính sách, thường có ý nghĩa là các hành động cụ thể, thực tiễn vì vậy
thường mang tính ngắn hạn hay tình huống.
Quan ni
ệm về chính sách phát triển văn hóa đô thị
Thuật ngữ “phát triển” ở đây được hiểu là làm cho thay đổi, làm cho
lớn lên về số lượng và chất lượng. Phát triển văn hóa đô thị là làm cho văn
hóa đô thị có sự biến đổi theo chiều hướng tích cực cả về số lượng và chất
lượng. Những giá trị hiện có của văn hóa đô thị sẽ được gìn giữ
, được nhân
lên, những giá trị mới được hình thành, được xây dựng để văn hóa đô thị trở
nên “tiên tiến”, hiện đại mà vẫn giàu bản sắc dân tộc.