KINH NGHIỆM DẠY BÀI ÔN TẬP HỌC KỲ I MÔN ĐỊA LÝ LỚP 8
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay nước ta đang tiến hành đổi mới kinh tế theo xu hướng CNH – HĐH với
mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” Để làm tố công
tác đó tất yếu phải có những con người thông minh sáng tạo. Ngành giáo dục là ngành
có trách nhiệm nặng nề về “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã tiên phong đề ra chủ trương động viên
giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm đào tạo những thế hệ trẻ những con
người mới phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước. Những nội dung đổi mới giáo dục
đã thực sự đem lại hiệu quả cho học sinh. Mỗi ngày ý thức của mọi con người càng
được nâng cao hơn . Đúng như lời dạy năm nào của Bác Hồ
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Để thực hiện tốt yêu cầu trên người giáo viên nói chung và giáo viên dạy Địa lý nói
riêng thì mục tiêu cần đạt được trong quá trình dạy học là hình thành cho học sinh
phương pháp học tập để chiếm lĩnh tri thức và cái đích cần đạt của người học sinh là
tạo cho bản thân một phương pháp học tập phù hợp để nắm vững kiến thức, xử lý
những thông tin thu thập trong quá trình học tập. Muốn vậy mỗi học sinh cần tạo cho
mình hứng thú học tập từ đó mới tích cực chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức dưới
sự hướng dẫn của giáo viên.
Do vậy vai trò của người giáo viên trong thời đại hiện nay là hết sức quan trọng ,
người giáo viên không chỉ đơn thuần là hiểu biết chắc về chuyên môn mà cần phải hiểu
biết tất cả mọi mặt . Hơn thế nữa chúng ta vừa trải qua cuộc cách mạng đổi mới sách
giáo khoa và phương pháp dạy học nên vai trò của người giáo viên lại càng quan trọng
hơn .
Trong chương trình giáo dục đổi mới rất chú trọng những bài rèn luyện kỹ năng,
phát huy tính tư duy độc lập, tổng hợp sáng tạo và khả năng tự học của học sinh thông
1
qua các bài thực hành, ôn tập. Đối với bộ môn Địa lý THCS , bài ôn tập rất quan trọng,
giúp học sinh làm quen với những kỹ năng địa lý cao hơn trong quá trình học .
Vì vậy việc nâng cao chất lượng trong việc dạy và học nói chung và môn Địa lý nói
riêng là một phần rất quan trọng đối với người giáo viên. Đặc biệt là trong giai đoạn
hiện nay khi mà toàn ngành đang ra sức thực hiện cuộc vận động “Hai không trong
giáo dục”, thì chúng ta phải không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học , nhưng đó
phải là một chất lượng thực chất, đánh giá đúng năng lực, trình độ của giáo viên cũng
như khả năng tiếp thu của học sinh
Trong thực tế ở các trường hiện nay việc dạy bài ôn tập chưa được quan tâm đúng
mức. Dạy ôn tập chủ yếu là GV ra câu hỏi cho HS trả lời hoặc cho HS tự ôn tập ở nhà.
Những bài ôn tập thường tổ chức một cách qua quýt chưa chú ý nội dung và cách rèn
luyện kỹ năng cho học sinh . Trong chương trình Địa lý lớp 8 học về các điều kiện tự
nhiên dân cư, kinh tế của châu Á ,các khu vực châu Á và địa lý Việt Nam học sinh chủ
yếu học ở lớp, tự ôn tập và liên hệ thực tế. Do đó việc phát huy khả năng tổng hợp, hệ
thống hoá các kiến thức đã học của HS chưa đạt hiệu quả cao. Chính điều này làm cho
việc kiểm tra đánh giá chất lượng HS chưa toàn diện, khách quan, chính xác.
Bản thân tôi trong quá trình giảng dạy đã nhận thấy một số nhược điểm của việc dạy
tiết ôn tập Địa lý như sau:
*. Về giáo viên :
Bên cạnh những ưu điểm mà người giáo viên đạt được trong quá trình giảng dạy,
môn Địa lý vẫn còn tồn tại một số nhược điểm cần khắc phục:
- Một số giáo viên còn dạy chay chưa đổi mới phương pháp trong giảng dạy đặc biệt là
tiết ôn tập, vì vậy học sinh chóng chán, mệt mỏi, hiệu quả dạy và học thấp.
- Một số giáo viên còn cho rằng, dạy học Địa lý không cần đầu tư thời gian và chất
xám như các môn học Toán, Văn nên đôi khi dạy qua loa không hấp dẫn học sinh.
- Các tiết thực hành, ôn tập chưa hướng dẫn kĩ cho học sinh đôi khi còn giao trắng cho
học sinh.
