1
Mực LỰC
Mực LỰC 1
LỜI MỞ ĐẦU rb*> CB 3
Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài.5
I.Khái niệm, phân loại và bản chất của nguồn vốn 5
1.Khái niệm: 5
2.Phân loại nguồn vốn đầu tư: 5
3.Bản chất nguồn vốn đầu tư 9
II. Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài trong việc thúc đấy tăng trưỏng
và phát triến kinh tế 10
1. Sự cần thiết phải có cả nguồn vốn đầu tư trong nưóc và nước ngoài trong các 10
2.Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nưóc và nguồn vốn nưóc ngoài 13
I. Nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định 24
1. Nguồn vốn trong nưóc mang tính ổn đinh và bền vững, có thể chủ động trong việc huy động
và sử dụng 24
2
2.Nguồn vốn trong nước đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nưóc ngoài chảy vào những
ngành, lĩnh vực cần thiết 27
Bảng 3: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài đưọc cấp giấy phép thời kỳ 1988 - 2009 phân 31
theo địa phưong 31
3.Tạo CO' sỏ’ hạ tầng căn bản cho việc chủ động tiếp nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài 32
4.Nguồn vốn trong nuó’c là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sỏ’ cho nguồn vốn nưóc ngoài vào
hoạt động có hiệu quả 35
5.Nguồn vốn trong nuó’c là nguồn chi trả các khoản vay nuóc ngoài và giảm áp lực nọ’ nuó’c
ngoài cho nền kỉnh tế 37
Biểu 1: Tổng nọ’ và thu nhập quốc dân (GNT) 38
II. Tác động của nguồn vốn nước ngoài đối vói nguồn vốn trong nước 1. Thành tựu 41
Biểu 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa qua các năm 49
Biếu 7: Lao động Việt Nam làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 50
2. Hạn chế: 52
-
nước ngoài,
ngoài việc chỉ ra các lý luận chung về hai nguồn vốn này, đề tài còn cung cấp những thông tin
về thực trạng sử dụng cũng như những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến việc tăng
giảm dòng vốn đầu tư tại Việt Nam. Từ đó, chúng ta có được cái nhìn bao quát về tình hình
kinh tế đất nước để có nhừng phương hướng mới thúc đấy nền kinh tế ngày càng phát triển.
Vói việc nghiên cún đề tài: “Mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nuóc và nưóc
ngoài trong việc thúc đấy tăng trưỏng và phát triến kinh tế Việt Nam” chúng em xin trình
bày những nội dung chính sau đây:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về moi quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và
nguồn vốn nước ngoài.
Chương II: Thực trạng mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài
trong việc thúc đây tăng trưởng phát triên kinh tê.
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong
nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
Qua tìm hiếu và phân tích các số liệu, đề tài của chúng em đã đưa ra một số định hướng
rõ rang trong quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có hạn, điều kiện tiếp
xúc thực tế chưa nhiều và khả năng đánh giá còn non nớt nên đề tài của chúng em không tránh
khỏi những thiếu sót trong cách nhìn tổng thể. Kính mong thầy giáo và các bạn đóng góp thêm
ý kiến đế chúng em có thể hoàn thiện đề tài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
5
CHƯƠNG I
Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa nguồn vốn
đầu tư trong nước và nước ngoài
I. Khái niệm, phân loại và bản chất của nguồn vốn
1. Khái niệm:
1.1 Von đầu tư:
"Capital - vốn (tư bản): một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo
ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá
-
phát triển của
nhà nước là một hình thức quá độ chuyền từ phuong thức cấp phát vốn ngân sách sang phưong
thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Thông qua nguồn vốn tín
dụng, nhà nước khuyến khích phát triến kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định
hướng, chiến lược của mình.
• Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ khấu
hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước, thông thường chiếm từ 14-
15% tống vốn đầu tư xã hội.
2.1.2 Nguồn vốn của dân cư và tư nhân
Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của
các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Đầu tư của các doanh nghiệp và các hộ gia đình
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, mở mang
ngành nghề, phát triến công nghiệp, tiếu thủ công nghiệp, vốn của dân cư phụ thuộc vào thu
nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào :
- Trình độ phát triến của đất nước (các nước có trình độ phát triến thấp thì thu nhập thấp,
quy mô và tỉ lệ tiết kiệm cũng thấp).
- Tập quán tiêu dùng của dân cư.
- Chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản
đóng góp với xã hội.
2.1.3Thị trường vốn
Thị trường vốn là một phần của thị trường tài chính, có ý nghĩa rất quan trọng trong sự
7
nghiệp phát triến kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bố sung các nguồn
vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư - bao gồm cả nhà nước và các loại hình doanh nghiệp.
Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán đã huy động nguồn tiết kiệm của các hộ
dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ
tạo thành nguồn lực tài chính cho nền kinh tế.
2.1.4 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại trong nước.
Các Ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình vô
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với các nước nghèo
mà đối với cả các nước công nghiệp phát triến. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có đặc điểm khác
với các nguồn vốn khác là khi tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước nhận đầu
tư. Thay vì nhận lãi trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự
án hoạt động có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đem theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước
nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là nhũng ngành nghề đòi hỏi
cao về kỹ thuật, công nghệ hay nhiều vốn. Vì thế, nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối
với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh của nước tiếp
nhận đầu tư.
