hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là sản phẩm độc lập của của bản thân, số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin
trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả
Nguyễn Thị Thắng
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự
động viên khuyến khích, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân Hà Nội, gia đình, các đồng chí, đồng nghiệp.
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa sau Đại học, Khoa
Khoa học Quản lý - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội; Các thầy, cô giáo
trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Quản lý Kinh tế K19 Vinh (2010-2012); Tổng cục
DS-KHHGĐ, Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ, Cục Thống kê, Trung tâm Giáo dục -
Truyền thông, Trung tâm CSSKSS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An; Trung tâm DS-KHHGĐ
20 huyện, thành phố, thị xã, Trung tâm Tư vấn & dịch vụ DS-KHHGĐ tỉnh đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Chi cục DS-KHHGĐ Nghệ
An đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi theo học lớp Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý
kinh tế và chính sách của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

nên có từ 35 đến 40 người. Ở Việt Nam mật độ dân số gần 260 người/km
2
, gấp 6-7
lần so với mật độ chuẩn và gấp 5 lần so với mật độ thế giới, so với các nước đã phát
triển thì gấp trên 10 lần. Hiện nay, mỗi năm dân số nước ta tăng thêm xấp xỉ 1 triệu
người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh loại trung bình (nước ta có 39 tỉnh có dân số từ
1,1 triệu người trở xuống). Đến nay, diện tích đất canh tác bình quân đầu người ở
nước ta chỉ còn dưới 0,1 ha/người, xếp vào những quốc gia có diện tích đất canh tác
bình quân đầu người rất thấp, dưới mức đảm bảo an ninh lương thực rất nhiều. Đây
là thách thức lớn khi nước ta có dân số nông thôn chiếm tỷ lệ lớn và chưa có việc
làm còn nhiều. Quy mô dân số lớn cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh kèm
theo hàng loạt vấn đề cần giải quyết như nạn phá rừng ngày càng tăng, ô nhiễm môi
trường trầm trọng, giao thông ách tắc, dịch bệnh tăng nhanh
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công
tác DS-KHHGĐ. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách DS-
KHHGĐ đã chỉ rõ:  !"#$!%
&'"()*&+",-.*)/0%12)3 $!
&+!4% 567)(8!,*&' 95$!:&;
:!)<.,12=>Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: 895
",-4% 5 4%)?9@"(/ $!)*&+=>
Trải qua hơn 50 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung,
tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc
giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước, của địa phương. Bên cạnh những thành tựu đó, công tác DS-
i
KHHGĐ cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng đang đối mặt với nhiều thách
thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp
đến sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương. Nghệ an là tỉnh có quy mô
dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả

yếu xuất phát từ việc mong muốn sinh con trai với mục đích nối dõi tông đường, là
lao động chính, là trụ cột gia đình thì giờ đây, sau khi Quyết định 09 - QĐ/TW ban
hành, hàng loạt phụ nữ đang mang thai và đang có ý định mang thai là con thứ 3
+
.
Nếu chúng ta không có giải pháp kịp thời thì khó tránh khỏi nguy cơ từ vấn đề bùng
nổ dân số. Việc gia tăng dân số nhanh có thể tạo ra thị trường lớn với nguồn lao
động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, song cũng góp phần không nhỏ làm
trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải
ii
thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xóa bỏ tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, đất
rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng ô nhiễm đang là những
thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Một
số vấn đề mới xuất hiện như mất cân bằng giới tính khi sinh đã ở mức báo động,
nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại
những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội. Cơ cấu dân số đang
có những biến đổi quan trọng, chuyển từ “ cơ cấu dân số trẻ” sang “cơ cấu dân số
vàng” và xuất hiện “già hóa dân số”. Chất lượng dân số mặc dù đã được cải thiện
nhưng vẫn còn hạn chế, đang là những vấn đề hết sức được quan tâm…
Do vậy, hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
là rất cần thiết. Giải quyết tốt đề tài trên có ý
nghĩa thiết thực nhằm giảm quy mô dân số, giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
,
từ đó giúp cho chất lượng dân số Nghệ An ngày càng được nâng cao về mọi mặt.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “hoàn thiện các công cụ chính sách DS
-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+

