Tìm hiểu về Các công cụ chính sách tiền tệ của - Pdf 11

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
1. Những vấn đề cơ bản về các công cụ của chính sách tiền tệ. .............. 2
1.1. Tổng quan về Ngân Hàng trung ương. ................................................ 2
1.1.1. Quá trình hình thành và đặc thù của Ngân Hàng trung ương. ... 2
1.1.2. Chức năng của Ngân Hàng trung ương. .................................... 4
1.1.3. Là Ngân hàng của nhà nước. ..................................................... 6
1.2. Các công cụ của chính sách tiền tệ. ..................................................... 7
1.2.1. Tổng quan về chính sách tiền tệ. ................................................ 7
1.2.2. Các công cụ của chính sách tiền tệ. ........................................ 15
1.2.2.1. Công cụ tái cấp vốn. ............................................................... 15
1.2.2.2. Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc. .................................................. 16
1.2.2.3. Công cụ nghiệp vụ thụ trường mở. .......................................... 18
1.2.2.4. Công cụ lãi suất. ..................................................................... 19
1.2.2.5. Công cụ hạn mức tín dụng ....................................................... 21
2. Thực trạng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước
Việt Nam . ................................................................................................... 23
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng nhà nước Việt Nam. .................................. 23
2.2. Phân tích thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ ở Việt
Nam thời gian qua. .................................................................................... 28
2.2.1. Công cụ lãi suất. ...................................................................... 28
2.2.2. Nghiệp vụ thị trường mở. ......................................................... 30
2.2.3. Về dự trữ bắt buộc. .................................................................. 32
2.2.4. Công cụ hạn mức tín dụng. ...................................................... 33
2.2.5. Công cụ tái cấp vốn. ................................................................ 33
3. Đánh giá chung về việc sử dụng các công cụ CSTT. .......................... 34
3.1. Kết quả đạt được. ................................................................................ 34
3.2. Hạn chế và nguyên nhân. ................................................................... 35
3.2.1. Công cụ tái cấp vốn: ................................................................ 35
3.2.2. Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: ................................................ 35
3.2.3. công cụ lãi suất. ....................................................................... 36

1.1. Tổng quan về Ngân Hàng trung ương.
1.1.1. Quá trình hình thành và đặc thù của Ngân Hàng trung ương.
a/ Quá trình hình thành Ngân Hàng trung ương.
Trong thời kì đầu hoạt động, các ngân hàng thực hiện đồng thời các
nghiệp vụ:nhận tiền gửi và cho vay với khách hàng,phát hành các kì phiếu của
mình vào lưu thông,thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanh toán,chuyển
tiền...
Từ thế kỉ XVIII,nhà nước của các quốc gia bắt đầu can thiệp vào hoạt
động của hệ thống ngân hàng bằng cách hạn chế số lượng ngân hàng được
phát hành kì phiếu ngân hàng.Đến thế kỉ XIX,ở các nước phát triển đã ra đời
các đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng duy nhất phát hành tiền,còn các
ngân hàng đơn thuần chỉ kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng.Điển
hình là tại Anh vào năm 1844,nhà nước cấm các ngân hàng tư nhân phát hành
tiền và toàn bộ nghiệp vụ phát hành tiền tệ được tập trung vào ngân hàng Anh
Quốc.Tại Pháp vào năm 1800 ngân hàng cổ phần tư nhân Pháp được thành
lập,đến năm 1803 được độc quyền phát hành giấy bạc tại Paris,đến năm 1848
độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng trên toàn nước Pháp.
Đầu thế kỉ XX, ở các nước ngân hàng phát hành tiền đều thuộc sở hữu tư
nhân, nhà nước không có điều kiện can thiệp các hoạt động kinh tế thông qua
tác động của tiền tệ.Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1933 đã buộc
chính phủ các nước tăng cương hơn nữa can thiệp của mình vào lĩnh vực kinh
tế.Ngoài việc điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống luật pháp,chính sách
thuế...nhà nước cần nắm lấy phương tiện cơ bản của kinh tế thị trường-tiền tệ
để góp phần giải quyết tình trạng bất ổn trong nền kinh tế.Chính vì vầy,sau
khủng hoảng 1929-1933, hầu hết các nước đã tiến hành quốc hữu hóa hoặc
thành lập mới ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước,nhằm nắm trọn
quyền phát hành tiền tệ, qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô.Các
nước lần lượt tiến hành quốc hữu.
Ngân hàng trung ương không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệ
vào lưu thông, mà còn thực hiện chức năng quản lí nhà nước về mặt tiền tệ,

