Chương I: Khái quát chung về thương mại điện tử
I. Thương mại điện tử là gì?
1. Số hóa và nền kinh tế số hóa
Sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã đưa tới cuộc “cách mạng số
hóa”, thúc đẩy sự ra đời của “kinh tế số hóa” và “xã hội thông tin” mà thương mại
điện tử là một bộ phận hợp thành.
Trong nửa đầu thế kỷ, kỹ thuật số bắt đầu phát triển và hoàn thiện dần; hình
ảnh (kể cả chữ viết, con số, ký hiệu khác) và âm thanh đều được số hóa thành các
nhóm bít điện tử để ghi lại, lưu giữ trong môi trường từ, truyền đi và đọc bằng điện
tử, tất cả đều với tốc độ ánh sáng.
Việc áp dụng kỹ thuật số có thể coi là cuộc cách mạnh vĩ đại trong lịch sử
nhân loại, gọi là cách mạng số hóa mở ra kỷ nguyên số hóa.
Cách mạng số hóa diễn ra với tốc độ rất cao. Máy tính điện tử đầu tiên ra đời
năm 1946 chỉ thực hiện 5000 lệnh trong 1 giây. 50 năm sau, máy tính điện tử cá
nhân thông dụng có thể thực hiện trên 40 triệu lệnh trong 1 giây ( Dự kiến 2012 đạt
tới 100 triệu lệnh) nhờ sử dụng các chíp vi mạch cho phép đóng mở nhiều triệu lần
trong 1 giây.
Ngành công nghệ thông tin ngày càng chiếm tỷ trọng trong nền kinh tế các
quốc gia ( ở Mỹ năm 1998 đã đạt 8%). Riêng về thương maị điện tử cứ 18 tháng
tổng công suất lại tăng lên gấp đôi.
Quá trình tin học hóa xã hội bắt đầu bùng nổ nhanh chóng chuyển sang mang
tính chất toàn cầu sau khi Internet ra đời. Trong bối cảnh ấy, hoạt động kinh tế nói
chung và thương mại nói riêng cũng chuyển sang dạng “ số hóa”, “điện tử hóa”;
1
khái niệm thương mại điện tử dần dần hình thành và ngày càng ứng dụng nhiều vào
trong cuộc sống.
2. khái niệm thương mại điện tử
• Thương mại điện tử
Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, thị trường ảo, E-
Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu
giữa các máy tính trong chính sách phân phối của tiếp thị. Tại đây một mối quan hệ
hoạt động của Thương mại điện tử:
Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương
mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần
được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ
mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính
thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau
đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả
thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho
thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình
(engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô
nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh;
chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt
hoặc đường bộ".
3
Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử
rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua
bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử.
Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt
động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ
liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh".
Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt
động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng;
chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương
mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp
với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá
(như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ
cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như
chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo).
Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thương mại" (commerce) trong "thương mại
điện tử" không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu thông
điện tử xuất hiện đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới bởi những ảnh hưởng to
lớn của mình:
- Làm thay đổi tính chất của nền kinh tế mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu.
- Làm cho tính tri thức trong nền kinh tế ngày càng tăng lên và tri thức đã thực
sự trở thành nhân tố và nguồn lực sản xuất quan trọng nhất, là tài sản lớn nhất của
một doanh ngiệp.
5
- Mở ra cơ hội phát huy ưu thế của các nước đang phát triển để họ có thể đuổi
kịp, thậm chí vượt các nước đã đi trước.
- Xây dựng lại nền tảng, sức mạnh kinh tế quốc gia và có tiềm năng làm thay
đổi cán cân tiềm lực toàn cầu.
- Rút ngắn về khỏang cách trình độ tri thức giữa các nước phát triển và đang
phát triển.
- Cách mạng hóa marketing bán lẻ và marketing trực tuyến.
III. Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý
1. Môi trường quốc gia
Trứơc khi đi đến một quyết định thiết lập môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội
cho nền kinh tế số hóa nói chung và Thương mại điện tử nói riêng (ví dụ quyết định
đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ trả thuế, và các dịch vụ khác
như thư tín dụng, dự báo thời tiết…), thì chính phủ mỗi nước phải đánh giá một
cách chính xác, khách quan những cơ hội hay hiểm họa mà xã hội thông tin hay cụ
thể hơn là Internet mang lại. Và để có một môi trường kinh tế xã hội ổn định, nhà
nước cần xây dựng một khung pháp lý phù hợp:
- Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch Thương mại điện tử.
- Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số và có các thiết chế
pháp lý thích hợp xác thực, chúng nhận chữ ký điện tử và chữ ký số.
- Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử.
- Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ từ nhà nứơc (các cơ quan
chính phủ và trung ương).
6
.Internet mở ra những cơ hội lớn cho các công ty vừa và nhỏ bứơc vào thị
trường quốc tế và thu thập thông tin chuyên ngành về các mặt hàng của mình hoặc
tìm kiếm các nguồn cung cấp hàng hóa một cách hiệu quả hơn.
Với sự hiện diện đầy tính thuyết phục, phát triển kinh tế dựa trên tri thức mà
tiêu biểu là Thương mại điện tử đã trở thành tiêu điểm chú ý không chỉ có học giả
mà còn có nhiều nhà hoạch định chiến lược phát triển quốc gia. Việt Nam là nước
đang trên đà phát triển mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới và trong mọi văn bản
chiến lược , bối cảnh quốc tế luôn được coi là một cơ sở quan trọng để xác định
quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển.
II. Thách thức đối với Việt Nam khi phát triển Thương mại điện tử
1. Những thách thức trong xây dựng chính sách và chiến lược
Thứ nhất, tốc độ phát triển trong Thương mại điện tử và tốc độ thay đổi đó tạo
ra sức ép rất lớn cho các quá trình xây dựng chính sách truyền thống.
8
Thứ hai, các vấn đề xuyên suốt một phạm vi rộng về thể chế, kinh tế, luật pháp
và kỹ thuật thường được giải quyết mang tính tổ chức theo cách riêng rẽ bởi các
thực thể khác nhau.
Thứ ba, các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với việc những bên tham
gia có những nhận thức rất khác nhau về các ảnh hưởng và hậu quả của Thương
mại điện tử. Trong phạm vi quốc gia vẫn còn chênh lệch khá lớn về phát triển hạ
tầng, cũng như truy cập Internet.
Thứ tư, Thương mại điện tử diễn ra trên bình diện toàn cầu nên nó đòi hỏi có
sự điều phối và thống nhất quốc tế trong cách tiếp cận để có thể khai thác hiệu quả
và vận dụng hết hiệu quả của nó.
2. Những thách thức trong tiến trình thực hiện
Trước xu thế phát triển mới của bên ngoài, thách thức đối với chúng ta là
khoảng cách tụt hậu và tương phản quá lớn giữa Việt Nam và thế giới.
Ngoài ra, để ứng dụng Thương mại điện tử an toàn và hiệu quả, Việt Nam cần
phải có hệ thống vững chắc về cơ sở hạ tầng của Thương mại điện tử. Quan trọng
nhất là hệ thống luật pháp phải được điều chỉnh theo hướng thừa nhận giá trị pháp
Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng hoạt động GDĐT ở nước ta về cơ bản mới
ở giai đoạn xây dựng các dịch vụ ứng dụng, chưa có dịch vụ nào được thực hiện
trực tuyến hoàn toàn. Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó có nguyên nhân quan
trọng thuộc về môi trường pháp lý: chúng ta còn thiếu một khung pháp lý cần thiết,
một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao để điều chỉnh các quan hệ trong
GDĐT. Mặt khác, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam đang tích cực
10
chuẩn bị để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Với tư cách là thành
viên của APEC, nước ta cũng đang tích cực tham gia và ủng hộ "Chương trình
hành động chung" của khối này về thực hiện "Thương mại phi giấy tờ" vào năm
2005 đối với các nước phát triển và năm 2010 đối với các nước đang phát triển.
Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ nước ta đã ký kết Hiệp định khung ASEAN
điện tử với hai nội dung quan trọng là Thương mại điện tử và Chính phủ điện tử.
