GS. TS. Dương Phú Hiệp (chủ nhiệm)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA
VIỆC PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VÀ CON NGƯỜI VIỆT
NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP
QUỐC TẾ
Mã số KX.03.05/06-10 8841Năm 2010
1 Những người tham gia chính:
2
MỤC LỤC
Mở đầu 5
1. Sự cần thiết và tính cấp bách của vấn đề
5
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
Chương I
Khái niệm văn hóa và con người và các khái niệm liên quan
18
1. Khái niệm Văn hóa 18
2. Phát triển văn hóa 22
3. Khái niệm Bản sắc văn hóa 23
4. Khái niệm Khuôn mẫu văn hóa 24
5. Khái niệm Văn minh 24
a) Không gian văn hóa và chiều cộng cảm của không gian văn hóa
89
b) Chiều nhân bản của không gian văn hóa 93
c) Chiều hoạt động sáng tạo của không gian văn hóa 98
d) Chiều lịch đại của không gian văn hóa 102
e) Thuyết tương tác biểu trưng và ý nghĩa của nó trong nghiên cứu các
chiều kích của không gian văn hóa
104
g) Không gian văn hóa truyền thống và sự phát triển 110
h) Xây dựng một không gian văn hóa vì sự phát triển 118
3. Phương pháp tiếp cận thành tố văn hóa 119
a) Vì sao cần tiếp cận thành tố văn hóa 120
b) Phương pháp tiếp cận thành tố văn hóa 121
4. Phương pháp tiếp cận giao thoa văn hóa 122
a) Những nguyên lý và nội dung của phương pháp tiếp cận giao thoa văn
hóa
122
b) Ý nghĩa của phương pháp tiếp cận giao thoa văn hóa 124
c) Giao thoa văn hóa Việt Nam và các nền văn hóa khác 125
d) Giao thoa văn hóa - đối thoại giữa các nền văn hóa 127
5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp 129
6. Phương pháp tiếp cận khu vực 131
7. Phương pháp tiếp cận giải pháp “đánh đổi” 136
8. Phương pháp tiếp cận định lượng văn hóa 141
9. Thuyết tương đối về văn hóa (Cultural relativosm) 146
10. Một số phương pháp tiếp cận đáng chú ý, đặc biệt nghiên cứu con người 151
4
5
MỞ ĐẦU
Đi tìm cơ sở lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu và phát
triển văn hóa và con người Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc
tế là vấn đề rất khó. Lâu nay chúng ta quen với tư duy cũ trong việc đánh giá các
lý thuyết không mácxít về văn hóa và con người, thường là định kiến và phê
phán các lý thuyết đó, nhất là các lý thuyết của phương Tây. Ngày nay, chúng ta
cần phải nhìn nhận lại một cách khách quan các lý thuyế
t về văn hóa và con
người, tìm ra nhưng mặt hay và những mặt dở của từng lý thuyết. Nhưng việc đó
đòi hỏi một lực lượng đông đảo các nhà khoa học xã hội, các nhà nghiên cứu
văn hóa phối hợp cùng nghiên cứu, cùng đánh giá và đòi hỏi phải có nhiều thời
gian. Ở đây, trong phạm vi cuốn sách này, tác giả xin mạnh dạn bước đầu thử
đưa ra một số nhận đị
nh, một số quan niệm của mình về cơ sở lý luận và phương
pháp luận của việc nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay.
1. Sự cần thiết và tính cấp bách của vấn đề
+ Có lẽ trong lịch sử loài người chưa có thời gian ngắn ngủi nào lại tập
trung nhiều sự biến đổi to lớn, đa dạng, phức tạp và có ảnh hưởng sâu sắc đến
đời s
ống của các dân tộc và vận mệnh của loài người như hiện nay.
- Trước hết phải kể đến cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát
triển tăng tốc mang lại những biến đổi sâu sắc về mọi mặt của đời sống nhân
loại. Công nghệ thông tin đã tạo ra “văn minh màn hình”, mạng internet, và
hàng tỷ điện thoại di động. Khoa học và công nghệ sinh họ
c đã đem lại kết quả
nghiên cứu về sinh hóa tế bào và gen di truyền và mở ra bí mật của sự sống.