thông qua Ngân Hàng Trung Ương để tác động lên chính sách tiền tệ.Theo
mô hình này có ngân hàng Anh Quốc, Ngân hàng nhà nước Việt Nam...
Như vậy,mỗi nước đều có ngân hàng trung ương thuộc sở hữu nhà
nước,hoặc một hệ thống các ngân hàng làm nhiệm vụ của ngân hàng trung
ương,nhưng đặt dưới sự điều hành của một hội đồng duy nhất do nhà nước bổ
nhiệm.Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lí nhà nước về tiền
tệ,tín dụng,ngân hàng. Nhưng nó khác với tính chất quản lí của các cơ quan
khác trong bộ máy nhà nước. Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng
quản lí không chỉ đơn thuần bằng các luật lệ, các biện pháp hành chính,mà
còn thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh sinh lời. Ngân hàng trung
ương có các khoản thu nhập từ tài sản của mình như: chứng khoán chính
phủ,cho vay chiết khấu, kinh doanh trên thị trường ngoại hối... Hai mặt quản
lí và kinh doanh gắn chặt với nhau trong tất cả các hoạt động của ngân hàng
trung ương.Tuy nhiên,hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để quản lí,tự
nó không phải là mục đích của Ngân Hàng Trung Ương. Hầu hết các khoản
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ 3
thu nhập của ngân hàng trung ương,sau khi trừ các chi phí hoạt động,đều phải
nộp vào ngân sách nhà nước.
1.1.2. Chức năng của Ngân Hàng trung ương.
a/ Phát hành giấy bạc và điều tiết lượng cung ứng tiền.
Đi liền với sự ra đời của NHTW thì toàn bộ việc phát hành tiền được tập
trung vào Ngân Hàng Trung Ương theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành
tiền và nó trở thành trung tâm phát hành tiền của cả nước.Toàn bộ tiền mặt
pháp định đều do NHTW phát hành theo chế độ độc quyền phát hành tiền của
nhà nước.Tiền này có hiệu lực sử dụng bắt buộc trong toàn quốc gia như là
phương tiện trao đổi.Vì tiền mặt được xem là loại tiền mạnh nhất trong hệ
thống tiền tệ,hơn nữa,thông qua nó tiền gửi có kì hạn và không kì hạn được
hình thành,cho nên hoạt động cung ứng tiền của NHTW tác động một cách
trực tiếp đến độ tăng, giảm của tổng cung tiền tệ trong nền kinh tế,qua đó ảnh
hưởng đến cả sản xuất và tiêu dùng.

quyền phát hành tiền, NHTW thực hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung
ứng được tạo ra từ các ngân hành thương mại,bằng quy chế dự trữ bắt buộc,
lãi suất chiết khấu...
Như vậy NHTW không chỉ độc quyền phát hành tiền tệ mà còn quản lí
và điều tiết lượng tiền cung ứng, thực hiện chính sách tiền tệ, đảm bảo ổn
định giá trị đối nội và giá trị đối ngoại của đồng bản tệ.
b/ Là Ngân Hàng của của các Ngân Hàng.
Là ngân hàng của các ngân hàng, Ngân Hàng Trung Ương thực hiện một
số nghiệp vụ sau:
- Mở tài khoản tiền gửi và bảo quản dự trữ tiền tệ cho các ngân hàng và
tổ chức tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng và ác tổ chức tín
dụng đều phải mở tài khoản tiền gửi và gửi tiền vào Ngân Hàng Trung
Ương,gồm có hai loại sau:
• Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền gửi của các ngân hàng tại
NHTW nhằm đảm bảo nhu cầu chi trả trong thanh toán giữa các ngân
hàng và cho khách hàng.
• Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Khoản tiền dự trữ này áp dụng đối với các
ngân hàng và các tổ chức tín dụng có huy động tiền gửi của công
chúng.Mức tiền dự trữ này được NHTW quy định bằng một tỉ lệ nhất
định so với tổng số tiền gửi của khách hàng.Đây là một công cụ của
Ngân Hàng Trung Ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ.Do vậy,
dự trữ bắt buộc này sẽ thay đổi theo yêu cầu chính sách tiền tệ trong
từng thời kì.
- Cho vay đối với các ngân hàng và tổ chức tín dụng
• Ngân Hàng Trung Ương cấp tín dụng cho ngân hàng và các tổ chức tín
dụng nhằm đảm bảo cho nền kinh tế đủ phương tiện thanh toán cần
thiết cho từng thời kì nhất định. Mặt khác, thông qua việc cấp vốn và
lãi suất tín dụng để điều tiết lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế theo
yêu cầu của chính sách tiền tệ.