*. Về học sinh
3
- Một số học sinh chưa có sự ham mê trong tiết học ôn tập, tư tưởng coi thường tiết
học ôn tập và cho rằng đó là dịp để xả hơi
- Một số khác lười làm bài tập, kĩ năng đọc bản đồ, lược đồ, phân tích bảng biểu đặc
điều rất khó, khi dạy một bài ôn tập đòi hỏi giáo viên phải nắm vững kiến thức, lựa
chọn PPDH phù hợp tổ chức học sinh hoạt động một cách thành thạo.
Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa Địa lý phổ thông được
chọn lọc từ khối lượng tri thức khổng lồ của khoa học địa lý, đảm bảo tính khoa học,
tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương trình. Tuy nhiên, khối lượng tri
thức phong phú nhưng thời gian lại có hạn (45 phút), nhưng yêu cầu đảm bảo tính khoa
học, tính chính xác là cần thiết và phải đảm bảo tính vừa sức với học sinh.
Vì vậy, phải đặt ra những câu hỏi mang nội dung tổng quát, có tính kích thích sự tò
mò, ham hiểu biết, có nhiều ý nghĩa về thực tế.
Thông qua việc dạy bài ôn tập học kỳ một môn địa lý lớp 8, đề tài nhằm mục đích:
- Giúp giáo viên nắm vững kiến thức, hướng dẫn học sinh thực hiện nẵm vững tác dụng
của bài ôn tập trong việc phát huy khả năng lĩnh hội sáng tạo của học sinh.
- Giúp học sinh nắm rõ những vấn đề cơ bản của địa lý châu Á, và các khu vực châu Á.
- Rèn luyện kỹ năng đánh giá, nhận xét phân tích hiện tượng địa lí hiểu rõ mối quan hệ
giữa các hiện tượng địa lý theo logic. Giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, vận
dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
Cụ thể là, làm cho học sinh:
- Biết trình bày các đặc điểm tự nhiên châu Á, tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố, vị trí
địa lí, địa hình, khí hậu, sông ngòi, cảnh quan, dân cư, kinh tế châu Á và giải thích.
- Biết trình bày về các khu vựcTây Nam Á, Nam Á, Đông Á.
- Biết lập một số bảng hệ thống về các hiện tượng địa lý.
5
- Biết sử dụng các bảng hệ thống có hiệu quả, so sánh đối chiếu liên hệ các hiện tượng
địa lý giữa các khu vực của châu Á và giữa châu Á với các châu lục khác.
2 .THIẾT KẾ NỘI DUNG BÀI HỌC:
Để dạy tốt một bài ông tập trước tiên xây dựng nội dung bài học theo hướg tích cực
hoá nội dung bài học của học sinh.
Cấu trúc chung khi thiết kế bài dạy theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh
theo 5 bước cơ bản.
- Xác định mục tiêu bài học.
- Bản đồ châu Á
- Tây Nam Á
- Nam Á
- Đông Á
IV. Các hoạt động dạy học
1. Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
3. Bài mới
Hoạt động 1: Ôn tập khái quát về châu Á
Bước 1: GV có thể kiểm tra một số học sinh về một số đặc điểm cụ thể của châu á
nhằm giúp học sinh hình dung được kiến thức cơ bản.
Vì nội dung này đã được ôn tập giữa kỳ nên giáo viên không nhất thiết ôn tập lại mà
chỉ kiểm tra học sinh và nhắc lại kiến thức để học sinh có thể nhớ lại một cách có hệ
thống và logic. ( Phần này dung lượng thời gian chỉ khoảng 8 phút )
Bước 2: GV tổng hợp kiến thức (Trình bày ở bảng phụ) để học sinh theo dõi về nhà
ôn tập tiếp
CHÂU Á
- 77
0
44’ B – 1
0
16’ B - Trải dài từ vùng cực bắc tới xích đạo
- Có diện tích lớn nhất thế giới: 44,4 triệu km
2
.
7
Vị trí địa lý - Giáp 3 đại dương: Bắc Băng Dương, Thái Bình Dương, ấn
Độ Dương.
- Giáp 2 châu lục lớn: Châu Âu, Châu Phi.
Địa hình
- Có qúa trình phát triển sớm nhưng chậm do hầu hết các nước
bị các nước Đế quốc thống trị.
8
Kinh tế
- Hiện nay kinh tế phát triển nhanh nhưng không đều: Một số
nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc Có nhiều nước
trình độ thấp như: Mianma, Lào, Băng La Đét
- Có nhiều thành tựu: Chiếm 93% sản lượng lúa gạo của thế
giới, có nhiều nước xuất khẩu gạo (Việt Nam, Thái Lan). Công
nghiệp khai khoáng phát triển mạnh. Dịch vụ phát triển cao.
Bước 3: GV yêu cầu HS về nhà tìm trên lược đồ: Các dãy núi, sơn nguyên, đồng
bằng, các khu vực khí hậu, cảnh quan; Phân bố dân cư; Các nước kinh tế phát triển và
kém phát triển.
