MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu c ủa kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế. Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích thích ứng dụng
khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải tiến công nghệ, thiết bị sản xuất và phương
thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và giá bán hàng hóa. Cạnh
tranh với các tín hiệu giá cả và lợi nhuận sẽ hướng người kinh doanh chuyển nguồn lực từ nơi
sử dụng có hiệu quả thấp hơn sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn. Đối với xã hội, cạnh
tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ còn thiếu. Qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Do đó, việc
nâng cao năng lực cạnh tranh cho mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết, nó giúp cho doanh
nghiệp chủ động hơn trong quá trình hoạt động của sản xuất kinh doanh.
Từ cuối năm 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới
(WTO). Điều này đã mở ra cho nước ta những cơ hội lớn để phát triển song cũng đặt nước ta
trước nhưng thách thức và khó khăn không nhỏ. Trong những cam kết đa phương và song
phương với các nước trên thế giới để gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường.
Điều đó đặt các doanh nghiệp trong nước vào quá trình cạnh tranh gay gắt không chỉ giữa các
doanh nghiệp trong nước với nhau mà còn với các doanh nghiệp nước ngoài. Là một trong
những Công ty được xếp vào loại vừa và nhỏ trên thị trường kinh doanh thiết bị tin học, có ít lợi
thế cạnh tranh so với với các Công ty khác cùng ngành. Vậy phải có những biện pháp nào để
Công ty Cổ Phần điện tử tin học Hồ Sen có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường?
Nhận thức được tầm quan trọng và tính thiết thực của việc nghiên cứu vấn đề nâng cao
năng lực cạnh tranh, em đã chọn đề tài: “ Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công
ty Cổ Phần điện tử tin học Hồ Sen”, kết hợp với quá trình thực tập tại Công ty Cổ Phần điện
tử tin học Hồ Sen, em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
2.
Đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài
2.1
Đối tượng nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần điện tử tin học Hồ Sen trên thị trường
điện tử, tin học.
TIN HỌC HỒ SEN.
1.1. Quá trình ra đời và phát triển của công ty cổ phần điện tử tin học Hồ Sen.
1.1.1 Giới thiệu chung
Công ty Cổ phần Điện Tử Tin Học Hồ Sen là một trong những công ty cổ phần
chuyên tin học nhỏ và vừa của miền Bắc.Từ ngày hình thành, công ty đã và đang ngày
càng khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh vi tính. Dưới đây
là một số thông tin về công ty:
Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN TỬ TIN HỌC HỒ SEN
Tên tiếng Anh : HOSEN ELECTRONICS COMPUTER JOINT
STOCK COMPANY
Tên viết tắt : HOSEN ELE COM JS CO
Loại hình : Công ty cổ phần
Cơ quan quản lý : Bộ công nghiệp
Mã số thuế : 0201387258
Trụ sở chính : Số 10, Hồ Sen, phường Trại Cau, Quận Lê Chân,
Thành phố Hải Phòng.
Điện thoại : (031)3610627
Fax : (031)3845434
Website : www. hosen .com.vn
Email : h osen
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Số 0100303614, do Sở Kế hoạch và Đầu
ngày, từng giờ thay đổi và phát triển cơ cấu bộ máy quản lý hầu hết có trình độ chuyên
môn cao cho nên Công ty đã đạt được một số kết quả khích lệ. Tuy nhiên Công ty
cũng có những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động của mình:
-
Thuận lợi:
+
Thành lập trong giai đoạn Việt Nam đã gia nhập WTO nên có nhiều cơ hội và
thách thức cho sự phát triển chung của Công ty.
+
Cơ chế kinh tế mở cửa tạo, nhà nước có nhiều chính sách ưu tiên và hỗ trợ
cho doanh nghiệp.
-
Khó khăn:
+
Hoạt động trong ngành tin học do vậy chất lượng sản phẩm luôn phải đạt tiêu
chuẩn và không ngừng đổi mới phát triển…
+
Một số mặt hàng bị giới hạn qua nhập khẩu điều đó ảnh hưởng mạnh tới chiến
lược kinh doanh và số lượng hàng hóa nhập xuất tồn và dự trữ của Công ty.
