Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
CÁC BIỆN PHÁP SƢU TÂM VÀ TÍCH LUỸ TÀI LIỆU
CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Ở
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: GS.TS Lê A Thái Nguyên - 2011
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC S PHM
NGUYN HI NG
CC BIN PHP SU TM V TCH LU TI LIU
CHO BI VN NGH LUN X HI
TRUNG HC PH THễNG Chuyờn ngnh: Lớ lun v phng phỏp dy hc Vn Ting vit
Mó s: 60.14.10
Nguyễn Hải Đăng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng
tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công
trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Hải Đăng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: TÀI LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH LÀM VĂN NÓI CHUNG
VÀ LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI NÓI RIÊNG 8
1.1 Khái niệm về văn nghị luận xã hội và tài liệu trong quá trình làm văn
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM 81
3.1 Mục đích thể nghiệm 81
3.2 Phương pháp thể nghiệm 81
3.3 Nội dung và kế hoạch thể nghiệm 81
3.3.1 Đối tượng và địa bàn thể nghiệm 81
3.3.2 Thiết kế giáo án thể nghiệm 83
3.4 Kết quả thể nghiệm 97
3.4.1 Bảng thống kê kết quả thể nghiệm 97
3.4.2 Phân tích kết quả thể nghiệm 98
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GV : Giáo viên
HS : Học sinh
NLXH : Nghị luận xã hội
NXB : Nhà xuất bản
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
THPT : Trung học phổ thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
cơ bản để lập ý thì việc xây dựng cho học sinh ý thức cũng như thói quen sưu
tầm và tích luỹ tài liệu là rất cần thiết.
2. Để lập ý cho bài văn thì tài liệu là một trong những điều kiện tiên
quyết nhất. Trên thực tế, khi đứng trước một đề văn, để có thể lập ý cho bài
viết thì trước hết học sinh phải đọc kĩ đề, xác định vấn đề trọng tâm mà bài
nghị luận yêu cầu. Để có thể làm tốt được kĩ năng này đòi hỏi học sinh phải
biết phân tích đề, trên cơ sở đó xác định những luận điểm, luận cứ, luận
chứng qua việc đặt ra hệ thống các câu hỏi…Với kiểu bài nghị luận xã hội,
việc lập ý còn thông qua mô hình ý áp dụng cho từng kiểu bài( nghị luận về
một hiện tượng đời sống; nghị luận về một tư tưởng đạo đức). Tuy nhiên, dù
có thông qua bất cứ con đường nào thì cuối cùng học sinh cũng cần đến
nguồn tài liệu để lập ý cho bài viết của mình. Với kiểu bài nghị luận văn học
thì tài liệu để học sinh lập ý chính là nội dung các tác phẩm các em được học
trên lớp, là nhũng hiểu biết về tác giả, về thời đại, về những kiến thức lí
luận…Trong khi đó, với kiểu bài nghị luận xã hội thì tài liệu để học sinh lập ý
lại phong phú và rộng lớn hơn nhiều. Đó không chỉ là những kiến thức được
học ở trên lớp mà chủ yếu là những gì các em thu nhận được từ thực tế cuộc
sống bằng chính sự trải nghiệm của bản thân. Nói như vậy có nghĩa là những
vấn đề của đời sống xã hội chính là nguồn tài liệu chủ yếu để học sinh lập ý
cho bài văn. Từ đặc điểm này tạo nên đặc trưng rất riêng, mới lạ và hấp dẫn
của văn NLXH, nhưng đồng thời cũng gây nên những khó khăn không nhỏ
với học sinh nếu không biết cách học văn NLXH một cách có hiệu quả.
3. Trên thực tế, nguồn tư liệu để lập ý cho bài văn nghị luận xã hội của
học sinh lại rất nghèo nàn. Đứng trước một đề văn nghị luận xã hội học sinh
thường lúng túng vì không biết lấy tài liệu ở đâu để làm cơ sở cho việc lập ý.
Điều đó làm tâm lý đại đa số học sinh đều rất ngại khi viết kiểu bài này,và
chất lượng bài viết của các em cũng không cao. Sự nghèo nàn về nguồn tài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
được vấn đề này cần cung cấp cho học sinh phương pháp tìm kiếm, nguồn tìm
kiếm tài liệu một cách có hiệu quả để từ đó các em có thể tự mình trau dồi,
tích luỹ những tri thức từ thực tiễn cuộc sống bằng sự tìm tòi của chính bản
thân. Giải quyết được nguồn tìm kiếm, cách thức tìm kiếm tài liệu chắc chắn
sẽ là một con đường hiệu quả để học sinh học và làm văn NLXH đạt kết quả
cao hơn.
II. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy và học văn NLXH ở trường THPT (trong đó chú trọng đến
những biện pháp sưu tầm và sử dụng tài liệu cho bài văn NLXH của học sinh)
2. Phạm vi nghiên cứu
Quá trình lập ý, sưu tập và sử dụng tài liệu cho bài văn NLXH của học sinh lớp
12 THPT.
III. Lịch sử vấn đề.
Văn nghị luận nói chung và NLXH nói riêng đã được đưa vào giảng
dạy trong nhà trường phổ thông từ rất lâu. Nhưng chỉ đến những năm gần đây,
đặc biệt là từ 2008-2009 thì NLXH mới thực sự được quan tâm và đưa vào
cấu trúc đề thi đại học, cao đẳng. Những công trình nghiên cứu về NLXH
cũng theo đó mà xuất hiện ngày một nhiều lên, nhưng chưa có công trình nào
trực tiếp bàn đến vấn đề sưu tầm và tích luỹ tài liệu, mà chỉ có những công
trình có liên quan. Sau đây là một vài công trình tiêu biểu:
1). Đình Cao, Lê A (1989), Giáo trình làm văn, NXBGD, Hà Nội.
2). Đỗ Ngọc Thống (1996), Rèn luyện kĩ năng lập ý cho bài văn nghị
luận xã hội của học sinh THPT, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội.
Các tài liệu trên, đặc biệt là tài liệu (2) đi sâu vào kĩ năng lập ý (trong
đó có vấn đề sưu tầm tài liệu); song ít chú ý đến công việc sưu tầm tài liệu và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng chất lượng các bài văn của học sinh về mặt nội
dung, về ý thức và khả năng thu thập tài liệu của học sinh.
- Hình thành ý thức, biện pháp thu thập, sắp xếp và sử dụng tài liệu cho
học sinh.
- Thể nghiệm sư phạm để đánh giá giải pháp được đề xuất.
V. Phƣơng pháp nghiên cứu
1. Đọc, tổng hợp tài liệu: Chúng tôi tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp
những tài liệu liên quan đến đề tài để có những kiến thức phương pháp luận
cũng như những tài liệu thực tiễn phục vụ cho công tác nghiên cứu.
2. Phương pháp khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng dạy và
học nghị luận xã hội ở THPT; lập phiếu điều tra; nghiên cứu bài viết của học sinh
để từ đó có những đánh giá bước đầu về thực trạng dạy học văn NLXH.
3. Phương pháp thể nghiệm sư phạm: Chúng tôi tiến hành soạn giáo
án thể nghiệm về các tiết dạy văn NLXH để đánh giá giải pháp được đề xuất.
VI. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tài liệu trong quá trình làm văn nói chung và làm văn nghị
luận xã hội nói riêng.
Trong chương này, chúng tôi đi vào xác lập cơ sở lý thuyết và thực
tiễn cho việc giải quyết nội dung luận văn. Về cơ sở lý thuyết chúng tôi tìm
hiểu các nội dung: khái niệm về văn NLXH, tài liệu trong quá trình làm văn
NLXH; vị trí của việc thu thập, tích luỹ, sắp xếp và sử dụng tài liệu trong quá
trình làm văn NLXH. Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi tiến hành khảo sát thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÀI LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH LÀM VĂN NÓI CHUNG
VÀ LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI NÓI RIÊNG
1.1 Khái niệm về văn nghị luận xã hội và tài liệu trong quá trình
làm văn NLXH
1.1.1 Khái niệm văn nghị luận xã hội.
Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt, “nghị luận” là dùng lí luận để phân
tích ý nghĩa phải trái, bàn bạc, mở rộng vấn đề. Còn “xã hội” trước hết là một
tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan
hệ khác. Cũng có thể hiểu “xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa người
và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ…
Từ đó có thể hiểu nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về
các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã
hội. Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con
người và những mối qua hệ giữa người với người trong xã hội [32, 5].
