CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - Pdf 26

Mở bài
Trong nền kinh tế, hệ thống ngân hàng của một đất nước đóng vai trò hết
sức quan trọng, như kiểm soát và điều tiết mức cung tiền cũng như các vấn đề
liên quan đến tiền tệ, quản lý hoạt động của các ngân hàng trung gian, thực hiện
nhiều nhiệm vụ của chính phủ, và để thực hiện được vai trò này, ngân hàng
trung ương vận dụng các công cụ của chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ là một chính sách vĩ mô. Nó tạo ra những tác động
nhằm định hướng và điều tiết nền kinh tế. Vì vậy để có một nền kinh tế tăng
trưởng phát triển cao và ổn định thì ngân hàng trung ương cần phải xem xét vận
dụng những công cụ gì của chính sách tiền tệ cho thích hợp với từng giai đoạn
phát triển của nền kinh tế.
Ở Việt Nam, sau chiến tranh nền kinh tế bị suy sụp nghiêm trọng và từ
những năm 1987 nền kinh tế đất nước rơi vào lạm phát cao ba con số làm cho
lòng tin của nhân dân vào chính phủ ngày càng giảm sút. Nhưng do sự vận dụng
đúng đắn của chính sách tiền tệ, đã làm cho lạm phát giảm thấp từng bước ổn
định và đưa nền kinh tế đến tăng trưởng.
Cũng chính vì tầm quan trọng này mà trong đề tài này em xin đề cập đến
những chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương và sự vận vụng của nó ở
Việt Nam. Nhưng do sự hiểu biết của em còn hạn hẹp nên mong được sự góp ý
chỉ bảo thêm từ thầy cô.
PHẦN A
CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
I. KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TÊ:
1. Chính sách tiền tệ là gì?
Chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nước. Nó là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ do ngân
hàng trung ương khởi thảo và thực hiện với mục tiêu cao nhất là ổn định giá trị
đồng tiền để từ đó ổn định và tăng trưởng kinh tế.
2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Bất cứ chính sách nào đều có mục tiêu của nó. Vì chính sách tiền tệ là

khoản tiền gởi thanh toán. Đó là cách làm nghịch lý, dẫn tới việc các doanh
nghiệp găm giữ tiền mặt, gây ra phản ứng dây chuyền thiếu tiền mặt thường
xuyên trong hệ thống ngân hàng và trong nền kinh tế. Hạn chế tiền mặt sẽ kích
thích tâm lý thông tin vào hệ thống ngân hàng, không ai muốn gởi tiền vào ngân
hàng và sẽ tự động chuỷen ra đô la hoặc ra vàng gây nên bất động hoá về vốn.
Điều hoà khối tiền tệ ngày nay có nghĩa là điều chỉnh việc tạo tiền và sử
dụng tiền trong hệ thống ngân hàng hai cấp. Một khả năng kỳ bí của hệ thống
ngân hàng hai cấp là tạo tiền, điều chỉnh mức cung tiền để ổn định tiền tệ. Do
việc phân chia hệ thống ngân hàng thành hai cấp, nên có việc phân chia hai loại
tiền: tiền ngân hàng trung ương và tiền ngân hàng. Tiền trung ương là tiền cho
NHTƯ độc quyền phát hành. Tiền ngân hàng (tiền tín dụng) là tiền do các
NHTM tạo ra thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt là tiền các tài
khoản thanh toán séc. Nó được tạo ra như là sự mở rộng gấp nhiều lần quỹ
dự trữ ngân hàng (thông qua hệ số tạo tiền) .
Hệ thống NHTM không thể tạo tiền tín dụng từ hư không mà phải dựa
vào tiền trung ương. Mức tạo tiền tín dụng do hệ số tạo tiền hay tỉ lệ dự trữ bắt
buộc quyết định. Một đồng tiền ngân hàng trung ương mà NHTM huy động
được tạo khả năng cho NHTM cung ứng cho nền kinh tế số tiền tín dụng gấp
nhiều lần; ngược lại mức cung tiền tín dụng của NHTM cũng giảm gấp nhiều
lần khi tiền trung ương trong tay họ giảm đi một. Cơ chế tạo ra tiền của NHTM
xuất phát từ 2 nguồn: a) tiền gởi của công chúng; b) sự cho vay của ngân hàng.
Chính vì khả năng tạo ra bút tệ (tiền tín dụng) của các NHTM trong việc điều
hoà khối tiền tệ, ngân hàng trung ương thường kiểm soát khối dự trữ của NHTM
và theo dõi tỷ số giữa các dự trữ của ngân hàng này với tổng số tiền gởi.
Để điều hoà khối tiền tệ, NHTƯ sử dụng các phương tiện trực tiếp và gián
tiếp.
Những phương tiện trực tiếp có ảnh hưởng thẳng đối với khối tiền tệ lưu
hành, những phương tiện trực tiếp bao gồm: 1) kiểm soát các NGTM; 2) sự bất
động hoá vàng nhập khẩu; 3) hạn chế nhập nội các ngoại tệ...
Những phương tiện gián tiếp có ảnh hưởng không chắc chắn, ảnh hưởng