Trong sản xuất có nhiều công nghệ mới về tạo giống cây con. Đối với con người
đã sáng tạo ra rất nhiều dược phẩm, y cụ, liệu pháp hoàn toàn chưa có trước đây:
vấn đề sức khỏe con người và bệnh tật mang tính thời đại của nhân loại, v.v…
Cả ở đây nữa cũng đòi hỏi phải nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận
của sự phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh những vấn đề toàn cầu
đang trở nên nóng bỏng.
+ Chưa bao giờ thế giới sôi động về các vấn đề văn hóa và con người như
những năm tháng chúng ta đang sống. Hàng chục lý thuyết, hàng trăm định
nghĩ
a về khái niệm văn hóa và con người, quan điểm rất khác nhau, phương
pháp tiếp cận cũng rất khác nhau, tranh luận rất quyết liệt xoay quanh vấn đề
này. Chính trong thế giới sôi động ấy chúng ta càng cần phải nghiên cứu cơ sở
lý luận và phương pháp luận của việc phát triển văn hóa và con người Việt Nam.
+ Chúng ta đang sống trong một thế giới mà hòa bình, hợp tácvà phát
triển đang là xu hướng quan trọng. Các nước đề
u phấn đấu cho mục tiêu phát
triển. Điều mới mẻ ở đây là muốn phát triển phải coi văn hóa vừa là mục tiêu,
vừa là động lực, vừa là hệ điều tiết của sự phát triển; con người được đặt vào vị
trí trung tâm của mọi chủ trương, chính sách và kế hoạch phát triển. Chính do
vai trò của yếu tố văn hóa và con người trong sự phát triển ngày càng tăng, nên
việc nghiên cứ
u cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự phát triển văn hóa và
con người là càng cần thiết và cấp bách.
7
Đề tài cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước, nhất là
đề nào đó, đã quan tâm đế
n cơ sở khoa học và phương pháp tiếp cận đối với đối
tượng nghiên cứu.
8
+ Trong số bốn thành công nói trên gắn với vấn đề cơ sở lý luận và
phương pháp luận, không thể không đề cập đến một số nhà khoa học sau đây:
(1) GS.VS. Hồ Tôn Trinh chủ nhiệm đề tài KX.06.01 “Hệ quan điểm về
mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển”. Ở đây, tác giả đã nêu lên cơ sở lý luận
và phương pháp luận của việc nghiên cứu vấn đề
văn hóa và phát triển trên cơ
sở nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới và dựa vào quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần lưu ý đến một số luận điểm trong
đề tài này:
- Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chủ đạo của
văn hóa. Nếu không có chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
thì văn hóa nước ta không có cái cốt lõi về quan điểm, tư tưởng, do đó
không thể đóng vai trò là động lực của phát triển. Chỉ có chủ nghĩa nhân
văn đích thực khi chủ nghĩa Mác – Lênin chủ trương cải tạo thế giới, trong
đó có cải tạo xã hội, cải tạo con người.
- Khi bàn về yếu tố nội sinh và ngoại sinh của văn hóa, các tác giả đề tài
cho rằng t
ừ trước tới nay ta chỉ có khái niệm bản địa, dân tộc chứ không
có khái niệm nội sinh (endogen). Khái niệm nội sinh là do UNESCO đưa
ra và ngày nay nó đã được tiếp nhận ở hầu khắp các nước và trở thành
Nam vừa có kinh nghiệm, vừa có vốn liếng, sợ gì nạn “đồng nhất hóa”, nạn “bị
sát nhập”.
Cũng trong cuốn sách này, tác giả Trường Lưu có bài “Mấy vấn đề
phương pháp luận về văn hóa và con người trong sự phát triển văn hóa”. Ông
cho rằng khi con người ngày càng khám phá những bí mật của thế giới xung
quanh thì bản thân con người cũng t
ự khám phá mình, đặt cho mình một hướng
đi, một lẽ sống và một cách tiếp cận chân lý. Nhân loại đang bước vào ngưỡng
cửa của văn minh trí tuệ, do đó cần phải có cách nhìn về văn hóa và con người
khả dĩ phù hợp với một thời đại đã khác xưa nhiều lần, phải đẻ ra một quan niệm
mới về văn hóa đi đôi với quan niệm lại về con ng
ười. Tác giả nhấn mạnh rằng
trước đây người ta đề cập đến vấn đề con người thường nặng về nhân sinh quan
hẹp và khu biệt nó với các hệ tư tưởng, nhưng giờ đây nội hàm của nó đã được
mở rộng vào mọi lĩnh vực liên quan đến con người, do hoàn cảnh lịch sử đã thay
đổi và đối tượng văn hóa mà con người sáng tạo đòi hỏi ph
ải khác hơn, phù hợp
với tiến trình văn minh trí tuệ.