của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ của địa
phương
-
Phạm vi nghiên cứu:
+ AB CCông cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức
sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
tại Nghệ An
DE;!CDữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2006 - 2011
D!C Địa bàn tỉnh Nghệ An.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Chính sách DS-KHHGĐ gồm các công cụ gì?
- Nghệ An đã sử dụng các công cụ chính sách DS- KHHGĐ như thế nào
nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
?
- Nghệ An cần hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ như thế nào
để giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
?
iv
6. Phương pháp nghiên cứu
- Khung lý thuyết:
v
Thực hiện mục
tiêu:

Người dân
2. Khách quan
- Nghiên cứu định tính: Phương pháp quan sát thực tiễn, phương pháp thu
thập, đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp và thống kê.
- Nghiên cứu định lượng:
+ Phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính
quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội, tổng hợp báo cáo thống kê
chuyên ngành về mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
tại Nghệ An? Nguyên nhân?
Ảnh hưởng của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
tại Nghệ An?
+ Phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính
quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội về chính sách DS- KHHGĐ
và tác động của chính sách đó đối với mức sinh và tỉ lệ sinh con thứ 3 tại Nghệ An.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết
tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được
kết cấu thành 3 chương và có những đóng góp sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
.
- Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát
triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta; là
một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân, gia đình và
toàn xã hội. Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những văn bản pháp lý
nhằm đảm bảo cho các hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ dân số theo một kỷ cương, trật tự nhất định và đảm bảo

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn các huyện điển
hình đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn- đồng bằng, miền núi của tỉnh
Nghệ An.
Chương 2: Với những phân tích cụ thể về thực trạng và nhận xét về mức
sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011, thực trạng các
công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
tại
Nghệ An, có thể thấy được trong thời gian qua, các công cụ chính sách DS-
KHHGĐ của Nghệ An đã tác động không nhỏ tới công tác DS-KHHGĐ, đã làm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
. Đã xử lý vi phạm cho một bộ phận không
nhỏ cán bộ, Đảng viên nhằm răn đe, làm gương cho những người dân vi phạm và
đang có ý định vi phạm chính sách DS-KHHGĐ.
- Nghiên cứu đã đánh giá các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An
nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
ở Nghệ An
F(G
- Công cụ kinh tế
Mặc dù Nghệ An đang là một tỉnh nghèo, dân số chủ yếu là giáo dân, vùng
biển, vùng núi nhưng các địa phương trong tỉnh cũng như UBND tỉnh Nghệ An đã
đầu tư kinh phí cho hoạt động chuyên môn, đồng thời hỗ trợ kinh phí khen thưởng
cho những tập thể và cá nhân thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ
- Công cụ truyền thông – giáo dục và tâm lý
Đã phần nào làm cho người dân hiểu được tầm quan trọng của công tác DS-
KHHGĐ; lợi ích của gia đình có từ 1 đến 2 con; Tác hại của mất cân bằng giới tính