thanh toán của ngân hàng, trình độ kỹ thuật ngân hàng, mức độ tin tưởng của
dân chúng đối với ngân hàng.
Ở những nước công nghiệp phát triển, các tiện ích ngân hàng được sử
dụng rộng rãi, các chủ thể kinh tế quen dùng séc trong thanh toán. Tổng số thanh
toán các cuộc giao dịch bằng phương tiện này lên đến 70 - 80% trên tổng số
thanh toán của dân cư. Vì vậy, NHTƯ kiểm soát số chi trả của toàn xã hội qua
hệ thống ngân hàng bằng cách tính tổng giá trị séc đưa đi giao hoán tại NHTƯ
và theo dõi biến chuyển của nó.
Ở nước ta, việc dùng séc trong dân cư ít thông dụng, dùng tiền mặt để chi
trả là phổ biến, cho nên một khối tiền mặt rất lớn lưu thông bên ngoài hệ thống
ngân hàng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của NHTƯ. Đó là đầu mối gây bất ổn
cho nền kinh tế một cách đột biến. Đó cũng là lý do cần phải thu hút lượng tiền
trong tay dân cư vào hệ thống ngân hàng dưới hình thức tiền gởi không kỳ hạn
và dùng sẽ để thanh toán, một yếu tố cần thiết để cho việc thực thi chính sách
tiền tệ được hữu hiệu.
a.3. Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền bằng cách ổn định vật giá:
Giá trị quốc nội của đồng tiền là sức mua của nó đối với hàng hoá và dịch
vụ trong nước. Sức mua của đồng tiền biến đổi ngược chiều với vật giá. Khi
mức vật giá chung gia tăng, sức mua của đồng tiền giảm. Ngược lại, khi mức vật
giá chung giảm, sức mua của đồng tiền tăng. Tuy nhiên, nếu vế thứ nhất không
có điều gì phải tranh cãi, vế thứ hai cần xác định rõ hơn.
Sức mua đồng tiền tăng khi mức vật giá chung giảm chỉ là điều đáng
mừng khi nào do năng suất chung tăng lên. Thật vậy, trong trường hợp này, nhfa
sản xuất tuy bán lẻ với giá hạ hơn nhưng vẫn có lời vì nhờ năng suất tăng, giá
thành mỗi đơn vị sản phẩm vẫn thấp hơn giá bán. Nhà sản xuất có lời, họ vẫn
tiếp tục sản xuất, nhân công chẳng những duy trì được việc làm mà còn có thể
tăng thu nhập đó là do năng suất lao động tăng.
Trái lại, nếu vật giá chung giảm, không do năng suất mà do mức cầu trên
thị trường giảm, thì là một biểu hiện đáng lo. Vật giá giảm, sức mua đồng tiền
tuy có tăng, nhưng đó chỉ là tăng nhất thời, vì người sản xuất có thể rơi vào tình

thu, chi ngoại hối vì lý do gì. Điều đó có được khi Ngân hàng trung ương mua
bán ngoại hối. Ngân hàng trung ương mua ngoại hối, khối tiền tệ tăng thêm;
ngược lại khi ngân hàng trung ương bán ngoại hối, khối tiền tệ giảm, nếu những
yếu tố khác không thay đổi.
Khối dữ trữ ngoại hối nước ta hiện nay còn khiêm nhường, vì vậy tác
động của sự biến chuyển trong dự trữ ngoại hối không lớn lắm đối với khối tiền
tệ. Tuy nhiên, trong tương lai thì dự trữ ngoại hối trở nên quan trọng hơn, tác
động của nó trên khối tiền tệ cũng lớn hơn. Nói chung, một sự gia tăng dự trữ
ngoại hối kéo theo sự gia tăng trong khối tiền tệ. Ngược lại, một sự giảm thiểu
trong dự trữ đó đưa đến hậu quả tất yếu là giảm thiểu khối tiền tệ.
Sự biến chuyển trong dự trữ ngoại hối tuỳ thuộc vào thị trường và chính
sách hối đoái.
Thị trường hối đoái: là nơi mua, bán ngoại tệ. Trong một nước mà thị
trường hối đoái tổ chức quá đơn sơ, thị trường hối đoái không tổ chức sẽ bành
trướng mạnh mẽ, khiến cho NHTƯ chẳng những không thể tích luỹ được dự trữ
ngoại hối, mà cũng không chủ động được nguồn cung ứng tiền tệ cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh. Các đơn vị này khi có nhu cầu ngoại tệ lại đi mua
ngoại tệ trôi nổi trên thị trường không tổ chức bằng lượng tiền đồng Việt Nam
mà hậu quả cuối cùng là số lượng tiền đồng lớn luân lưu ngoài hệ thống ngân
hàng: một yếu tố làm tăng áp lực vay tiền ngân hàng để bổ sung nguồn vốn lưu
động mà ngân hàng thương mại lại thiếu tiền. Từ đó áp lực trên nhu cầu phát
hành tiền sẽ gia tăng.
Thị trường hối đoái ở nước ta còn đang ở dạng là những điểm mua, bán
ngoại tệ (mua nhiều hơn bán), thật ra thì là điểm mua ngoại tệ thì đúng hơn. Cần
phải tổ chức thị trường hối đoái với quy mô lớn hơn, hoàn chỉnh hơn. Ở đây mới
nêu lên với tính cách đặt vấn đề, chưa đề cập đến cách tổ chức một thị trường
hối đoái hoàn chỉnh.
Thị trường hối đoái có tổ chức hoàn hảo hay không còn phụ thuộc vào
chính sách hối đoái (đáp ứng chính sách kinh tế mở cửa đất nước tới mức độ
nào...)