(3) Đề tài KX.05.01 do GS.TS. Hồ Sĩ Quý làm chủ nhiệm có tên gọi “Cơ
sở phương pháp luận của việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và
nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế”. Trước hết, tác giả nêu lên hàng loạt vấn đề do cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện
đại, do nền kinh tế thị trường, do toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế, giao lưu văn hóa đang đặt ra những vấn đề mới trong việc nghiên cứu và phát
triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trên thế giới và ở Việt Nam. Từ đó
tác giả đề xuất một số quan điểm có ý nghĩa định hướng đối với việc phát triển
văn hóa, khoa học, giáo dục và con người. Đặ
c biệt, tác giả đã dành nhiều trang
bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và con người.
trị.
- Chủ nghĩa Mác – Lênin là phương pháp luận chung về khoa học nghiên
cứu con người. Nghiên cứu con người theo phương pháp tiếp cận hoạt
động - giá trị - nhân cách là chìa khóa để nghiên cứ
u con người và nhân
cách.
- Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là phương pháp luận nghiên cứu con
người. Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là luôn luôn gắn lý luận với
thực tiễn, thực hiện sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong biến đổi,
“biến hóa” liên tục và thường xuyên nhằm đạt hiệu quả thiết thực và cụ
thể. Phép biện chứng đó nhấn mạ
nh quan điểm phát triển, quan điểm lịch
sử và quan điểm thực tiễn khi phân tích về con người.
- Khoa học về con người phải xuất phát từ hai luận điểm cơ bản: (1) Nghiên
cứu con người cụ thể; (2) Nghiên cứu những cá nhân hiện thực, những
11
hoạt động và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ. Từ hai luận điểm
cơ bản đó việc nghiên cứu con người cần tiến hành theo phương pháp tiếp
cận hoạt động - giá trị, bao hàm trong đó cả phương pháp tiếp cận lịch sử,
phát triển, hệ thống.
- Phải đặt đối tượng nghiên cứu - vấn
đề con người vào trong phạm trù thời
gian và không gian. Con người hướng về tương lai nhưng con người
không bao giờ đứt đoạn với lịch sử. Mỗi con người Việt Nam tuy chỉ sinh
12
- Các quan điểm được đề xuất cũng rời rạc, chưa tạo thành một hệ quan
điểm có mối liên hệ lôgic chặt chẽ, do đó còn chưa phát huy được tác
dụng định hướng, chỉ đạo đối với việc nghiên cứu và phát triển văn hóa và
con người.
- Hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn của sự phát triển văn hóa và con
người tuy đã được
đề cập, nhưng chưa phải đã trả lời một cách rõ ràng,
nhất là trong hoàn cảnh mới hiện nay, chẳng hạn như thế nào là bản sắc
dân tộc, là văn hóa tiên tiến, là kế thừa và phát triển, truyền thống và cách
tân, truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, dân tộc và quốc tế, phổ
cập và nâng cao, ? Đồng thời, khi nghiên cứu vấn đề con người cũng còn
hàng loạt vấn đề có th
ể coi là còn để trống như sự thống nhất giữa cái tự
nhiên với cái lịch sử, cái sinh vật với cái xã hội, cái vật lý và cái tâm lý,
thân và tâm Về mặt lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu,
phát triển văn hóa và con người Việt Nam còn phải giải quyết tiếp các mối
quan hệ sau: quan hệ giữa văn hóa và con người, văn hóa và phát triển,
con người và phát triển, văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế, văn hóa
và xã hộ
i, v.v
b/ Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Kết quả nghiên cứu về văn hóa và con người ở nước ngoài trong những
thập kỷ vừa qua rất phong phú và đa dạng. Ở đây chỉ có thể nêu lên một số nét
đáng quan tâm sau:
- Thứ nhất, hiện nay về lý luận dường như chẳng có một học thuyết nào,
một trường phái nào có dủ sức thu hút hoặc dẫn dắt trí tuệ của toàn thế giớ
ch sử thế
giới thế kỷ XXI” khi định nghĩa về toàn cầu hóa, đã nêu lên vai trò của nhân tố
văn hóa thể hiện trên ba phương diện: công nghệ thông tin, chất lượng nhân lực
(bao gồm truyền thống văn hóa, chất lượng đào tạo) và giao lưu văn hóa. Chúng
vừa là cơ sở vừa là kết quả của toàn cầu hóa. Ông đã phân tích 10 nhân tố làm
phẳng thế giới và nhấn mạnh r
ằng vai trò tiền đề của văn hóa thúc đẩy quá trình
hội nhập hay toàn cầu hóa của một quốc gia có truyền thống văn hóa Đông Á.