+
Mặc dù gặp không ít khó khăn trong kinh doanh nhưng sự quản lý vững vàng
của ban giám đốc, đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn cao đã dựa
trên những thuận lợi để khắc phục khó khăn, đưa Công ty từng ngày từng giờ phát
triển, kết quả kinh doanh năm sau cao hơn năm trước.
1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty cổ phần điện tử tin học Hồ Sen.
Để phù hợp và đảm bảo ổn định cho hoạt động kinh doanh, Công ty tổ chức quản
lý đồng bộ và chặt chẽ, các phòng ban chịu sự chỉ đạo chung của lãnh đạo Công ty.
Xuất phát từ nhiệm vụ và phương hướng kinh doanh của Công ty, dựa trên trình độ chuyên
môn, trình độ nghiệp vụ của cán bộ quản lý, cơ cấu tổ chức Công ty được tổ chức như sau:
- Ban lãnh đạo Công ty gồm: 1 giám đốc và 1 phó giám đốc
PHÓ GIÁM ĐỐC
Các tổ độiPhòng tổ chức
hành chính
Phòng tài chính
kế toán
Phòng kế hoạch-
kinh doanh
-
Thực hiện đầy đủ các hợp đồng kinh tế, hợp đồng nguyên tắc đã
ký với bạn hàng, duy trì mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp, thâm nhập vào các thị trường
tiềm năng và giữ vững vị thế ở thị trường trọng điểm.
-
Chỉ đạo kinh doanh theo cơ chế nhanh, mạnh, xử lý thông tin
kịp thời
-
Xây dựng điều hành bộ máy quản lý Công ty ngày càng phù hợp
hơn.
-
Đề nghị quyết định bổ nhiệm hoặc bãi miễn cán bộ công nhân viên
của Công ty.
-
Thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, với Công ty theo quy
định.
-
Chịu sự kiểm tra giám sát của Công ty và cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
-
Được quyền áp dụng các biện pháp vượt thẩm quyền trong
trường hợp khẩn cấp và chịu trách nhiệm trước Công ty, trước pháp luật về việc làm
đó.
-
Chức năng của từng thành viên do trưởng phòng kế toán phân
công.
Phòng tổ chức hành chính:
-
Nghiên cứu và đề xuất với lãnh đạo về công tác tổ chức bộ máy hành
chính, tổ chức lao động trong Công ty.
-
Đề xuất với lãnh đạo, giải quyết cụ thể các công việc, đề bạt nâng lương
tuyển dụng, chuyển công tác điều động, nghỉ hưu cho thôi việc hoặc sa thải.
-
Theo dõi và giải quyết các chế độ, nghỉ phép nghỉ ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, nghỉ Tết theo đúng chế độ và quy định của đơn vị.
-
Phối hợp với các phòng ban khác thực hiện công tác thi đua khen thưởng, kỷ
luật.
-
Nghiên cứu và đề xuất với lãnh đạo về công tác đào tạo cán bộ công
nhân viên trong Công ty.
-
Tổ chức quản lý và điều hành lực lượng bảo vệ, lái xe, văn thư…
-
Quản lý và chịu trách nhiệm mua sắm phương tiện và dụng cụ hành
chính văn phòng phẩm, các nhu cầu sinh hoạt, làm việc của cơ quan.
-
Thực hiện các công việc về quản lý hành chính trong cơ quan, bố trí nhà
ở, nhà làm việc, quản lý nhân hộ khẩu.