xuất khẩu, nhập khẩu trong nước.
Một tỷ giá hối đoái quá thấp (tức là đồngbản tệ có giá trị tăng lên so với
ngoại tệ) có tác dụng khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng
xuất khẩu tương đối đắt, khó bán ra nước ngoài, tức là gây trở ngại cho ngành
sản xuất trong nước hướng về xuất khẩu, bất lợi cho cuộc chuyển dịch ngoại tệ
từ nước ngoài vào trong nước; khối lượng dự trữ ngoại hối dễ bị xói mòn.
Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao (nghĩa là đồng bản tệ có giá trị thấp so với
ngoại tệ), có tác động bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì làm cho
hàng xuất khẩu đắt hơn, hàng xuất khẩu rẻ hơn để cạnh tranh trên thị trường
quốc tế, dễ tìm được thị trường hơn. Do đó, những ngành sản xuất có nguyên
liệu nhập khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu gặp trở ngại, trong khi ngành sản
xuất hàng cho thị trường nước ngoài thuận lợi hơn, lượng ngoại tệ có khuynh
hướng chuyển vào trong nước khá hơn, khối dự trữ ngoại tệ có cơ hội gia tăng.
Mức tỷ giá quá cao hay thấp là so với tỷ giá thực tế được quyết định bởi
cung cầu ngoại tệ trên thị trường hối đoái hay thị trường đen (nơi nào không có
thị trường hối đoái tự do). Tỷ giá hối đoái cao hay thấp là tỷ giá do NHTƯ ấn
định, cố định (fixed exchange rates), còn tỷ giá hối đoái trên thị trường tự do
hoàn toàn không có sự can thiệp của NHTƯ là tỷ giá thả nổi do cung cầu ngoại
tệ trên thị trường quyết định (floating rates). Thế giới đã trải qua một thời kỳ khá
lâu áp dụng tỷ giá hối đoái ấn định, cố định từ thập niên 1930 đến giữa thập niên
1970. Từ năm 1973, nhiều nước công nghiệp hàng đầu đã thử nguyệm tỷ giá hối
đoái thả nổi và sau đó áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi có "quản lý". Đến năm
1976 các nước phương tây đã đạt được một thoả hiệp tạm thời gọi là Thoả hiệp
Jamaica, công khai chấp nhận hệ thốgn tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý
(system of managed floating rates), vì cả hai tỷ giá cố định cứng nhắc và tỷ giá
thả nổi hoàn toàn đều có điều bất tiện tác động trên nền kinh tế trong nước và
trên sự chuyển dịch tài nguyên ngoại tệ trên bình diện quốc tế.
Theo hệ thống NHTƯ can thiệp để giữ cho tỷ giá hối đoái không thăng
trầm quá đáng, làm dịu bớt tình trạng bất ổn định của nền kinh tế trong nước.
NHTƯ can thiệp trên thị trường hối đoái bằng cách tham gia mua hay bán ngoại

tăng. Nếu tỷ lệ gia tăng tổng sản phẩm xã hội lớn hơn nhịp gia tăng dân số sẽ có
tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, sự gia tăng khối tiền tệ đưa đến tác dụng làm tăng số cầu tổng
hợp: các thành phần dân cư có tiền nhiều hơn, sẽ tiêu thụ nhiều hơn và mãi lực
trên thị trường tăng giúp giải quyết hàng tồn đọng, làm cho các doanh nghiệp
tăng gia sản xuất, hàng hoá lưu thông, phân phối với nhịp điệu rộn rịp hơn. Đến
một lúc nào đó, doanh nghiệp cũng phải tăng thêm việc mua sắm máy móc,
trang thiết bị, nhà xưởng... Cả hai sức cầu về sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm
đầu tư đều tăng, từ đó tổng sản phẩm xã hội cũng tăng. Nếu mức gia tăng đó lớn
hơn nhịp gia tăng dân số, sẽ có tăng trưởng kinh tế.
Trong cả hai trường hợp, đều có sự gia tăng nhân dụng, vì nhân công, tư
bản (máy móc), kỹ thuật công nghệ (technology) là 3 yếu tố quan trọng quyết
định số lướng, trong đó yếu tố nhân công được tăng lên trước khi xí nghiệp gia
tăng sản xuất. Đối với xí nghiệp quản lý có hiệu quả, việc tuyển dụng thêm nhân
công chỉ xảy ra khi số nhân lực hiện hữu được tận dụng.
Như vậy, muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ngoài việc gia tăng
khối tiền tệ trong chính sách tiền tệ, cần có những biện pháp đẩy mạnh đầu tư
sản xuất để thâm dụng nhân công.
b.2. Giảm thiểu những thăng trầm chu chuyển kinh tế:
Sự tăng trưởng kinh tế bất cứ nước nào không thể kéo dài mãi với thời
gian. Lý do cơ bản là số cầu dù tiếp tục gia tăng nhưng số cung không thể đáp
ứng mãi mãi được. Nó bị hạn chế bởi nhiều yếu tố, đáng kể trước tiên là nhân
công. Khi nền kinh tế tăng trưởng liên tục, đến một lúc nào đó, nhân công khan
hiếm, hạn chế mức gia tăng sản xuất . Đó là chưa kể nguyên liệu có thể cũng
khan hiếm. Sự khan hiếm của yếu tố nhân công, nguyên liệu làm tăng phí tổn
sản xuất, nâng cao giá thành và giá bán trên thị trường.
Vào thời điểm này, nếu khối lượng tiền tệ tiếp tục gia tăng mà không kềm
chế, số cầu tăng mạnh, hậu quả tất yếu làm tăng vật giá, tình trạng lạm phát ngày
càng trầm trọng hơn. Tình hình đó buộc phải giảm bớt khối tiền tệ, từ đó làm
giảm số cầu, làm giảm khuynh hướng tiêu thụ của dân cư. Hoạt động kinh tế rơi