Thế giới phẳng (The Word is flat) là thuật ngữ do Friedman sáng tạo ra được
dùng để chỉ thế giới toàn cầu hóa. Theo ông, trong thế giới này, giảng đường các
trường đại học là mảnh đất sống còn của tất cả các trường phái có uy tín, còn
mạng toàn cầu là nơi trôi nổi của h
ầu hết những dòng tư tưởng thứ cấp. Tuy
nhiên, những tư tưởng thực sự có giá trị cũng đang xuất hiện ngày càng nhiều
trên mạng.
- A. Toffer cho rẳng từ giữa thế kỷ XX, nước Mỹ đi đầu vào xã hội thông
tin và đó là điều kiện cho văn hóa màn hình ra đời hay còn gọi là văn hóa thông
tin mà có người gọi là văn hóa thiên niên kỷ tới. Văn hóa computer ra đời không
có nghĩa sẽ thay thế hoàn toàn các loạ
i hình đã có trong văn hóa truyền thông.
Hiện nay màn hình trở thành một hệ thống cơ bản của giao tiếp giữa con người
và xã hội. Văn hóa màn hình ra đời là kết quả của cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại đang được nhiều người ca ngợi, thán phục, nhưng cũng có người
coi đó là sự sáng tạo dữ dằn của các nhà kỹ trị. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng
i lập nhau trong quan niệm về
văn hóa và con người, Huntington đưa ra lý thuyết về sự đụng độ của các nền
văn minh, ngược lại, Dominique Wolton lại kêu gọi chung sống giữa các nền
văn hóa.
- Thứ hai, từ những thập niên cuối của thế kỷ trước đến nay Liên hiệp
quốc chủ trương phát động một thập kỷ thế giới phát triển văn hóa và giao cho
tổ chức UNESCO chỉ
đạo, Liên hiệp quốc đã tổ chức “Thập kỷ văn hóa vì phát
triển” (1987-1997), “Thập kỷ giáo dục cho mọi người” (1990-2000), đã công bố
15
tác phẩm “Giáo dục – của cải nội sinh” chuẩn bị giáo dục vào thế kỷ XXI, tổ
chức năm quốc tế bao dung (1995), Đại hội đồng lần thứ 27 của UNESCO đề
xuất ý tưởng xây dựng một nền văn hóa hòa bình và lấy năm 2000 là năm quốc
tế văn hóa hòa bình, thập kỷ 2001-2010 là thập kỷ văn hóa hòa bình và không
dùng vũ lực đối với trẻ em toàn th
ế giới.
Tổng kết thập kỷ văn hóa vì sự phát triển, Uỷ ban thế giới về văn hóa và
phát triển đưa ra báo cáo “Sự đa dạng sáng tạo của chúng ta” (1996) khẳng định
mong muốn có một sự kết hợp hài hòa giữa các giá trị chung của văn hóa nhân
loại, của “địa lý toàn cầu”, như tính người, tình người, lòng bao dung độlượng,
tinh thần hòa bình, hợp tác, hữu nghị
với các giá trị văn hóa của các dân tộc,
phải dùng văn hóa làm phương tiện chống lại sự lộn xộn của hệ thống toàn cầu,
làm vật bảo vệ và nơi ẩn náu của các nền văn hóa dân tộc. Văn hóa trở thành
- Thứ ba, khi đề cập đến vấn đề phát triển văn hóa và con người, cần phải
tham khảo kinh nghiệm của một số nước.