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, Lê A thì: NLXH lấy đề tài từ các lĩnh vực
chính trị, xã hội, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ các đúng-
sai, tốt -xấu, phải-trái của vấn đề được nêu ra. Nội dung ấy thường được cô
đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn hoặc một lời nhận xét khái quát nào
đấy. Các vấn đề đặt ra trong NLXH thường rất rộng: là những quan niệm đối
nhân xử thế, cách sống hay nói cách khác đó là mối quan hệ giữa con người
với con người. Có thể vấn đề đặt ra cũng có thể rất hẹp như: nên tập thể dục
buổi sáng như thế nào; học sinh cần đi học đúng giờ…
SGK Làm văn 10 cho rằng: NLXH bàn đến mối quan hệ giữa con
người với con người. Những lời bàn này góp phần làm cho đời sống tinh thần
hội, tư tưởng đạo đức đang được cả xã hội quan tâm hiện nay, phù hợp với
khả năng nhận thức của học sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Tài liệu trong kiểu bài nghị luận xã hội chính là những số liệu, sự kiện,
câu chuyện, những nhận xét, ý kiến, quan niệm…về các vấn đề diễn ra trong
đời sống xã hội. Việc đưa được những tài liệu như vậy vào bài viết sẽ làm bài
văn trở nên sinh động và giàu sức thuyết phục hơn.
Ví dụ 1:
- Số liệu về nạn chặt phá rừng: Với điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lí
của Việt Nam thì rừng tự nhiên phải chiếm tới 50% tổng diện tích lãnh thổ.
Tuy nhiên, hiện nay rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn che phủ khoảng 9%
diện tích lãnh thổ.
Thống kê của Cục kiểm lâm thì: đầu tháng 9/2010 cả nước có 1.553,68
ha rừng bị chặt phá, và 5.364,85 ha rừng bị cháy.
- Số liệu về thực trạng người nhiễm và chết vì AIDS: Ở Việt Nam, tính đến
năm 2008 có khoảng 135171 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 29134 người đã
chuyển sang giai đoạn AIDS. AIDS đã cướp đi sinh mạng của 41418 người.
Ví dụ 2: Khi nghị luận về lối sống đơn giản của thanh niên trong thời
đại mới, trong bài viết đưa ra những câu chuyện thực tiễn thì bài viết chắc
chắn sẽ sinh động và thuyết phục hơn. Chẳng hạn như mẩu truyện sau:
Có ông lão hàng ngày đem cá ra chợ bán. Chiều ông ở nhà chơi với
vợ con. Có ông giáo sư kinh tế thấy vậy khuyên ông lão:
- Sao ông không đánh cá nhiều hơn và đem bán cho các cử hànglớn?
Ông sẽ có nhiều tiền.
-Thế rồi sao( ông lão hỏi)?
- Ông sẽ giàu và thành tỷ phú không chừng.
- Rồi sao nữa (ông lão hỏi tiếp)?
tim - phổi, cơ bắp, máu thịt, là chất liệu cần thiết bồi đắp vào, để từ bộ xương
này sáng tạo nên một cơ thể sống động là bài văn hoàn chỉnh [18, 179-180].
Nói như vậy có nghĩa là hệ thống luận điểm mới chỉ là những nhận
định, tư tưởng khái quát, chúng phải được lấp đầy,làm sáng tỏ bằng những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
những kiến thức, những tài liệu cụ thể. Có hệ thống luận điểm đầy đủ không
có nghĩa rằng bài viết ấy đã hay và đủ sức thuyết phục; những luận điểm ấy
cần phải tiếp tục được triển khai thành những luận cứ cụ thể. “Một bài văn
nghị luận, dù chứa đựng một một hệ thống luận điểm đầy đặn, hoàn chỉnh vẫn
có thể là một bài làm sơ lược, khô xác, nghèo nàn vì thiếu những ý cụ thể
phong phú, sinh động, sắc sảo, tức là thiếu những luận cứ, luận chứng cần
thiết, xác đáng [18, 181]. Để làm được như vậy buộc học sinh phải biết tập
hợp, huy động tài liệu chứa đựng những kiến thức cần thiết mình đã tích luỹ
được để phục vụ cho yêu cầu của bài viết.
Như vậy, dù là NLVH hay NLXH thì việc huy động kiến thức, tập hợp
tài liệu luôn có một tầm quan trọng đặc biệt, góp phần xây dựng luận điểm,
làm cho luận điểm trở nên sinh động và thuyết phục hơn.
Ví dụ: Với đề văn “An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi người”.