Nghệ an đang quá lớn, lại đang có mức sinh cao, tỷ lệ sinh con thứ 3
+
đang cao và
đang có xu hướng gia tăng. Chính vì vậy, các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ
hiện nay của Nghệ An không còn phù hợp với thời đại, cụ thể:
H" 4/I,BH.8J
Công tác truyền thông chưa được triển khai toàn diện và chưa đồng bộ trên
viii
các kênh thông tin đại chúng. Vì vậy chưa tạo thành sự đồng bộ trong hoạt động
truyền thông trên mọi địa bàn, dân cư và trong mọi thơi gian.
Các chương trình giáo dục về Dân số - SKSS tuy đã được triển khai nhưng
mới mang tính thí điểm, chưa được phủ kín khắp các trường PTTH và chuyên
nghiệp.
Hình thức truyền thông trực tiếp tuy đã đổi mới, song cần chú trọng đến nội dung,
chất lượng và kỹ năng truyền thông cho đối tượng.
Dư luận xã hội cón có thành kiến với vị thành niên trong việc tìm hiểu về
SKSS/SKTD. Còn có các ý kiến khác nhau trong việc cung cấp thông tin
SKSS/SKTD cho vị thành niên. Nhiều người cho rằng việc cung cấp thông tin và tư
vấn cho VTN về chăm sóc SKSS/SKTD và KHHGĐ là vẽ đường cho hươu chạy;
Các bạc cha mẹ của VTN né tránh, không chú ý cung cấp thông tin cho con cái,
thậm chí không quan tâm đến những thây đổi tâm lý, sinh lý của con…
Truyền thông đại chúng tuy đã đổi mới, xây dựng nhiều mô hình, nhiều cách
thức, nhiều nội dung song chưa kịp thời và chưa cập nhật tính thời sự. Nhiều lúc
làm cho người dân hiểu sai các chính sách về DS-KHHGĐ.
H0%
Trong thời gian qua Nghệ An đã chú trọng đến đầu tư cho công tác dân số,
nhưng nguồn kinh phí còn quá ít, chỉ đủ để tổ chức các mô hình mang tính thí điểm,
chưa đủ để chi cho mô hình nhân rộng và mang tính chiều sâu; khen thưởng và xử
phạt chưa phù hợp với giá cả thị trường nên chưa thu hút được người dân và các tổ
chức thực hiện nghiêm túc. Chế độ, phụ cấp cho đội ngũ làm công tác Dân số cơ sở

Việc nới lỏng nhanh chóng các biện pháp hành chính, việc ban hành Pháp
lệnh Dân số và một số chính sách xã hội khác thiếu chặt chẽ, đã làm cho người dân
hiểu sai về các quy định đối tượng được sinh con thứ 3
+
;
Bộ máy làm công tác Dân số/KHHGĐ và đội ngũ cán bộ làm công tác Dân
số/KHHGĐ ở cơ sở thiếu ổn định. Từ năm 1989 đến nay, 3 lần thay đổi tổ chức bộ
máy làm công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt là việc giải thể Uỷ ban DS-GĐ-TE từ
tháng 8/2007 ở TW, nhưng 10 tháng sau mới kiện toàn ở địa phương có ảnh hưởng
trực tiếp không nhỏ tới kết quả thực hiện các mục tiêu DS-KHHGĐ.
Đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, nhất là ở cơ sở, những người trực tiếp
x
làm công tác tuyên truyền vận động, chưa được ổn định, các điều kiện đảm bảo,
nhất là chính sách cho cán bộ cơ sở quá thấp; cán bộ chuyên trách cấp xã còn làm
việc theo chế độ hợp đồng thời vụ (chưa có các chế độ bảo hiểm), Cộng tác viên
dân số chế độ phụ cấp quá thấp nên chưa thật sự gắn bó, tâm huyết, nhiệt tình với
công việc được giao.
Nguồn lực đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ từ Trung ương đến cơ sở còn
thấp, chưa tương xứng với các yêu cầu và mục tiêu đặt ra trong công tác DS-
KHHGĐ.
D Về phía chính quyền địa phương
Do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược, tính chất
khó khăn, phức tạp của công tác Dân số nên một số cấp uỷ Đảng, chính quyền đã
quan tâm chưa đúng mức, có nơi đã buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác
Dân số; Một số địa phương có biểu hiện chủ quan thoả mãn với những thành công
của công tác Dân số; Đầu tư nguồn lực cho công tác Dân số chưa đáp ứng với nhu
cầu thực tế.
Chưa triển khai ký cam kết không vi phạm chính sách DS-KHHGĐ đối với
các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, cán bộ, công nhân viên chức, đảng viên trên
toàn địa bàn của Nghệ An, chỉ có quy định về xử lý vi phạm chính sách DS-