với lạm phát ở tỷ lệ chấp nhận được, có thể là tỷ lệ lạm phát một con số, hay
tổng quát hơn, một tỷ lệ lạm phát thấp với tỷ lệ thất nghiệp thấp.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ đã từng thay đổi, kế tiếp nhau trong thời
gian, phù hợp với trình độ hiểu biết ngày càng cao hơn về mối tương quan giữa
tiền tệ và nền kinh tế. Trước đây, người ta áp dụng luận điểm của kinh tế học cổ
điển cho rằng những thay đổi về tiền tệ chỉ tác động đến giá cả và tiền công,
chứkhông ảnh hưởng đến công ăn việc làm và chu kỳ phát triển kinh tế vào việc
hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ. Loại chính sách tiền tệ này chưa được
coi là công cụ quan trọng để ổn định kinh tế và không có tác động đến quá trình
tăng trưởng, có cơ chế vận hành bao gồm các yếu tố chủ yếu: mức lãi suất thực
âm cao triền miên và có độ bất định lớn. Nó có khuynh hướng làm xói mòn
nguồn vốn, trong thực tế, kết quả thu được đi ngược lại ý đồ ban đầu được dành
cho nó: thay vì mức tiết kiệm và năng lực đầu tư nội địa được nâng lên là tình
trạng thâm hụt ngân sách, khối lượng nợ nước ngoài và phần của cải đất nước
sản xuất ra nhưng phải dành cho trả nợ và lãi nợ ngày càng lớn; hậu quả không
tránh khỏi sau đó là lạm phát cao, bất ổn định và trì trệ, suy thoái.
Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933, chính sách tiền tệ mới trở
thành khái niệm trung tâm trong hoạt động quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô,
được coi là công cụ quan trọng để ổn định kinh tế và tác động đến quá trình tăng
trưởng, hướng tới mục tiêu phát triển môi trường tài chính, kích thích tối đa sự
vận động của các nguồn lực khác của đất nước. Chính sách tiền tệ kiểu này được
gọi là chính sách tiền tệ mở rộng nguồn vốn, có cơ chế vận hành bao gồm các
yếu tố chính: duy trì mức lãi suất thực dương, quy định dự trữ bắt buộc thấp đối
với các ngân hàng thương mại.
Ngày nay do những đối nghịch của các mục tiêu, các NHTƯ khó có thể
thực hiện được ngay mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Thông thường,
trong một thời kỳ xác định, việc thực hiện mục tiêu này sẽ cản trở việc đạt thành
tích cao ở mục tiêu khác trong hệ mục tiêu đã nêu. Muốn có lạm phát thấp thì
khó lòng tăng trưởng cao. Duy trì tỷ giá hối đoái cố định thfi dễ rơi vào tình
trạng "nhập khẩu lạm phát". Do đó, NHTƯ phải xác định những mục tiêu đặc

càng nhiều hơn những bài học kinh nghiệm từ thực tế cho việc nghiên cứu, học
hỏi và lựa chọn để xây dựng chính sách tiền tệ phù hợp với những điều kiện cụ
thể của mỗi quốc gia.
Từ nhiều thập kỷ nay và nhất là từ cuộc thế chiến lần thứ hai, chính sách
tiền tệ của nhiều nước có nền kinh tế phát triển luôn luôn nhằm mục tiêu chủ
yếu là đấu tranh chống lạm phát, nhưng đồng thời không được làm ảnh hưởng
đến sản xuất quốc dân và việc tạo đầy đủ côgn ăn việc làm. Căn cứ vào những
mục tiêu cơ bản này, các nước đó lựa chọn các công cụ can thiệp cần thiết, các
công cụ này chủ yếu tác động vào nguồn đối ứng của khối lượng tiền tệ, vì đó là
nguồn tạo ra tiền, nhưng chúng còn có thể có tác dụng phụ là nhằm định hướng
việc sử dụng đồng tiền đã được tạo ra cho các chủ thể kinh tế.
II. PHƯƠNG THỨC VẬN HÀNH CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ:
Ngân hàng trung ương nói chung không giao dịch trực tiếp với công
chúng, mà chỉ quan hệ với bốn đầu mối chính sau đây:
- Giao dịch với chính phủ (Bộ Tài chính, kho bạc...)
- Giao dịch với ngân hàng trung gian.
- Giao dịch với các thị trường tiền tệ.
- Giao dụch với các khu vực tài chính, tiền tệ đối ngoại.
Bốn đầu mối quan hệ của NHTƯ là bốn con kênh qua đó NHTƯ thực thi
chính sách tiền tệ; bằng cách xử lý tổng hợp bốn đầu mối quan hệ đó, NHTƯ
tăng hay giảm khối tiền tệ tuỳ theo tình hình nhằm đạt tới những mục tiêu nhất
định.
Dưới đây sẽ tập trung trình bày phương thức vận hành những công cụ tác
động đến hai đầu mối là ngân hàng trung gian và thị trường tiền tệ. Hai đầu mối
quan hệ còn lại không phải là đối tượng chính và sẽ được đề cập ở một chừng
mực cần thiết. Điều này cho thấy tính giới hạn của chính sách tiền tệ và sự cần
thiết phải tiến hành song song những chính sách khác nhằm xử lý hai đầu mối
quan hệ còn lại: quan hệ với chính phủ và quan hệ với khu vực tài chính tiền tệ
đối ngoại.

người cho vay sau cùng của mọi ngân hàng và là cứu tinh của họ trong những
trường hợp khẩn cấp như trường hợp xảy ra tình trạng đồng loạt rút tiền gởi của
công chúng.
Số nhân mức cung tiền n =
r
1
DTBBlã ût è
1
M
S
==

NHTM sử dụng công cụ này với nội dung mức cung tiền tệ để tăng V,
giảm lượng tiền cơ sở ngoài lưu thông.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ khối lượng quan trọng nhất của NHTƯ.
Việc quy định dự trữ bắt buộc này làm tăng khả năng điều tiết của NHTƯ đối
với các NHTM.
Các công cụ lãi suất của NHTƯ càng phát triển bao nhiêu thì công cụ dự
trữ bắt buộc càng ít quan trọng bấy nhiêu. Ngược lại, chừng nào trong nền kinh
tế chưa có thị trường chứng khoán, nghiệp vụ hối phiếu cũng như các công cụ
kỹ thuật tài chính, tức là những công cụ có thể phản ứng nhanh trước sự biến
động của lãi suất, thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc vẫn còn là công cụ quan trọng của
NHTƯ.
Đối với NHTM hiện đại, tức là tạo ra những công cụ thanh toán qua ngân
hàng thay tiền trung ương hoặc cơ số tiền tệ mà NHTƯ không sử dụng công cụ
dự trữ bắt buộc thì không thể khống chế được khối tín dụng bằng biện pháp kinh
tế.
Về nguyên tắc, khi ấn định một mức dự trữ bất buộc ở mức thấp NHTƯ
muốn khuyến khích các ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của họ, tức
là muốn bành trướng khối tiền tệ. Ngược lại, khi nâng cao mức dự trữ bắt buộc,