- Ở một số nước như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, v.v… tuy có các cách xử lý
văn hóa khác nhau, nhưng nhìn chung trong hoạt động văn hóa các nước này
đều coi trọng những vấn đề sau đây: (1) Bảo vệ di sản văn hóa nghệ thuật, di
tích đã có; (2) Sáng t
ạo những giá trị văn hóa mới; (3) Đào tạo những cánbộ văn
hóa để thực hiện chức năng của nó; (4) Phổ cập những di sản văn hóa vốn có và
mới tạo ra. Điều đáng chú ý ở các nước này là ngân sách cho hoạt động văn hóa
rất lớn, đồng thời tinh thần quản lý văn hóa là mở rộng dân chủ, tôn trọng việc
phân cấp phân quyền, khuyế
n khích tinh thần độc lập và tự do sáng tạo, đặc biệt
ở Mỹ không hề có một lập trường văn hóa quan phương, mà chỉ có tự do sáng
tạo cá nhân. Do đó, nó tạo ra một đặc trưng văn hóa Mỹ rất đa dạng phong phú
và nhiều màu nhiều vẻ.
- Câu nói đã trở thành châm ngôn của ứng xử Nhật Bản thời Minh Trị duy
tân là “Tinh thần Nhật Bản, tri thức phương Tây”. Mọi mô hình n
ước ngoài mà
người Nhật tiếp thu đều đã được biến hóa theo “trái tim Nhật bản”. Có thể nói
văn hóa vật thể của Nhật Bản đã bị Tây Phương hóa một cách triệt để và nhanh
chóng, nhưng văn hóa phi vật thể của Nhật Bản lại thay đổi chậm chạp hơn
nhiều và vẫn mang bản sắc Nhật Bản rõ nét. Những đặc điểm của vă
n hóa Nhật
Bản thể hiện ở chỗ: (1) Nhật Bản có một nền văn hóa độc đáo, giàu bản sắc dân
tộc; (2) Nhật Bản có một nền văn hóa phong phú đa dạng và phát triển toàn
diện; (3) Nhật Bản coi văn hóa và con người làm trung tâm và là sự kết hợp hài
hòa với tự nhiên; (4) Người Nhật Bản có tính thích ứng và thực dụng cao.
- Sau sai lầm của “đại cách m
ạng văn hóa” làm cho nền văn hóa Trung
Quốc bị tổn thất nặng nề, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu phương châm:
18Chương I
KHÁI NIỆM VĂN HOÁ VÀ CON NGƯỜI
VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1. Khái niệm Văn hóa
- Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Marx, chỉ một vài lần K.
Marx và F. Engels trực tiếp bàn đến thuật ngữ văn hóa. Tuy nhiên trong đó, một
lần culture lại được hiểu là canh tác, trồng trọt, gieo trồng.
Trong thư gửi F. Engels 25/3/1868, K. Marx viết: “Nếu canh tác được tiến
hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách có ý thức thì sẽ
để
lại sau đó đất hoang. Ba Tư, Mexopotani…, Hy Lạp”
1
. Các bản tiếng Việt xuất
bản trước đó dịch là: “Văn hóa nếu phát triển tự phát mà không được định
hướng một cách tự giác thì sẽ để lại sau nó hoang mạc”. Cách dịch này đã gây ra
một số hiểu lầm.
Trong tác phẩm “Chống Duhring”, khi bàn về sự tiến triển về tư tưởng tự
do của loài người, F. Engels viết: “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa là
một bướ
c tiến tới tự do”
2
. Ở đây, culture được hiểu là văn hóa. Trong văn cảnh,
F. Engels phân tích rằng, con người trong tiến trình lịch sử của mình, khi ngày
càng thoát ra khỏi thế giới động vật, nghĩa là khi ngày càng có văn hóa, thì con
người càng tự do hơn, mặc dù tự do, theo ông, là bản chất của con người.