định. Việc suy diễn quyền đồng nghĩa với thoải mái, tự do, không hạn chế và không
bị phạt đã tạo dư luận xã hội, làm cho các cơ quan, tổ chức dao động, chần chừ
trong việc ban hành chính sách khuyến khích, không khuyến khích và thực hiện các
biện pháp hành chính, chưa xử lý nghiêm, triệt để cán bộ, đảng viên vi phạm chính
sách Dân số - KHHGĐ đang là yếu tố thúc đấy gia tăng mức sinh, điều này đã tác
động xấu đến phong trào vận động quần chúng nhân dân thực hiện chính sách Dân
số - KHHGĐ.
Mặc dù việc suy diễn là không đúng với bản chất về quyền của công dân
được quyết định tự nguyện và có trách nhiệm, với tính thống nhất của hệ thống
pháp luật nước ta. Mặc dù các hành vi là cố tình hay vô ý trong phạm vi hẹp, song
cũng tạo nên dư luận xã hội không thuận cho việc thực hiện mục tiêu chính sách
DS-KHHGĐ trong thời gian qua. Song việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật vẫn
chưa được thực hiện tốt.
D Về phía người dân
Tư tưởng trọng nam khinh nữ, tâm lý tập quán muốn có đông con, nhiều
cháu, phải có con trai để nối dõi tông đường (tư tưởng nhất nam viết hữu thập nữ
xii
viết vô, có con trai để đi vào nơi thờ tự), làm nương rẫy, chăm sóc bố mẹ khi về già.
Bên cạnh đó, hiện nay ở nước ta chế độ an sinh người già chưa đảm bảo.
Đồng thời, những yếu tố kinh tế - xã hội và lối sống vẫn tạo ra nhu cầu đông
con, có con trai (thực tế thời gian qua, những cặp vợ chồng có con một bề, có hai
con gái đã sinh con thứ ba trở lên chiếm tỷ lệ chủ yếu).
Chẩn đoán thai nhi bất hợp pháp, đặc biệt là siêu âm loại bỏ thai nhi vì lý do
giới tính, và điều kiện kinh tế thấp là nguyên nhân khó khăn phức tạp và lâu dài
trong việc thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con, bảo đảm cân bằng
giới tính và nâng cao chất lượng dân số.
Số phụ nữ bước vào chu kỳ sinh đẻ tăng đột biến ở nhóm tuổi có tỷ lệ mắn
đẻ "20-29 tuổi" cao nhất, trung bình cứ một phụ nữ bước ra khỏi độ tuổi sinh đẻ thì
có 2,5 phụ nữ bước vào.
Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho mức sinh và sinh con thứ 3

+
.
Chương 3: Từ phân tích điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân trên và căn cứ vào
phương hướng hoàn thiện các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ tại Nghệ An nhằm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
, tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm
hoàn thiện các công cụ như sau:
- Hoàn thiện các công cụ truyền thông – giáo dục và tâm lý:
+ Tăng cường, đổi mới truyền thông vận động, giáo dục chuyển đổi hành vi
+ Tăng cường đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số ở cơ sở.
+ Nâng cao động lực cho cán bộ Dân số-KHHGĐ cơ sở.
- Hoàn thiện các công cụ kinh tế:
+ Khuyến khích, khen thưởng đối với cá nhân
+ Khuyến khích, khen thưởng đối với các xã, phường, thị trấn:
+ Đầu tư kinh phí và sử dụng kinh phí
- Hoàn thiện các công cụ hành chính - Tổ chức:
+ Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức & quản lý
+ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách Dân số-KHHGĐ
+ Xử lý vi phạm
- Hoàn thiện các công cụ nghiệp vụ (kỹ thuật):
- Dịch vụ Dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Xã hội hóa trong thực hiện công tác DS-KHHGĐ
xiv
Để có thể thực hiện thành công các giải pháp trên cần đảm bảo những điều
kiện sau:
- Đối với chính quyền Trung ương
+ Chính Phủ:
+ Bộ Y tế, Tổng cục DS-KHHGĐ
- Đối với chính quyền địa phương