thì không sinh lợi.
Khi quyết định gia tăng tỷ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc, NHNN sẽ cho các
tổ chức tín dụng một thời gian đủ để tăng khoảng dự trữ lên ngạch số bắt buộc.
Có một vấn đề rất nhạy cảm và được thường xuyên chú ý là mối liên hệ
giữa dự trữ bắt buộc và vấn đề lời lỗ của các tổ chức tín dụng. Như đã trình bày,
một trong những công dụng của dự trữ bắt buộc là để thực thi chính sách tiền tệ,
mà cụ thể là vận dụng khối tiền tệ theo ý muốn của NHNN. Ở nước ta hiện nay,
đại bộ phận của khối tiền tệ là tiền phát hành, trong khi ở các nước có hệ thống
ngân hàng theo nền kinh tế thị trường, tỷ lệ tiền phát hành chỉ chiếm một phần
nhỏ trong khối tiền tệ, còn phần lớn là tiền gởi không kỳ hạn ở ngân hàng trung
gian (nước ta gọi là cơ quan tín dụng). Với một quá trình tiền tệ hoá cao hơn,
một phương tiện ngân hàng khác ra đời và ngày càng trở nên quan trọng: đó là
tiền gởi có kỳ hạn. Về mặt pháp lý, tiền gởi có kỳ hạn tại ngân hàng không thể
chuyển nhượng bất cứ lúc nào như tiền gởi không kỳ hạn, nó chỉ được chuyển
nhượng sau một thời hạn nhất định. Nhờ tính cách này, ngân hàng yên tâm hơn
trong việc sử dụng số tiền gởi đó để cho vay và vì vậy ngân hàng trả lãi cho
người gởi theo lối này. Đối với tiền gởi không kỳ hạn tại ngân hàng, hầu hết các
nước cấm trả lãi cho loại tiền gởi này. Cả hai loại tiền gởi (không kỳ hạn và có
kỳ hạn) được gọi chung là động sản tài chính. Khác với các loại tài sản "phi tài
chính" như đất đai, nhà cửa, máy móc... động sản tài chính có thể nhanh chóng
chuyển sang dạng tiền. Và tiền là dạng động nhất trong tất cả các dạng tài sản.
tiền gởi không kỳ hạn cũng có tính cách động không kém, vì vậy nó được xếp
vào thành phần khối tiền tệ. Còn tiền gởi có kỳ hạn cũng có tính cách động
nhưng kém hơn, cho nên các nhà kinh tế nước ta trước kia đã không xếp nó vào
thành phần khối tiền tệ, mà xem nó là "chuẩn tiền". Tuy nhiên, từ đầu thập niên
80 trở đi nhiều nhà kinh tế bắt đầu coi những "chuẩn tiền" là một thành phần của
khối tiền tệ, mặc dầu không phải tất cả các nhà kinh tế đều đồng ý với quan
điểm này. Để dung hoà các quan điểm và với sự thận trọng cần thiết, người ta
phân biệt nhiều dạng thành phần khối tiền tệ dưới những ký hiệu khác nhau.
Trước hết, gọi khối tiền tệ gồm tiền phát hành và ký thác không kỳ hạn là M

Cả hai biện pháp tránh cho NHTM không bị lỗ và tự giác cộng tác với
NHNN.
Một vấn đề đáng quan tâm nữa là tác dụng bội số của sự vận dụng tỷ lệ dự
trữ bắt buộc đối với mức tăng, giảm của khối tiền tệ. NHNN nước ta thường
xuyên gặp phải tình trạng thiếu tiền mặt là vì dân cư chưa được phép sử dụng
rộng rãi tài khoản tiền gởi không kỳ hạn dùng séc. Về phương tiện kỹ thuật ngân
hàng, nếu tiền gởi không kỳ hạn tại một ngân hàng thương mại gia tăng thêm là
1.000 đồng, tổng số tiền gởi không kỳ hạn trong toàn bộ hệ thống ngân hàng
tăng lên gấp bội, có thể từ bốn năm lần đến mười lần số tiền gởi tăng thêm ban
đầu, tuỳ theo tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHNN ấn định. Chính vì lẽ đó, khi NHNN
bơm một lượng tiền là 1.000 đồng vào hệ thống ngân hàng thì khối tiền tệ có thể
tăng thêm một số tiền bằng gấp bội số tiền đó. Ngược lại, nếu NHNN rút bớt
một số tiền 1.000 đồng ra khỏi hệ thống ngân hàng, khối tiền tệ có thể giảm bớt
một số tiền cũng gấp bội. Như vậy, hệ thống NHTM không thể tạo lập tiền từ hư
không, nếu không có tiền trung ương (tiền do NHNN phát hành). Mức tạo tiền
do tỷ lệ dự trữ bắt buộc quyết định. Từ đó, có thể thấy rằng, thông qua việc cung
ứng tiền trung ương và tỷ lệ dự trữ bắt buộc NHTƯ có thể tăng hay giảm khối
tiền tệ, hay nói cách khác, NHTƯ hoàn toàn làm chủ khả năng kiểm soát lượng
tiền cung ứng cho nền kinh tế.
Muốn tạo ra tiền, phải sử dụng cả hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng
đơn độc không có khả năng tạo ra tiền. Để minh hoạ, có thể xem thí dụ sau đây:
giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, nghĩa là ngân hàng kinh doanh cứ 100 đồng
thì phải có 10 đồng ở trạng thái dự trữ. Giả sử NH A có 1.000 đồng do ai đó gởi,
nó có thể cho vay 900 đồng, còn 100 đồng để dự trữ . Giả sử ai đó vay được 900
đồng của Ngân hàng A và sau đó nộp vào ngân hàng B. Lúc này, NH B lại có
thể cho vay 810 đồng và để dự trữ 90 đồng. Bằng cách nào đó NH C lại có được
khoản 810 đồng mà NHB đã cho vay và đến lượt mình, NH C lại có thể vay
729 đồng và bắt buộc phải để 81 đồng dự trữ theo quy định.... Như vậy, số tiền
được cho vay có thể lớn hơn số tiền 1.000 đồng ban đầu rất nhiều. Theo thí dụ
vừa nêu, số gia tăng tiền gởi ban đầu là 1.000 dồng và qua cơ chế cho vay và ký