được, ngay cả cách tiếp cận về văn hóa và việc phân loại các định nghĩa cũng trở
nên phong phú và phải nói là phức tạp. V.E. Davidovich đã phê phán lối nghiên
cứu này và cho rằ
ng, đáng lẽ phải chỉ ra được đặc trưng thuần túy văn hóa của
các hiện tượng văn hóa vật chất và tinh thần, thì người ta lại mải mê thống kê
tính phong phú của văn hóa
4
. Trên thực tế, về sau, càng ngày người ta càng cố
tìm xem văn hóa đã có định nghĩa thứ bao nhiêu. Ở Việt Nam vào những năm
90, PGS. Phan Ngọc đã đưa ra con số hơn 1000. Tuy nhiên, việc nghiên cứu
theo hướng “duy danh định nghĩa” rõ ràng là có vấn đề.
Mặc dù có nhiều định nghĩa song theo bất cứ nghĩa nào thì văn hoá cũng
đều là cái, bằng cách này hay bằng cách khác, thể hiện những đặc trưng về con
người và về đời số
ng con người, đều phản ánh (một cách trực tiếp hoặc kín đáo)
đặc thù của hoạt động người (V.E. Davidovich
5
).
+ Khái niệm Văn hóa đã được một số tác giả định nghĩa như sau (tham
khảo Wikipedia tiếng Việt)
6
:
- Edward Sapir (1884-1939), nhà nhân học, ngôn ngữ học người Mỹ xem
văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống
trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử
và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.
- William Isaac Thomas (1863-1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn
hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, t
ập
tục, phản ứng cư xử, ).
có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác v
ới nhau và tác động
đến lối ứng xử của nhau.
- Một định nghĩa khác: “Văn hóa là biểu hiện của phương thức sống của
con người, là tổng hòa mọi giá trị người”
7
. Trong hầu hết các trường hợp, văn
hóa luôn chỉ là thuộc tính trong mối quan hệ Sự vật – Quan hệ – Thuộc tính. Nói
cách khác, văn hóa chỉ có thể là mặt, là khía cạnh, là phương diện hay là thuộc
tính của cái khác. Đặc trưng thuần túy văn hóa mà V.E. Davidovich đã nói đến,
chính là ở đây.
- Có quan niệm cho rằng khi định nghĩa văn hóa chỉ cần nêu giá trị là đủ.
Tuy nhiên, văn hóa trong nhiều trường hợp không mang ý nghĩa giá trị – nghĩa
là nó không tố
t hay xấu, đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực mà chỉ là cách
thức, kiểu, dạng, phong cách hoạt động sống của cá nhân hoặc cộng đồng
(cách cầm dao của người phương Tây so với người phương Đông là một thí dụ).
Do vậy, không chỉ là giá trị, văn hóa còn là phương thức sống (cách thức, kiểu,
dạng, phong cách, ) của con người.
- Định nghĩa “Văn hóa” được cộng đồng thế thế giới sử dụ
ng nhiều và
được nhiều người trích dẫn hơn cả là của định nghĩa của UNESCO, nêu trong
“Tuyên bố về chính sách văn hóa” tại Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa
của UNESCO từ ngày 26/7 đến 6/8/1982 ở Mexico:
7
Hồ Sĩ Quý (1999). Về văn hóa và văn minh. NXB. Chính trị quốc gia, H., tr. 32.
của vấn đề” (F. Mayor); là “tiêu chuẩn cơ bản của sự tiến bộ” (E. P.
Chelyshev); là phương thức tự điều chỉnh và tự nhận thức của nhân
loại” (M. Epstein); là một trong ba tiêu chuẩn để một quốc gia nào
đó được coi là cường quốc (Z. Bredinski); là “đường phân ranh cơ
8
Nguyên văn: “Conference agrees: that in its widest sense, culture may now be said to be the
whole complex of distinctive spiritual, material, intellectual and emotional features that
characterize a society or social group. It includes not only the arts and letters, but also modes
of life, the fundamental rights of the human being, value systems, traditions and beliefs; that it
is culture that gives man the ability to reflect upon himself. It is culture that makes us
specifically human, rational beings, endowed with a critical judgement and a sense of moral
commitment. It is through culture that we discern values and make choices. It is through
culture that man expresses himself, becomes aware of himself, recognizes his incompleteness,
questions his own achievements, seeks untiringly for new meanings and creates works
through which he transcends his limitations”. UNESCO. Mexico City Declaration on Cultural
Policies. World Conference on Cultural Policies. Mexico City, 26 July - 6 August 1982.