• Xem xét,cấp và thu hồi giãy phép hoạt động cho các ngân hàng và
các tổ chức tín dụng.
• Kiểm soát tín dụng thông qua cơ chế tái cấp vốn và tỉ lệ dự trữ bắt
buộc.
• Quy định các thể chế nghiệp vụ, các hệ số an toàn trong quá trình
hoạt động cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
• Thanh tra và kiểm soát các hoạt động của toàn hệ thống ngân
hàng.áp dụng các chế tài trong các trường hợp vi phạm pháp luật,
nhằm đảm bảo cho cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an
toàn và có hiệu quả.
• Quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thể đối với các ngân hàng
và tổ chức tín dụng trong các trường hợp vi phạm nghiêm trọng
pháp luật hoặc mất khả năng thanh toán.
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ 6
b) Ngân Hàng Trung Ương có trách nhiệm đối với kho bạc nhà nước
• Mở tài khoản, nhận và trả tiền gửi của kho bạc nhà nước.
• Tổ chức thanh toán cho kho bạc nhà nước trong quan hệ thanh toán cho
các ngân hàng.
• Làm đại lí cho kho bạc nhà nước trong một số nghiệp vụ.
• Bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối, các chứng từ có giá.
• Cho ngân sách nhà nước vay khi cần thiết...
c) Ngân Hàng Trung Ương thay mặt nhà nước trong quan hệ với nước
ngoài trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng
• Kí kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng, Ngân hàng với nước ngoài.
• Đại diện cho nhà nước tại các tổ chức tài chính quốc tế mà nước đó là
thành viên như IMF, WB, ADB...
1.2. Các công cụ của chính sách tiền tệ.
1. 2.1. Tổng quan về chính sách tiền tệ.
a/ Vị trí và nhiệm vụ của chính sách tiền tệ:
- Vị trí: Ngân Hàng Trung Ương sử dụng chính sách tiền tệ nhằm gây ra

độ phát triển kinh tế, thể chế chính trị và giác độ nghiên cứu, người ta phân
biệt chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng và theo nghĩa thông thường, chính sách
tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương và chính sách tiền tệ quốc gia.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng là chính sách điều hành toàn bộ khối
lượng tiền trong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn
tài nguyên nhằm thực hiện các, mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế trên cơ
sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa hẹp là chính sách đảm bảo sao cho khối
lượng tiền cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng
kinh tế và chỉ số lạm phát(nếu có) nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính sách tiền tệ quốc gia là tông thể các biện pháp của Nhà Nước pháp
quyền nhằm cung ứng đầy đủ các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế phát
triển, trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ của NHTW là tổng thể tất cả các biện pháp mà
NHTW sử dụng nhằm điều tiết khối lượng tiền tệ, tín dụng, ổn định tiền tệ,
góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế.
Dù quan niệm theo nghĩa nào, chính sách tiền tệ đều nhằm mục đích ổn
định giá trị tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu của các chính sách kinh
tế, chính sách tiền tệ là một bộ phận các chính sách kinh tế Nhà Nước để thực
hiện vai trò quản lí vĩ mô với nền kinh tế.
Điều 2, luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quy định: “ chính sách tiền
tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà Nước
nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của
nhân dân.
- Đặc Trưng:
- Chính sách tiền tệ là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài
chính quốc gia: Trong tổng thể các chính sách kinh tê - tài chính của một
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ 8