mức tối đa.
Thứ tư, trong rất nhiều trường hợp, hoạt động kinh tế phát triển, nhu cầu
tiền mặt trong lưu thông phải nhiều hơn, do đó có khả năng những cuộc chi trả
do khách hàng vay ở ngân hàng thực hiện sẽ không trở lại ngân hàng ngay, tức
là giảm bớt khả năng cho vay và sáng tạo ký thác ở những ngân hàng kế tiếp
(khách hàng rút tiền mặt, còn gọi là "tiêu huỷ bút tệ")
Dẫu sao tác dụng bội số vẫn có, mặc dù tác dụng đó ở mức thấp hơn mức
độ đã chứng minh qua công thức nói trên. Tác dụng bội số vẫn có, dù ngân hàng
sử dụng tiền gởi không kỳ hạn hay tiền gởi tiết kiệm hoặc tiền gởi định kỳ, cũng
theo một diễn trình như trên, nhưng ở mức độ thấp hơn một chút.
Ngoài tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHNN còn buộc các tổ chức tín dụng dự trữ
các nguồn tiền khác sẵn sàng thanh toán các khoản tiền gởi và Nợ (tỷ lệ thanh
khoản tối thiểu). NHTM phải dự trữ tại chỗ một số thanh khoản tối thiểu do
NHNN quy định tuỳ thời kỳ. Thông thường nguồn tiền sẵn sàng thanh toán gồm
có tiền mặt, các trái phiếu kho bạc.
Mục đích của việc duy trì tỷ lệ thanh khoản này là bảo vệ quyền lợi của
người gởi tiền, kiểm soát khối lượng tiền tệ và tín dụng và tiến hành chính sách
tiền tệ. NHNN có thể ấn định cho NHTM một phần suất tối thiểu trái phiếu kho
bạc so với tổng số tiền gởi nhận được.
Các ngân hàng được dự tính trái phiếu kho bạc dưới hình thức tài khoản
vãng lai (giao dịch) mở tại NHNN và do NHNN quản lý. Số dư tài khoản "Trái
phiếu kho bạc" này được tính vào tỷ lệ thanh khoản tối thiểu NHTM phải duy
trì. Các trái phiếu kho bạc có lãi do NHNN quy định.
Nhìn chung, dự trữ bắt buộc là công cụ mang tính chất hành chính của
NHTƯ nhằm điều tiết mức cung tiền tệ của NHTM cho nền kinh tế, thông qua
hệ số tạo tiền (hệ số nhân tiền tín dụng) đối với lượng tín dụng của các NHTM
cung ứng cho nền kinh tế. Mức dự trữ bắt buộc do luật pháp quy định. Đó là một
tỷ lệ nhất định tiền gởi của khách hàng mà NHTM thu hút được (ở một số ít
nước, là tỷ lệ nhất định các khoản tín dụng đã cấp) phải gởi vào một tài khoản
không lãi ở NHTƯ. Dự trữ bắt buộc là biện pháp kiểm soát cung ứng tiền tệ, chớ

thức thông dụng và cổ điển là chiết khấu các thương phiếu của ngân hàng trung
gian (hoặc tái chiết khấu nếu ngân hàng trung gian đã chiết khấu thương phiếu
trước đó). Hình thức thứ hai là thế chấp hay ứng trước. Khi nhận chiết khấu (hay
tái chiết khấu), NHTƯ làm tăng khối tiền tệ. Đó là hình thức phát hành tiền
được các nhà kinh tế xem là lành mạnh, vì nó có khả năng tự thanh toán do chỗ
thương phiếu tượng trưng cho một món nợ về thương mại xuất phát từ việc lưu
thông phân phối và nhờ lưu thông phân phối, công cuộc sản xuất trở nên thuận
lợi.
Với việc nâng cao hoặc giảm mức lãi suất tái chiết khấu, NHTƯ có thể
khuyến khích giảm hoặc tăng mức cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền
kinh tế, đồng thời thông qua đó cũng giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền tệ.
Chúng ta hãy xem xét vấn đề này chi tiết hơn. Bằng nghiệp vụ chiết khấu,
NHTƯ muốn bành trướng hay bó hẹp khối tiền tệ qua việc vận dụng lãi suất
chiết khấu, để khuyến khích hay làm nản lòng ngân hàng trung gian trong việc
đi vay ở NHTƯ. Nếu chính sách là khuyến khích, NHTƯ hạ thấp lãi suất chiết
khấu. Ngân hàng trung gian trong trường hợp này đi vay rẻ, nên có khuynh
hướng cũng giảm bớt lãi suất cho vay, miễn là còn hưởng được lãi suất sai biệt
giữa hai lãi suất đó. Ngược lại, khi muốn giảm bớt cơ hội làm tăng khối lượng
tiền tệ, NHTƯ nâng lãi suất chiết khấu áp dụng cho những cuộc vay mượn của
ngân hàng trung gian, gián tiếp áp lực ngân hàng này nâng lãi suất cho vay hoặc
hạn chế bớt những cơ hội cho vay.
Chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là công cụ định hướng tín dụng.
Nếu NHTƯ muốn kích thích xuất khẩu, sẽ cho tái chiết khấu trước hết các
thương phiếu đó. Trong nhiều trường hợp, NHTƯ có thể đặt ra những điều kiện
thuận lợi hay chặt chẽ cho từng loại tín dụng của ngân hàng trung gian để được
chiết khấu hay tái chiết khấu ở NHTƯ như: chiết khấu để giúp ngân hàng trung
gian điều chỉnh dự trữ bắt buộc bị thiếu hụt vì có sự rút tiền gởi đột ngột và quá
lớn; chiết khấu đề giúp ngân hàng trung gian thực hiện tín dụng từng mùa, nhất
là những ngân hàng ở vùng trọng điểm nông nghiệp; chiết khấu nhằm giúp ngân
hàng nào thiếu hụt thanh khoản vì những nghiệp vụ cho vay tương đối dài hạn