Để có thể chủ động hội nhập, luật pháp của nước ta cần phải hoàn thiện để phù hợp
với các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập. Để triển khai thực hiện có hiệu
quả Thương mại điện tử và Chính phủ điện tử, ngoài việc xây dựng cơ sở dữ liệu
quốc gia, phát triển hạ tầng viễn thông và Internet, đào tạo nguồn nhân lực , thì
việc đẩy nhanh tiến độ tạo dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý về lĩnh vực này,
trong đó có luật GDĐT phải nó là hế sức quan trọng.
Luật GDĐT sẽ có quan hệ với nhiều đạo luật khác như Bộ luật Dân sự, Luật
Thương mại, Luật Kế toán v.v Do vậy, Luật này phải bảo đảm tính thống nhất,
đồng bộ với các đạo luật có liên quan đã ban hành của nước ta đồng thời phải đảm
bảo sự tương thích với luật pháp, thông lệ quốc tế về GDĐT
Nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội của nước ta đang chờ Luật GDĐT
và các văn bản hướng dẫn được ban hành. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi đối
với các lĩnh vực có nhu cầu cấp bách, đồng thời cần có lộ trình hợp lý, dự thảo Luật
GDĐT đã quy định những nguyên tắc chung như: Tự nguyện lựa chọn sử dụng
phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch; tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công
nghệ để thực hiện GDĐT; không một loại công nghệ nào được coi là duy nhất
trong GDĐT; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn trong GDĐT; bảo vệ quyền và lợi
pháp lý về bản chất và ngày tháng giao dịch.
- Quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử.
- Quy định về trung gian bảo đảm chất lượng.
Ngoài ra Thương mại điện tử còn có cả phương thức giao dịch không có hợp
đồng.
5. Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
- Các bên tham gia có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong
giao kết và thực hiện hợp đồng.
- Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của
Luật này và pháp luật về hợp đồng.
- Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về
yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên
quan đến hợp đồng điện tử đó.
6. Giao kết hợp đồng điện tử
- Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành
một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng.
13
- Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị
giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua
thông điệp dữ liệu.
III. Thực hiện hợp đồng và sự thực hiện hợp đồng trong thương mại
điện tử
Bất kỳ một hợp đồng nào cũng bao gồm hai yếu tố cần thiết: sự chào hàng và
sự chấp nhận. Hợp đồng được hình thành khi một bên chấp nhận lời chào hàng của
bên kia. Một lời chào hàng là một tuyên bố sẵn sàng mua hoặc bán một sản phẩm
hoặc dịch vụ mà bao gồm các chi tiết thích hợp là cố định, chính xác và rõ ràng.
Một lời chào hàng có thể bị huỷ bỏ ngay khi không có sự thanh toán hoặc khi sự
một sự quan tâm khác được chấp nhận. Sự chấp nhận là việc biểu lộ khả năng chấp
nhận một lời chào hàng, bao gồm tất cả các thuật ngữ được nói rõ của nó. Khi một
bên đưa ra một lời chào hàng được chấp nhận thì cũng có nghĩa là một hợp đồng đã
trên Internet thì các toà án cũng nên xem xét việc kích nút trên trang Web, nhập
thông tin trong Web form hoặc tải xuống một file có những thoả thuận ràng buộc
về mặt pháp lý.
IV. Những hợp đồng bằng văn bản trên WEB
Nói chung, các hợp đồng có hiệu lực ngay cả khi chúng không phải là dạng
văn bản hoặc được ký. Tuy nhiên, các loại hợp đồng nhất định không thể thực hiện
tại Mỹ trừ khi một văn bản được ký kết giữa các bên. Luật quy định về gian lận chỉ
ra rằng các hợp đồng cho việc bán các hàng hoá có giá trị trên 500$ và các hợp
đồng yêu cầu các hoạt động không thể thực hiện trong vòng một năm phải được lập
ra dưới hình thức một văn bản được ký. Một điều may mắn cho các doanh nghiệp
15
và các cá nhân muốn hình thành các hợp đồng sử dụng TMĐT vì đây là một văn
bản không yêu cầu hoặc là bút chì hoặc là giấy. Phần lớn các toà án sẽ công nhận
một văn bản tồn tại khi các điều khoản của hợp đồng đã được giảm bớt thành dạng
xác thực. Quyết định của toà án đầu tiên vào thế kỷ 19 đã chỉ ra rằng chuyển bằng
điện là một văn bản. Sau đó thì các toà án đã công nhận các bản ghi băng giọng nói,
các file máy tính trên đĩa và các bản fax là văn bản.