nền kinh tế nào, vai trò ổn định của tiền tệ và nâng cao sức mua của đồng tiền
trong nước cũng luôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn. Trên cơ sở
thực thi chính sách tiền tệ, nhằm tác động đến lượng tiền cung ứng để từ đó
tác động đến hàng loạt các yếu tố khác trong nền kinh tế như lãi suất, lạm
phát, đầu tư, việc làm...ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu trọng tâm của
chính sách tiền tệ. Có ổn định được tiền tệ thì mới khuyến khích tiết kiệm, có
tiết kiệm mới có đầu tư, và có đầu tư mới có tăng trưởng kinh tế, giảm thất
nghiệp...
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ 9
c/ Mục tiêu và nội dung của chính sách tiền tệ:
- Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ: Trong điều kiện lưu
thông tiền vàng hay tiền giấy tự do đổi ra vàng, thì giá trị tiền tệ luôn được ổn
định, do cơ chế tự phát của tiền vàng. Trong điều kiện lưu thông tiền giấy
không được tự do chuyển đổi ra vàng, lạm phát luôn là khả năng tiềm tàng,
thậm chí khó tránh khỏi. Lúc này với chức năng của mình, NHTW luôn coi
việc kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu hàng đầu của
chính sách tiền tệ. ổn định giá cả là điêu luôn được mong muốn, bởi lẽ, nếu
giá cả tăng sẽ gây tình trạng khó khăn trong cuộc sống cho một bộ phận người
lao động, mất ổn định nền kinh tế - xã hội. Tình trạng đó gây khó khăn cho
việc hoạch định các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, gây ra sự xung đột
quyền lợi giữa một số nhóm dân cư. Do vậy, kiểm soát lạm phát nhằm ổn
định giá cả hàng hóa và dịch vụ là tiền đề cho phát triển kinh tế lâu dài, bảo
đảm ổn định đời sống cho người lao động. Thông qua chính sách tiền tệ,
NHTW có thể góp phần quan trọng trong kiểm soát lạm phát. Nếu chính sách
tiền tệ của NHTW nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ thì giá cả hàng hóa và dịch
vụ sẽ tăng lên, tất yếu dẫn đến tình trạng lạm phát. Ngược lại, chính sách tiền
tệ NHTW nhằm thắt chặt lượng tiền cung ứng thì sẽ làm cho giá cả hàng hóa
dịch vụ giảm xuống và như vậy tỉ lệ lạm phát giảm xuống. Kiểm soát lạm
phát được biểu hiện trước hết ở việc ổn định giá trị đối nội của động tiền, tức

nhiên. Trong thực tế, một số người thất nghiệp là có lợi cho nền kinh tế, đó là
khi người lao động quyết định đi tìm một công việc khác tốt hơn, phù hợp
hơn, thì người lao động đó bị thất nghiệp trong thời gian đi tìm việc làm.
Hoặc một số người lao động tự nguyện rời bỏ công việc của mình đẻ theo
đuổi các hoạt động khác như học tập, du lịch...và khi họ quyết định gia nhập
trở lại thị trường lao động, họ sẽ mất thời gian để tìm được công việc như ý.
Mặt khác, thông thường để có một tỉ lệ thất nghiệp thấp thì phải chấp nhận
một tỉ lệ lạm phát gia tăng nhất định, hai mục tiêu này luôn triệt tiêu nhau
trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ.
Tăng trưởng kinh tế: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn với mục tiêu
việc làm cao. Chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thời đến 2 mục tiêu này.
Khi cung ứng tiền tệ tăng lên, trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến
khích đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nhà nước và doanh nghiệp có
nhu cầu sử dụng lao động nhiều hơn, làm tăng sản lượng và tăng trưởng kinh
tế. Ngược lại, khi cung tiền tệ giảm, trong ngắn hạn lãi suất tăng sẽ hạn chế
đầu tư, thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà nước và doanh nghiệp se
cần ít lao động hơn, làm cho mức sản lượng giảm, tăng trưởng kinh tế chậm
lại.
Quan hệ giữa các mục tiêu: Nhìn tổng quát, thì các mục tiêu của chính
sách tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Điêu
đó cho thấy, trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ không thể tuyệt đối
hóa một mục tiêu nào, không thể giải quyết các mục tiêu độc lập trên tầm vĩ
mô. Tuy nhiên, có nơi có lúc, trong thời gian ngắn có thể xảy ra sự xung đột,
thậm chí triệt tiêu lân nhau giữa các mục tiêu. Điều thường gặp và dễ thấy
nhất đó là sự mâu thuẫn giữa tỉ lệ lạm phát và thất nghiệp. Tuy vẫn còn nhiều
quan niệm khác nhau, song nhìn chung, mục tiêu cơ bản của chính sách tiền
tệ là ổn định giá trị đồng bản tệ, trên cơ sở đó để ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội. Thực tiễn các nước phát triển theo cơ chế thị trường cho thấy, vận
hành chính sách tiền tệ, để đạt được các mục tiêu của nó cần có sự phối hợp
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ 11