mua cho được trái phiếu thì mua với giá cao hơn nên lãi suất trái phiếu trở nên
thấp hơn). Khi dự trữ của ngân hàng thặng dư, thí dụ tăng thêm một, ngân hàng
trung gian có thể mở rộng khả năng cho vay gấp 4 hoặc 5 lần, tuỳ theo mức dự
trữ bắt buộc (xem chi tiết ở mục 1 "thay đổi mức dự trữ bắt buộc đối với ngân
hàng trung gian"), vì phần dự trữ tăng lên có tác dụng như phần tiền gởi ở ngân
hàng này.
Thêm vào đó, còn có tác dụng của việc NHTƯ mua trái phiếu của chính
phủ với giá cao hơn và lãi suất hạ xuống kích thích giới doanh nghiệp đi vay,
tức là một cách tăng thêm khối tiền tệ.
Ngược lại, khi muốn giảm bớt khối tiền tệ, NHTƯ bán trái phiếu chính
phủ trên thị trường mở cho bất cứ ai muốn mua: người, doanh nghiệp hay cá
nhân (doanh nghiệp hay cá nhân mua hay bán đều thông qua tài khoản của ngân
hàng). Hậu quả là dự trữ của ngân hàng trung gian tại NHTƯ giảm xuống, khả
năng cho vay của ngân hàng trung gian bị thu hẹp, nhất là khi tiền mua trái
phiếu chính phủ do cá nhân hay doanh nghiệp mua và trả bằng chi phiếu: tiền
gởi không kỳ hạn giảm, làm giảm thiểu khối tiền tệ.
Nếu không có sự tham gia mua, bán của NHTƯ trên thị trường này, mà
chỉ có việc mua, bán trái phiếu giữa các ngân hàng trung gian với nhau, thì khối
tiền tệ nói chung không thay đổi. Đó là vì một ngân hàng thương mại khác bán
và một ngân hàng thương mại khác mua, thì đối với toàn cục, chỉ có sự di
chuyển trái phiếu từ ngân hàng thương mại này sang ngân hàng thương mại
khác và một sự di chuyển ngược lại từ một phần dự trữ thặng dư của ngân hàng
thừa vào dự trữ của ngân hàng đang thiếu.
Chính sách thị trường mở là việc NHTƯ mua bán giấy tờ có giá với mục
đích tác động tới thị trường tiền tệ, điều hoà cung và cầu về giấy tờ có giá, gây
ảnh hưởng đến khối dự trữ của các NHTM tại NHTƯ, từ đó tác động đến khả
năng cung cấp tín dụng của các ngân hàng này.
Thuật ngữ "chính sách thị trường mở" lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ vào
những năm 20 khi chính sách này bắt đầu được thi hành. Các nghiệp vụ của
NHTƯ Mỹ về thị trường mở so với các nước khác có phạm vi rộng nhất, bởi vì

tháng, một tuần, thậm chí một vài ngày.
Thị trường tiền tệ ở Việt Nam chưa hoàn chỉnh, đang trong quá trình đi
dần vào quỹ đạo. Một khi thị trường tiền tệ lớn mạnh, nó sẽ góp phần quan trọng
vào sự hữu hiệu của chính sách tiền tệ.
d. Kiểm soát tín dụng chọn lọc:
Ba công cụ vận dụng để thực thi chính sách tiền tệ kể trên có tác dụng
tổng quát là kiểm soát khối lượng cho vay của ngân hàng, mức lãi suất và khối
tiền tệ nói chung. Nhưng ngân hàng trung gian còn thoải mái ở chỗ là muốn cho
ai vay tùy sự xét đoán của mình, điều đó có nghĩa là ba công cụ nêu trên chưa
ảnh hưởng đến cơ cấu tín dụng mà ngân hàng trung gian cấp cho khách hàng.
Nếu không áp dụng chính sách kiểm soát tín dụng "chọn lọc", ngân hàng trung
gian sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh doanh lớn, cho xí nghiệp nước
ngoài vay hoặc cho vay để mua bán chứng khoáng, ít chú trọng tới những ngành
hoạt động có lợi ích xã hội nhiều hơn như xây dựng nhà cửam doanh nghiệp
nhỏ...
Một chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc sẽ giới hạn mức tín dụng tối
đa cấp cho những ngành mà Nhà nước không muốn phát triển nữa, ngược lại ưu
đãi những ngành hoạt động nào được xem như ưu tiên, cần yểm trợ tín dụng
mạnh hơn, thí dụ như xây cất nhà, doanh nghiệp nhỏ hay có sự phân biệt để ưu
tiên phát triển những vùng lãnh thổ đặc biệt so với các vùng khác. Việc yểm trợ
tín dụng ưu đãi với một lãi suất ưu đãi là một đòn bẩy giúp thực hiện chính sách
kinh tế của Nhà nước.
Chính sách này muốn đạt mục tiêu của nó, cần nâng cao chất lượng kiểm
soát và thanh tra ngân hàng trung gian, chất lượng đó tuỳ thuộc trình độ nghiệp
vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ và đạo đức liêm khiết của họ.
e. Chính sách lãi suất tiền vay và tiền gởi ngân hàng:
Thông thường chính sách lãi suất tiền gởi và tiền vay biến đổi cùng chiều,
nghĩa là cả hai mức lãi suất đó đều tăng lên hay giảm xuống: khi lãi suất tiền gởi
được nâng lên, lãi suất cho vay cũng được nâng lên và ngược lại, tuỳ theo chính
sách của NHTƯ.