-
Có trách nhiệm thông báo phổ biến, hướng dẫn thực hiện các chủ trương về chế
độ chính sách đối với các đơn vị và cán bộ công nhân viên trong Công ty, xây dựng
6 Doanh thu hoạt động tài chính 6,7 3,2 1,2 3,5 109,4 2,0 166,7
7 Chi phí tài chính 389 55 24,5 334 607,3 30,5 124,5
8 - trong đó:
Chi phí lãi vay
334 23 0 311 1352 23 100,0
9 Chi phí quản lý kinh doanh 2.643 1.293 2.055 1.350 104,4 (762) -37,1
10 Lợi nhuần thuần từ hoạt động
kinh doanh
4.377,7 1.914,2 559,7 2.463,5 128,7 1.354,5 242,0
11 Thu nhập khác 0 0,3 0,2 (0,3) -100,0 0,1 50,0
12 Chi phí khác 0 0,7 0 (0,7) -100,0 0,7
13 Lợi nhuận khác 0 (0,4) 0,2 0,4 100,0 (0,6) -300,0
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước
thuế
4.377,7 1.913,8 559,9 2.463.9 128,7 1.353,9 241,8
15 Chi phí thuế TNDN 1.094 478,5 140 615,5 128,7 338,5 241,8
16 Lợi nhuận sau thuế 3.283,7 1.435,3 419,9 1.848,4 128,7 1.015,4 241,8
(Nguồn: Số liệu trích từ Bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong Báo cáo
tài chính của Công ty Cổ Phần điện tử tin học Hồ Sen)
Qua số liệu tính toán ở bảng 1 ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty tăng dần
qua các năm. Doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2013 tăng 27.831 triệu đồng –
tương ứng 130,5% so với năm 2013, doanh thu của năm 2013 tăng từ 10,637 triệu đồng lên
21.324 triệu đồng. Do Công ty chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại nên giá vốn hàng
bán chiếm phần lớn doanh thu bán hàng, do đó lợi nhuận gộp của Công ty chiếm tỉ trọng rất
nhỏ so với doanh thu thuần, chỉ khoảng 15,06% (năm 2013). Tốc độ tăng của lợi nhuận gộp là
khá nhanh, từ 23,5% (năm 2013) lên đến 127,2% (năm 2013) cho thấy Công ty đã dần chiếm
lĩnh thị trường, có thêm được nhiều bạn hàng, Công ty còn chủ động nhập khẩu thêm một số y
tin học thế mạnh của Công ty để cung cấp cho thị trường (điển hình như đường dextrose
monohydrate, Thiết bị viễn thông, Băng đĩa…). Doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty
cũng tăng khá đều đặn, năm 2013 tăng 3,5 triệu đồng so với năm 2013 từ 3,2 triệu đồng lên 6,7
“nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”). Theo kinh tế
chính trị học “cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị
trường, khách hàng cho doanh nghiệp mình”. Để hiểu một cách khái quát nhất ta có
khái niệm như sau:
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh
nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng
hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện và len lỏi vào từng
bước đi của các doanh nghiệp. Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lúc
này đầy sự biến động và vấn đề cạnh tranh đã trở nên cấp bách, sôi động trên cả thị
trường trong nước và thị trường quốc tế. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, trong bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứ một hoạt động nào của con người cũng nổi
cộm lên vấn đề cạnh tranh. Ví như các Quốc gia cạnh tranh nhau để giành lợi thế trong
đối ngoại, trao đổi; các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để lôi cuốn khách hàng về phía
mình, để chiếm lĩnh những thị trường có nhiều lợi thế và con người cạnh tranh nhau để
vươn lên khẳng định vị trí của mình cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ để những
người dưới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị thế trong quan hệ với các
đối tác. Như vậy, có thể nói cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của
cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô, từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thể toàn xã hội.
Điều này xuất phát từ một lẽ đương nhiên, nước ta đã và đang bước vào giai đoạn phát
triển cao về mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, mà bên cạnh đó cạnh tranh
vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự do là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh,
cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá. Bởi vậy để giành
được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh
nghiệp phải thường xuyên động não, tích cực nhạy bén và năng động, phải thường
xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng
các cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy móc đã
chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh doanh. Nhưng cho đến nay vẫn
chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả và giới chuyên môn về khả năng cạnh tranh
của Công ty
- Theo cách tiếp cận khả năng cạnh tranh ở tầm Quốc gia:
+
Cách tiếp cận này dựa trên quan điểm Diễn đàn kinh tế Thế giới. Theo định
nghĩa của họ thì khả năng cạnh tranh của một Quốc gia là khả năng đạt được và duy trì
mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững vàng tương đối và các
đặc trưng kinh tế khác.