hối, kiểm soát việc tạm ứng cho ngân sách nhà nước.
- Kiếm soát cung ứng tiền tệ và điều hòa lưu thông tiền tệ: Việc xây dựng
và thực thi chính sách tiền tệ phải khống chế sao cho lượng tiền tệ cung ứng
trong một thời kì nhất định phải cân đối với mức tăng tổng sản phẩm quốc
dân danh nghĩa và vòng quay tiền tệ trong thời kì đó. Tuy nhiên, khối lượng
tiền tệ tăng thêm hay giảm đi chỉ là tiền định lượng. Điều quan trọng là
NHTW phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, của giá cả và tỉ giá hối
đoái, khuynh hướng chi tiêu của dân chúng, về mức độ hoạt động thanh toán
bằng tiền mặt trong nền kinh tế...Từ đó điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ 12
sao cho khối lượng tiền tệ tăng hay giảm mà không làm tăng giá cả hoặc thiếu
phương tiên thanh toán cho nền kinh tế.
- Kiểm soát hoạt động tín dụng: Khối lượng tín dụng mà ngân hàng
thương mai cung ứng cho nền kinh tế chủ yếu từ 3 nguồn sau: vốn tự có của
ngân hàng, vốn huy động từ các nguồn nhàn rỗi trong nền kinh tế, vay tái cấp
vốn tại NHTW. Khi ngân hàng cấp phát tín dụng sẽ diễn ra quá trình tạo tiền
gửi và phát sinh bội số tín dụng. Để điều tiết tín dụng và khối lượng tiên tệ,
NHTW sẽ sử dụng một số công cụ như lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp
vụ thị trường mở...Từ khối lượng tiền tệ có thể cung ứng thêm cho nền kinh
tế, NHTW sẽ giành chủ yếu cho hoạt động tín dụng ngắn hạn phù hợp với
mức tăng trưởng kinh tế, có dự tính đến tỉ lệ lạm phát. Hoạt động tín dụng này
chỉ xuất hiện khi nền kinh tế thực sự có nhu cầu. Khi các ngân hàng thương
mại thiếu phương tiện thanh toán thì họ mới đến NHTW xin vay táI cấp vốn.
NHTW luôn đóng vai trò là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng đối với hệ
thống ngân hàng thương mại, nhằm kiểm soát chất lượng và số lượng tín
dụng, kiểm soát các nguồn tiền gửi của các ngân hàng thương mại và tổ chức
tín dụng.
- Kiểm soát ngoại hối: Ngoại hối bao gồm ngoại tệ(thường là các ngoại
tệ mạnh), vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và các
công cụ tiền tệ khác. Để ổn định giá trị đồng bản tệ, NHTW thực hiện các

• Chính sách tiền tệ chống suy thoái: Ngân sách thăng bằng, có thể
dịch chuyển thu nhập tiền tệ theo hướng góp phần chống suy
thoái bằng cách làm tăng mức tiêu thụ.
• Chính sách tiền tệ chống lạm phát: Ngân sách thăng bằng, vẫn có
thể tác dụng ngược với chính sách tiền tệ, làm tăng vật giá.
Cho nên, ngay trong trường hợp ngân sách thăng bằng, cơ cấu thu và chi
ngân sách không cùng chiều vẫn có khả năng gây mất cân đối cục bộ trong
quan hệ tiên - hàng.
Trường hợp ngân sách thiếu hụt: Lúc này, chính phủ phải đi vay để bù
đắp cho sự thiếu hụt ngân sách.Tác động của nó thế nào hoàn toàn phụ thuộc
vào chính phủ vay ở đâu. Có 4 nguồn chỉnh phủ có thể vay để bù đắp thiếu
hụt ngân sách: vay dân cư, vay nước ngoài, vay hệ thống tín dụng và tài chính
trong nước, vay NHTW. Trường hợp vay NHTW thì tiền sẽ được phát hành
thêm, làm tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế. Khi chính phủ vay nước
ngoài, thường là bằng vàng hoặc ngoại tệ thì phải kí quỹ số vay được tại
NHTW để rút tiền mặt ra chi tiêu, làm khối lượng tiền tệ trong lưu thông tăng
lên. Như vậy, cả hai trường hợp đều làm tăng khối lượng tiền tệ, gây áp lực
lạm phát tiềm tàng. Do vậy, cách tốt nhất là phấn đấu một ngân sách thăng
bằng,không nên bội chi để bù đắp chi phí hành chính tối thiểu mà ngân sách
phải phấn đấu thu để trang trải các nhu cầu chi tiêu thường xuyên. Chi cho
đầu tư, nếu thiếu thì phải tài trợ bằng cách phát hành tráI phiếu chính phủ để
vay nhân dân, các ngân hàng thương mại trên thị trường tiền tệ(ngắn hạn) và
thị trường vốn( dài hạn).
Trường hợp ngân sách thặng dư: Đây là trường hợp rất đặc biệt vì nó rút
bớt khối lượng tiền tệ dư thừa, tác động có lợi cho mối tương quan giữa tổng
cung và tổng cầu tiền tệ.
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ 14

Trích đoạn Đánh giá chung về việc sử dụng các công cụ CSTT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status