Hoạt động 2: Ôn tập về các khu vực châu Á
Giáo viên giới thiệu: Châu Á có 4 khu vực: Tây Nam Á, Nam Á, Đông Nam Á,
Đông Á. Mỗi Khu vực có những điều kiện tự nhiên, thế mạnh phát triển kinh tế và đặc
điểm phát triển khác nhau. Ở học kỳ I chúng ta đẵ học 3 khu vực, ở mục này chúng ta
sẽ tìm hiểu về các khu vực Châu á, để rút ra những đặc điểm nổi bật về tự nhiên và kinh
tế của mỗi khu vực. ( Phần này dung lượng thời gian là 35 phút )
Bước 1: GV chia lớp thành 3 nhóm và giao nhiệm vụ.
Bước 2: GV phát phiếu học tập.
- Các nhóm học sinh làm việc theo phiếu (khoảng 10 phút).
Phiếu học tập số 1:
Dựa vào hình 9.1, 9.2, 9.3, 9.4 và kiến thức đã học:
1- Trình bày vị rí địa lý đặc điểm tự nhiên khu vực Tây Nam Á.
2- Trình bày đặc điểm dân cư, kinh tế Tây Nam Á.
3- Tại sao nói Tây Nam Á là một điểm nóng của thế giới ?
Phiếu học tập số 2:
Dựa vào hình 10.1, 10.2, 11.1 và kiến thức đã học.
1- Cho biết vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên dân cư và kinh tế khu vực Nam Á.
- Số dân 286 triệu người.
- Dân cư phân bố tập trung ở vùng ven biển và các thung lũng có mưa.
- Chính trị không ổn định thường xáy ra tranh chấp xung đột.
Đặc điểm kinh tế:
10
- Phát triển công nghiệp và thương mại: Công nghiệp khai thác và chế biến dầu mỏ phát
triển mạnh. Hằng năm các nước khai thác hơn 1 tỷ tấn dầu, chiểm khoảng 1/3 sản
lượng dầu của thế giới.
3- Tây Nam á là điểm nóng: Với nguồn tài nguyên giàu có lại có vị trí chiến lược quan
trọng nơi qua lại giữa 3 châu lục giữa các vùng biển, đại dương nên từ thời xa xưa ở
đây thường xuyên xảy ra tranh chấp gay gắt giữa các bộ tộc, các dân tộc trong và ngoài
khu vực.
Phiếu học tập số 2:
* Khu vực Nam Á: ( GV treo bản đồ khu vực Nam Á)
1. Vị trí địa lý 6
0
B – 36
0
B.
Đặc điểm tự nhiên:
Phía bắc hệ thống núi Hymalaya
- Địa hình: Có 3 miền: Ở giữa đồng bằng ấn Hằng
Phía Nam sơn nguyên Đêcan
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa.
- Cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm xa van, và cảnh quan núi cao.
- Sông ngòi: Có nhiều hệ thống sông lớn như sông Ấn, sông Hằng.
Đặc điểm dân cư:
- Dân số 1.356 triệu người, mật độ dân số cao nhất châu Á.
- Dân cư tập trung đông ở ven biển và nơi có lượng mưa mới.
Đặc điểm kinh tế:
Khí hậu Nhiệt đới gió mùa ẩm, khí hậu
lục địa.
Nhiệt đới gió mùa ẩm
Sông ngòi Có 3 sông lớn: A mua, Hoàng
Hà, Trờng Giang. Chế độ chảy
theo mùa (Sông Hoàng Hà chế độ
chảy thất thờng)
Sông ngòi ít, ngắn và nhỏ.
Chế độ chảy theo mùa.
Cảnh quan Rừng nhiệt đới ẩm, xa van, hoang
mạc.
Rừng nhiệt đới ẩm
Đặc điểm dân c:
- Số dân 1.503 triệu ngời (đông nhất châu )
- Dõn c tp trung phớõ ụng.
2. c im kinh t:
- Kinh t phỏt trin nhanh v duy trỡ tc tng trng cao.
12
- Quá trình phát triển đi từ sản xuất thay thế hàng nhập khẩu đến sản xuất để xuâta
khẩu.
- Nhật Bản, Hàn Quốc là hai quốc gia phá triển nhất khu vực với nhiều ngành công
nghiệp hàng đầu thế giới.
Trong quá trình tổng hợp chuẩn kiến thức, ở mỗi khu vực giáo viên hướng dẫn học
sinh đọc các bản đồ, lược đồ; Quan sát bảng số liệu và tranh ảnh địa lý.
- Sau khi tìm hiểu Giáo viên yêu cầu học sinh rút ra so sánh sự phát triển của các khu
vực châu Á ; những điểm mạnh cũng như hạn chế của mỗi khu vực từ đó có những
định hướng cho tương lai. Vấn đề này đòi hỏi năng lực tư duy của học sinh phải sâu,
nhưng đó cũng chính là cách để giáo viên phát hiện những tài năng trong học sinh .
Bước 5: GV tổng kết cho điểm kết quả làm việc của các nhóm.