Như vậy khả năng cạnh tranh của một Quốc gia được xác định trước hết bằng
mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố
quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã được
thực hiện. Ví dụ điển hình là Nhật Bản, sau chiến tranh Thế giới thứ hai, nền kinh tế
Nhật Bản trở nên hoang tàn, nhân dân chìm trong cảnh mất mùa, thiếu thốn. Vậy mà
đến năm 1968 Nhật bản đã trở thành một nước có nền kinh tế đứng thứ hai trên Thế
giới (sau Mỹ) và được xếp hàng các cường quốc kinh tế lớn nhất, kỷ lục về sự tăng
trưởng kinh tế này là một trong những đỉnh cao để xác định năng lực cạnh tranh lớn
của nền kinh tế Nhật Bản. Cũng theo họ thì các yếu tố xác định khả năng cạnh tranh
được chia làm 8 nhóm chính bao gồm 200 chỉ số khác nhau, các nhóm yếu tố xác định
khả năng cạnh tranh tổng thể chủ yếu có thể kể ra là:
Nhóm 1: Mức độ mở cửa nền kinh tế Thế giới bao gồm các yếu tố thuế quan,
hàng rào phi thuế quan, hạn chế nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái.
Nhóm 2: Nhóm các chỉ số liên quan đến vai trò và hoạt động của Chính phủ
bao gồm mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính phủ, thuế và mức độ
trốn thuế, chính sách tài khoá.
Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính bao gồm các nội dung về khả năng thực hiện
các hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả và cạnh tranh, rủi ro tài chính và tiết kiệm.
Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ bao gồm năng lực phát triển công nghệ trong
nước, khai thác công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển công nghệ
thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác.
năng khoa học và công nghệ.
•
Nhóm các điều kiện về cầu: phản ánh bản chất của nhu cầu thị trường trong
nước đối với sản phẩm và dịch vụ của một ngành.
•
Nhóm các yếu tố liên quan đến cơ cấu, chiến lược của doanh nghiệp và của
đối thủ cạnh tranh.
•
Nhóm các yếu tố về các ngành phụ trợ và các ngành có liên quan có khả
năng cạnh trạnh quốc tế.
Theo cách tiếp cận khả năng tranh ở cấp ngành, cấp Công ty:
+
Quan điểm của M.Poter:
Dựa theo quan điểm quản trị chiến lược được phản ánh trong các cuốn sách của
M.Poter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng lực chiếm lĩnh thị
trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của Công ty đó. Với
cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài nước năng lực cạnh tranh được quy
định bởi các yếu tố sau:
•
Số lượng các doanh nghiệp mới tham gia.
•
Sự có mặt của các sản phẩm thay thế.
•
Vị thế của khách hàng.
•
Uy tín của nhà cung ứng.
•
Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xây
dựng và lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp với giai đoạn, thời kỳ phát triển của
nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đối
thủ.
- Năng suất lao động
Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi thông qua năng suất lao động ta
có thể đánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và trình độ công nghệ của
doanh nghiệp.
- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi vì nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận
cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao và chi phí thấp. Căn cứ vào chỉ tiêu lợi
nhuận các doanh nghiệp có thể đánh giá được khả năng cạnh tranh của mình so với đối
thủ. Nếu lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giá
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất khả quan. Chỉ tiêu này cho thấy nếu có
100 đồng doanh thu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này thấp
tức là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh
tranh của doanh nghiệp thấp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả
cao. Đã có quá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp. Do đó doanh
nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm
mục đích nâng cao lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn
tốc độ tăng của doanh thu. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là
có hiệu quả. Điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao. Doanh
nghiệp cần phát huy lợi thế của mình một cách tối đa và không ngừng đề phòng đối
thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp bất cứ lúc nào do
sức hút lợi nhuận cao.