Có 2 đoạn văn nghị luận về hậu quả của tai nạn giao thông như sau:
+ Đoạn 1: Theo thống kê, năm 2002, cả nước có 13000 nạn nhân tử
vong do tai nạn giao thông. Thống kê mới nhất của Ngân hàng Thế giới –
theo báo điện tử Vietnamnet ngày 18 tháng 4 năm 2007 – hàng năm Việt Nam
thiệt hại khoảng 850 triệu đô la do tai nạn giao thông, tổn thất kinh tế đó
chiếm 0,5% tổng sản lượng quốc gia. Điều đáng suy nghĩ là thanh thiếu niên
độ tuổi từ 15 đến 25 chiếm 20% dân số Việt Nam nhưng lại chiếm đến 40%
số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.
+ Đoạn 2: Theo những thống kê gần đây, Việt Nam xảy ra nhiều vụ tai
tạo văn bản mà là một kĩ năng luôn luôn phải vận dụng trong suốt quá trình (
từ khâu phân tích đề cho đến khâu kiểm tra lại bài viết); đây là cái nền chung
trên cơ sở đó bài văn được sáng tạo, nảy nở [18, 180].
Tuy vậy, tài liệu là cơ sở cho việc lập ý, được huy động và sử dụng chủ
yếu trong quá trình tìm ý và lập dàn ý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
1.3 Thực trạng số lƣợng, chất lƣợng tài liệu, ý thức, biện pháp thu
thập tài liệu của học sinh
1.3.1 Khảo sát thực trạng
1.3.1.1 Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát
Để nắm được thực trạng số lượng, chất lượng, ý thức, biện pháp thu
thập tài liệu của học sinh chúng tôi tiến hành khảo sát học sinh của 2 trường
THPT Hiệp Hoà 1 và THPT Hiệp Hoà 4 (tổng số học sinh khảo sát là 93 học
sinh);tại huyện Hiệp Hoà- Bắc Giang; thời gian từ tháng 9/2010 đến 5/2011.
1.3.1.2 Mục đích khảo sát
Thông qua việc khảo sát đánh giá được số lượng, chất lượng, ý thức
cũng như biện pháp thu thập tài liệu của học sinh, từ đó đề ra những biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu thập, tích luỹ tài liệu cho học sinh.
1.3.1.3 Nội dung khảo sát
- Về phía HS: Chúng tôi tiến hành khảo sát ý thức sưu tầm tài liệu; biện
pháp sưu tầm và sử dụng tài liệu khi làm bài văn NLXH; khảo sát kết quả bài
viết của học sinh.
- Về phái GV: Chúng tôi khảo sát GV về nhận thức vai trò của tài liệu,
những biện pháp hướng dẫn học sinh sưu tầm và sử dụng tài liệu.
1.3.1.4 Phương pháp khảo sát
Chúng tôi sử dụng các phương pháp khảo sát sau:
+ Sử dụng phiếu điều tra.
16
Phiếu thăn dò ý kiến giáo viên
(Khảo sát trên 7 giáo viên của trường THPT Hiệp Hoà 1)
Để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học văn NLXH xin đồng chí vui
lòng cho biết ý kiến về các vấn đề sau đây.( Đánh dấu x vào những câu mà
các đồng chí trả lời).
Câu 1: Đồng chí nhận thức như thế nào về vai trò của tài liệu trong dạy
học văn NLXH?
a)Không quan trọng
b)Rất quan trọng
Câu 2: Đồng chí có quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh tích luỹ tài
liệu hay không?
a)Không quan tâm
b)Không thường xuyên
c)Thường xuyên hướng dẫn học sinh tích luỹ tài liệu.
Câu 3: Đồng chí hướng dẫn học sinh tích luỹ tài liệu như thế nào?
a) Không hướng dẫn.
b) Nhắc nhở học sinh về nhà đọc tài liệu một cách chung chung.
c) Chỉ ra nguồn thu thập, cách thức thu thập tài liệu để học sinh tự
tích luỹ.
Câu 4: Xin đồng chí cho biết ý kiến của mình về việc làm như thế nào
để học sinh tích luỹ được nhiều tài liệu hơn khi làm văn NLXH?
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Xin cảm ơn các đồng chí!
a
b
c
d
11
14
28
40
11,8
15,1
3,1
43,0
3
a
b
c
24
57
12
25,8
61,3
12,9 4
a
b
c
Chất lượng dẫn chứng
Không
có
Không
đủ
Đủ số
lượng
Không
tiêu biểu
Tiêu biểu
Hiệp
Hoà 1 12A3
47
0
(0)
29
(61,7)
18
(38,3)
31
(65,9)
8
(17,4)
* Về phía giáo viên:
Câu số
Phương án
Số lượng
Tỷ lệ(%)
1
a
b
0
7
0
100
2
a
b
5
2
71,4
28,6
3
a
b
c
0