1,1 triệu người trở xuống). Đến nay, diện tích đất canh tác bình quân đầu người ở
nước ta chỉ còn dưới 0,1 ha/người, xếp vào những quốc gia có diện tích đất canh tác
bình quân đầu người rất thấp, dưới mức đảm bảo an ninh lương thực rất nhiều. Đây
là thách thức lớn khi nước ta có dân số nông thôn chiếm tỷ lệ lớn và chưa có việc
làm còn nhiều. Quy mô dân số lớn cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh kèm
theo hàng loạt vấn đề cần giải quyết như nạn phá rừng ngày càng tăng, ô nhiễm môi
trường trầm trọng, giao thông ách tắc, dịch bệnh tăng nhanh
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công
tác DS-KHHGĐ. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách DS-
KHHGĐ đã chỉ rõ:  !"#$!%
&'"()*&+",-.*)/0%12)3 $!
&+!4% 567)(8!,*&' 95$!:&;
:!)<.,12=>Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: 895
",-4% 5 4%)?9@"(/ $!)*&+=>
Trải qua hơn 50 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung,
tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc
giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước, của địa phương. Bên cạnh những thành tựu đó, công tác DS-
1
KHHGĐ cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng đang đối mặt với nhiều thách
thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp
đến sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương. Nghệ An là tỉnh có quy mô
dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả
nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa) và nằm ở tốp 10 tỉnh có
mức sinh cao nhất cả nước (Kon tum, Hà Giang, Lai Châu, Gia Lai, Quảng Trị, Lào
Cai, Đắc Nông, Sơn La, Điện Biên), ngày càng có xu hướng gia tăng trong khi cả
nước đã đạt mức sinh thay thế, trong 10 tỉnh trên thì Nghệ An là tỉnh có quy mô dân
số đông nhất và cũng là một tỉnh nghèo;
Ở Nghệ An tỷ lệ sinh con thứ 3

tránh khỏi nguy cơ từ vấn đề bùng nổ dân số. Việc gia tăng dân số nhanh có thể tạo
ra thị trường lớn với nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, song
cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết
2
việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xóa bỏ tệ nạn
xã hội, tai nạn giao thông, đất rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày
càng ô nhiễm đang là những thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói
chung và Nghệ An nói riêng. Một số vấn đề mới xuất hiện như mất cân bằng giới
tính khi sinh đã ở mức báo động, nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng
giới tính khi sinh sẽ đem lại những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh
xã hội. Cơ cấu dân số đang có những biến đổi quan trọng, chuyển từ “ cơ cấu dân số
trẻ” sang “cơ cấu dân số vàng” và xuất hiện “già hóa dân số”. Chất lượng dân số
mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, đang là những vấn đề hết sức
được quan tâm…
Do vậy, hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức
sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
tại Nghệ An là rất cần thiết. Giải quyết tốt đề tài trên có
ý nghĩa thiết thực nhằm giảm quy mô dân số, giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ
3
+
, từ đó giúp cho chất lượng dân số Nghệ An ngày càng được nâng cao về mọi mặt.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “hoàn thiện các công cụ chính sách DS
-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
tại Nghệ An

làm luận văn
tốt nghiệp.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

phương
-
Phạm vi nghiên cứu:
+ AB CCông cụ của chính sách DS-KHHGĐ tại tỉnh Nghệ An nhằm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
.DE;!CDữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2008 – 2011, vì năm
2008 có thay đổi tổ chức bộ máy.
D!C Địa bàn tỉnh Nghệ An.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Chính sách DS-KHHGĐ gồm các công cụ gì?
- Nghệ An đã sử dụng các công cụ chính sách DS- KHHGĐ như thế nào
nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
?
- Nghệ An cần hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ như thế nào
để giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
+
?
4
6. Phương pháp nghiên cứu
- Khung lý thuyết:
Thực hiện
mục tiêu:
- Giảm mức
sinh
- Giảm tỷ lệ

Trích đoạn Các yếu tố làm tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ Nguyên tắc của chính sách Dân số-KHHGĐ Các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ Các yếu tố chủ quan Các yếu tố khách quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status