ảnh hưởng của mình thông qua một vài lãi suất cơ bản. Tuy nhiên, ở Việt Nam
hiện nay, khi tình hình kinh tế vĩ mô chưa được ổn định và các ngân hàng
thương mại quốc doanh làm chủ thị trường, thì chính phủ không tránh khỏi việc
phải áp dụng chính sách lãi suất tích cực.
Các mức và cơ cấu lãi suất cần hướng dẫn các mục tiêu sau:
- Khuyến khích tích luỹ và sự trung gian tài chính.
- Hướng các nguồn tài chính vào các hoạt động có tỷ suất lợi nhuận cao
nhất.
Một sự thay đổi về mức lãi suất chung sẽ có tác động lớn đến nền kinh tế
của một đất nước trên phạm vi tổng thể. Tuy nhiên, rõ ràng không chỉ lãi suất có
ảnh hưởng đến nền kinh tế của một nước mà còn nhiều nhân tố khác phải được
xét đến, ví dụ: tỷ giá hối đoái với đồng tiền khác, giá dầu lửa, giá các loại
nguyên liệu và mức sống.
f. Ấn định một biên vực bắt buộc trong việc cho vay hay kiểm soát tín dụng
Ở những nước công nghiệp phát triển, thị trường chứng khoáng hoạt động
rất nhộn nhịp, các Ngân hành Thương mại thường tài trợ các nghiệp vụ mua cổ
phiểu và trái phiếu theo thể thức thiếu chịu: trong đó người mua chỉ trả tiền ngay
một phần trị giá mua (down payment), số còn lại thì nợ người trung gian khá
khoán. Người này giữ chứng khoán làm vật thế chấp và dùng nó vay lại ở Ngân
hàng Thương mại. Số tiền trả ngay gọi là “biên vực” (margin) lớn thì số tiền vay
nhỏ, ngược lại biên vực nhỏ, tiền vay lớn. NHTƯ, nếu muốn bành trướng khối
tiền tệ, ấn định một biên vực thấp. Trong trường hợp hạn chế khối tiền tệ, Ngân
hàng trung ương nâng biên vực đó, có thể lên tới 100% trị giá chứng khoán mua.
Biên vực áp dụng trong thập niên 1920 có lúc chỉ còn 10% hoặc ít hơn. Ngày
nay nó thường ở mức từ 50 đến 100%.
Ở nhiều nước đang phát triển, chưa có thị trường chứng khoán, người ta chỉ
có thể áp dụng thể thức này hơi khác hơn một chút, bằng cách ấn định tỷ lệ cho
vay áp dụng cho sản xuất, kinh doanh cao hay thấp tuỳ theo tình hình; nếu muốn
bành trướng khối tiền tệ, tỷ lệ cho vay trên vốn lưu động hay trên trị giá lô hàng
thế chấp cao. Ngược lại, khi muốn hạn chế tín dụng Ngân hàng Thương mại,

nhau để bảo đảm mức độ phù hợp cao nhất giữa chúng với điều kiện và mục tiêu
phát triển. Chính vì thế, sự khác biệt sẽ thể hiện tập trung nhất ở kết quả cuối
cùng của quá trình thực hiện chính sách tiền tệ.
Trên thực tế, không phải mọi chính phủ, mọi Ngân hàng Trung ương đều
lường trước được kết cục của tình huống, trong đó khi một công cụ được sử
dụng nhằm vào một mục tiêu xác định, thì nó cũng tác động đến tất cả các mục
tiêu khác theo cách riêng của nó, ngoài mong muốn ban đầu. Hoặc việc đạt tới
một mục tiêu định trước chịu sự tác động đồng thời của nhiều công cụ, gồm cả
công cụ của chính sách tiền tệ lẫn của ácc chính sách khác.
Mỗi công cụ đều có tính hai mặt, vì vậy tuỳ theo mức độ cấp thiết của
những nhiệm vụ trong các giai đoạn khác nhau mà lựa chọn mặt nào có lợi nhiều
hơn. Mặt khác, nền kinh tế luôn vận động, biến đổi, do vậy mỗi công cụ chính
sách sẽ có thời điểm “bảo hoà”. Vì thế, cần phải kiểm tra, luận giải thường
xuyên để biết thời điểm “bảo hoà” của mỗi công cụ chính sách.
Thông thường, trong một thời kỳ cùng một lúc khó mà hướng tất cả các
công cụ vào thực hiện hoàn hảo các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Vì thê, nghệ thuật
điều hành sử dụng các công cụ là ở khả năng biết phối hợp các mục tiêu và công
cụ để đạt hiệu quả tổng thể cao của nền kinh tế.
Có thể nói rằng không có một hoạt động nào của nền kinh tế xã hội mà
công cụ chính sách tiền tệ không tác động đến. Song để tạo ra một tổng lực giải
quyết các mục tiêu kinh tế vĩ mô, thì các công cụ chính sách tiền tệ phải kết hợp
chặt chẽ với các công cụ tài chánh.
Nhìn chung, các công cụ tài chính (Ngân sách nhà nước và công cụ bộ
phận của nó) là phương tiên cơ bản nằm trong tay nhà nước, nó không hoàn toàn
chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường mà còn tác động trở lại thị trường để ổn
định kinh tế vĩ mô, đặc biệt nhà nước còn sử dụng nó để điều tiết phân phối thu
nhập của xã hội
Các nhà kinh tế cho rằng các công cụ tiền tệ - tín dụng thường tỏ ra linh
hoạt hơn so với các công cụ tài chính. Bởi vì, qua NHTƯ, có thể nhanh chóng
đưa ra những quyết định kịp thời để sửa chữa chính sách tài chánh, tiền tệ;

nợ thay vì con nợ.
Thông thường các nguồn ngoại tệ này giao lưu với nước ta không bằng tiền
mặt (in cash). Tất cả mọi thanh toán sẽ được thực hiện bằng chứng từ và bù trừ
qua tài khoản ở nước ngoài, dù là cho vay hay viện trợ trọn gói hay theo từng dự
án. Trogn trường hợp như vậy, sẽ phải lập một quỹ tương đương bằng tiền mặt
đồng, gọi là Quỹ Đối giá (Counterpart fund). Thí dụ, một nước viện trợ không

Trích đoạn Phương thức vận hành các cơng cụ của chính sách tiền tệ của NHTƯ nhằm Giai đoạn 1986 1988
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status