http://portal.unesco.org/culture/en/files/12762/11295421661mexico_en.pdf/mexico_en.pdf 22bản giữa con người với nhau” và là “nhân tố chủ đạo của nền chính
trị thế giới” (S. F. Huntington); là cái “được xuyên suốt bởi một
Ethos cộng sinh”, một thứ “soft power” (năng lực mềm) giúp cho
“Đông Á sẽ trở thành khu vực cực kỳ quan trọng vào thế kỷ XXI”
gia tăng tiến bộ c
ủa các lĩnh vực cụ thể trong hoạt động văn hoá. Khác với lĩnh
vực nghiên cứu con người; nếu phát triển con người có các định nghĩa chặt chẽ,
9
Hồ Chí Minh (2000). Toàn tập t.3. NXB. Chính trị quốc gia,H., tr. 431.
10
Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB.
Chính trị quốc gia, H., tr. 29. 23các tiêu chí cụ thể để xem xét, đánh giá, thì phát triển văn hoá hầu hết chỉ được
dùng cho các trường hợp cụ thể. Sự phát triển văn hoá ở một đối tượng nào đó
thường chỉ được so sánh với chính nó (đối tượng) theo trục thời gian.
Về đại thể, phát triển văn hóa là một quá trình có tính tất yếu và khách
quan trong sự vận động của các lĩnh vực văn hóa. Quá trình này dẫn tới s
ự biến
đổi giá trị và hệ giá trị. Tính tất yếu và khách quan của quá trình này, tuy không
đơn giản, không đơn tuyến, và thậm chí có lúc thụt lùi, tha hoá, nhưng xu hướng
chung vẫn là đảm bảo cho cuộc sống của con người hướng tới cái tốt, cái thiện
và cái đẹp ngày một cao hơn, nhân đạo hơn.
Phát triển văn hoá đôi khi được coi là đối lập với bảo tồn văn hóa. Tuy
vậy, nhìn ở phạm vi vĩ
mô, phát triển văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự
thành những khuôn mẫu về văn hoá chi phối và quy định hoạt động sống
của các thế hệ tiếp sau
11
.
4. Khái niệm Khuôn mẫu văn hoá
Khuôn mẫu văn hóa (Cultural matrix) là tập hợp của những giải pháp,
những chuẩn mực, những phong cách, những giá trị… được tạo ra từ kinh
nghiệm sống của các cộng đồng người, được định hình qua những tình huống
khác nhau trong lịch sử tồn tại của các cộng đồng đó và được bảo tồn trong sự
chi phối và quy định của nó đối với hoạt
động của các thế hệ kế tiếp nhau. Văn
hoá thực hiện tính quy định của mình, thể hiện sức mạnh của mình trong đời
sống xã hội thông qua các khuôn mẫu văn hoá
12
.
Con người trong hoạt động bao giờ cũng dựa vào những khuôn mẫu văn
hóa đã có để thao tác, xử lý hoặc sáng tạo… kể cả với các đối tượng mới. Khác
với con vật, không bao giờ con người bắt tay vào hoạt động từ trạng thái
“không” hoặc “hư vô” (Phi kinh nghiệm cũng là một thứ kinh nghiệm).
5. Khái niệm Văn minh
Nhiều tài liệu quả quyết rằng, văn hóa và văn minh (Civilization) với tính
cách là các khái niệ
m khoa học mãi đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện. Trong khi
đó ở phương Tây, thuật ngữ Cultura được tìm thấy ngay trong các tác phẩm của
Siseron (106 - 43 TCN) và Civilization đã thấy được sử dụng tương đối phổ biến
ở giai đoạn đầu thời đại Phục Hưng.
Ở Trung Quốc, văn minh được nhắc đến từ rất sớm trong Thượng thư
(Ngũ Kinh); còn văn hiến với nghĩa là m
ột xã hội đạt tới một trình độ nhất định