- Uy tín của doanh nghiệp
Uy tín của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có nhiều bạn hàng,
nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách hàng rất lớn. Mục tiêu của các
Năng lực của nhà quản trị được thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạch định
hướng đi cho doanh nghiệp. Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi về trình độ, giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn nhận và giải quyết các công
việc một cách linh hoạt và nhạy bén, có khả năng thuyết phục để người khác phục tùng
mệnh lệnh của mình một cách tự nguyện và nhiệt tình. Biết quan tâm, động viên,
khuyến khích cấp dưới làm việc có tinh thần trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn
kết giữa các thành viên trong doanh nghiệp. Ngoài ra nhà quản trị còn phải là người
biết nhìn xa trông rộng, vạch ra những chiến lược kinh doanh trong tương lai với cách
nhìn vĩ mô, hợp với xu hướng phát triển chung trong nền kinh tế thị trường. Nhà quản
trị chính là người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào
trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người có quyền lực cao nhất và trách
nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất. Họ chính là những người xác định hướng đi
và mục tiêu cho doanh nghiệp. Vì vậy mà nhà quản trị đóng một vai trò chủ chốt trong
sự phát triển của doanh nghiệp.
2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh
- Các nhân tố chủ quan
+ Khả năng về tài chính
Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Bất cứ
hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán đến
tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài chính sẽ
rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công nghệ và
máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự. Những thuận lợi đó sẽ
giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân
viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện để
mua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanh toán và
khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với khách hàng, khiến cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không phát triển được và có nguy cơ bị thụt
lùi hoặc phá sản. Như vậy khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh
nghiệp hình thành và phát triển.
người lao động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị trí
quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào, chỉ có nhà lãnh đạo giỏi thì vẫn chưa đủ, vẫn
chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó. Bên
cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề, có óc sáng tạo,
có trách nhiệm và có ý thức trong công việc. Có như vậy họ mới có thể đưa ra những
sản phẩm có chất lượng tốt và mang tính cạnh tranh cao. Trong nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung trước kia, ban lãnh đạo có thể không có trình độ chuyên môn cao chỉ
cần họ có thâm niên công tác lâu năm trong nghề là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo,
và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâu
dài trong doanh nghiệp. Ngày nay với quy luật đào thải của nền kinh tế thị trường, nếu
như ban lãnh đạo không có đủ trình độ chuyên môn cao, không có năng lực lãnh đạo
thì trước sau họ cũng sẽ bị đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí mà họ đang nắm giữ.
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi, tài tình
và sáng suốt thì ở đó công nhân viên yên tâm để cống hiến hết mình, họ luôn có cảm
giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và phát triển, trách nhiệm và quyền lợi
của họ được bảo đảm, được nâng đỡ và phát huy. Ở đâu có nhân viên nhiệt tình, có
trách nhiệm, có sự sáng tạo thì ở có sự phát triển vững chắc, bởi những quyết định mà
ban lãnh đạo đưa ra đã có người thực hiện. Như vậy để có năng lực cạnh tranh thì
những người trong doanh nghiệp đó phải có ý thức, trách nhiệm và nghĩa vụ về công
việc của mình. Muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đãi ngộ nhân sự là vấn đề quan
trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Các nhân tố khách quan
+ Nhà cung cấp
Nhà cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó đảm bảo cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành ổn định theo kế hoạch đã định
trước. Trên thực tế nhà cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu: loại cung
cấp thiết bị, nguyên vật liệu; loại cung cấp nhân công; loại cung cấp tiền và các dịch
vụ ngân hàng, bảo hiểm. Như vậy mỗi doanh nghiệp cùng một lúc có quan hệ với
nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên. Vấn đề đặt ra là yêu cầu của việc cung cấp