Do đó, các bên trong hợp đồng TMĐT sẽ coi đó là những yếu tố thuận lợi để
đáp ứng các yêu cầu về văn bản. Các toà án cũng rất dễ tính trong việc xác định cái
gì tạo thành chữ kỹ. Chữ ký là bất kỳ một ký hiệu nào đó được thực hiện hoặc được
công nhận cho mục đích xác nhận một văn bản. Các toà án có tên hiện trên các bức
điện, bản telẽ, bản fax và Western Union Mailgrams được ký. Thậm chí các tên
được đánh máy hoặc được in như là một phần của giấy có in sẵn đầu đề được dùng
như những chữ ký. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng một ký hiệu hoặc một mã được
tính đến trong file điện tử sẽ tạo thành chữ ký. Chắc chắn, chữ ký điện tử sẽ được
giải thích như là một chữ ký cho các mục đích của hợp đồng. Các công ty tiến hành
TMĐT quốc tế trong nhiều trường hợp không cần lo lắng về yêu cầu văn bản đã
được ký. Hiệp định chính kiểm soát việc buôn bán quốc tế, điều 11 của Công ước
của Liên hợp quốc về hợp đồng buôn bán hàng hoá quốc tế, không yêu cầu.
V. Những sự bảo đảm
- Sự thiếu hụt chuyên viên công nghệ thông tin ;
- Khả năng đảm bảo tinnhs riêng tư cá nhân.
Song để nhện thức được tiềm năng của Thương mại điện tử, Chính phủ và khu
vực tư nhân phải cùng nhau xây dựng một khuôn khổ luật pháp có thể dự đoán
được, để đảm bảo rằng Internet là môi trường kinh doanh an toàn và để tạo ra các
chính sách về nhân lực, đảm bảo cung cấp được cho những công nhân và toàn dân
nói chung, những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế mới mẻ này. Và thực tế,
Thương mại điện tử sẽ không diễn ra nếu thiếu vai trò của Chính phủ.
I. Cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin quốc gia (cơ sở vật chất hữu hình)
Chính phủ cần phải đánh giá han tầng thông tin quốc gia (cả phần cứng và
phần mền) để xem xét mọi mặt góp phần vào việc tăng cường sử dụng Thương mại
điện tử bao gồm chính sách, kết nối Internet và kiến thức máy tính. Từ đó mở rộng,
hiện đại hóa mạng lưới viễn thông- Internet ; xây dựng phát triển nhiều dịch vụ và
ứng dung trên Internet ; tạo điều kiện truy cập Internet được dễ dàng với chất lượng
tốt, giá cả phù hợp. Đồng thời khai thác sử dụng tối đa năng lực và dịch vụ của các
18
thể chế hiện có liên quan đến thu thập và phổ biến thông tin và dữ liệu các chương
trình mục tiêu để tăng cường sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Ngoài ra, việc xây dựng hạ tầng công nghệ bao gồm việc hình thành hệ chuẩn
hóa công nghiệp và Thương mại điện tử trên cơ sở những nguyên tắc pháp lý được
công nhận tiến tới hình thành bộ mã chuẩn quốc gia phù hợp với giao dịch Thương
mại điện tử trong phạm vi quốc tế và hòa mạng quốc tế, và các giải pháp kỹ thuật
đảm bảo an ninh, an toàn trên đường truyền mạng, ngăn ngừa việc truy cập trái
phép.
II. Môi trường pháp lý
Xây dựng các chính sách về an toàn và bảo mật thông tin, luật bảo vệ người
tiêu dùng, luật sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo tính thực tế cho các hoạt đông tài
chính thực tế cho các hoạt động Thương mại điện tử, từ đó tạo niềm tin cho người
tiêu dùng vào Thương mại điện tử.
Cụ thể, xây dựng các cải cách luật pháp, thể chế và điều tiết đối với lợi ích của