2.2.3 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA
nhưng có ưu điểm là không gắn với các điều kiện ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy,
thủ tục vay đối với các nguồn vốn này thường tương đối khắc khe, thời gian trả nợ nghiêm
ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong kinh
doanh ngân hàng (tính rủi ro của nước đi vay, của thị trường thế giới và xu hướng lãi suất quốc
tế ), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu đế đáp
ứng nhu cầu xuất khấu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được
dùng để đầu tư phát triển,, tỷ trọng của vốn có thể gia tăng nếu triển vọng tăng
trưởng của nền kinh tế là lâu dài dài đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay
là sáng sủa.
2.2.4 Thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hóa, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia
vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm
tăng lượng vốn lun chuyển trên phạm vi toàn cầu.
Thị trường vốn quốc tế được biếu hiện bằng sự phát triến của thị trường chứng khoán,
dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán của các nước đang phát triển ngày càng mạnh mẽ.
Chính phủ của các nước đang phát triển có thể phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế
để huy động nguồn vốn lớn, tập trung cho phát triển kinh tế.
3. Bản chất nguồn vốn đầu tư
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng. Trong đó, phần
tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và chính phủ.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao
giờ cũng được thiết lập. Mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản
vãng lai: CA= s - I.
Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích lũy nội bộ nền kinh tế
và tài khoản vãng lai bị thâm hut thì có thể huy đông vốn đầu tư từ nước ngoài. Khi đó, đầu tư
nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong nhừng nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền
kinh tế. Neu tích lũy của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiên thặng
dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tu
-
ra nước ngoài hoăc cho nước ngoài vay vốn
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
II. Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài trong việc thúc đấy
tăng trưỏng và phát triến kinh tế
1. Sự cần thiết phải có cả nguồn vốn đầu tư trong nưóc và nước ngoài trong các
quốc gia đang phát triến nói chung và Việt Nam nói riêng
1.1 Nghiên cứu vê “cái vòng luân quân của các nước đang phát trỉến” và những vân
đê đặt ra
Các nước đang phát triển hầu hết là các nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu hoặc
11
đang từ nền sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa. Các đặc điểm chung có thế thấy
được ở nhóm nước này đó là:
- Mức sống thấp.
- Tỷ lệ tích lũy thấp.
- Trình độ kỹ thuật sản xuất thấp.
- Năng suất lao động thấp
Nhũng đặc trưng trên đây chính là nhũng trở ngại đối với sự phát triển, chúng có liên
quan chặt chẽ với nhau, tạo ra vòng luấn quẩn của sự nghèo khổ, làm cho khoảng cách giữa các
nước phát triên và đang phát triên ngày càng gia tăng.
(tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
1.3.2 Vai trò của vốn đầu tư trong thúc đây tăng trưởng và phát triến kinh tế
Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng và phát triển ở mọi quốc gia. Riêng đói
với các nước kém phát triến, đế đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ốn định cần có khối lượng
vốn rất lớn. Điều này càng được khẳng định chắc chắn khi nghiên cứu vai trò của vốn đầu tư
với phát triển kinh tế.
1.3.2.1 Vai trò của nguồn vốn trong nước
- Vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định đối với tăng trưởng và
phát triến của từng đơn vị kinh tế cũng như của cả đất nước. Do tính chất ốn định và ít chịu
biến động từ bên ngoài nên nguồn vón trong nước là nguồn cơ bản tạo sự tăng trưởng bền vững
cho đất nước. Đồng thời vốn đầu tư trong nước là đối trọng với nguồn vốn đầu tư nước ngoài,
hạn chế được những mặt tiêu cực của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tạo bộ khung kinh tế để có
thể chống lại được nhừng tác động của thị trường thế giới.
- Nguồn vốn trong nước là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều tiết kinh tế vĩ
mô. Nguồn vốn trong nước thường được ưu tiên để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước phát triển, đồng thời tạo điều
kiện đế thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thúc đẩy cơ hội đầu tư tăng trưởng kinh tế. Vốn từ ngân
sách nhà nước còn góp phần kiềm chế lạm phát, đấy nhanh tiến trình cố phần hoá trong nhiều
doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nguồn vốn đầu tư trong
nước đặc biệt là nguồn vốn dồi dào của khu vực dân cư và tư nhân là tác động lớn nhất thúc
đẩy quá trình cố phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra nhanh chóng và đồng bộ. Từ đó
giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp
nhà nước, đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế.
13
- Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đối cơ cấu kinh tế,
cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng trưởng, phát triển toàn diện,
đồng đều và bền vững giừa các vùng miền, vốn của nhà nước thường được đầu tư vào cách lĩnh
vực đòi hỏi quy mô vốn rất lớn như điện lực, dầu khí, hay vào nhũng ngành có tỉ suất lợi
nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn lâu dài như các ngành xây dựng đường, các công trình công
trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng của quốc gia đề ra.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, mỗi quốc gia không chỉ phát triến đơn lẻ mà
còn có sự tác động qua lại đối với các quốc gia khác. Chính vì thế, nền kinh tế của mội quốc
gia sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, nếu chúng ta phát
huy được nội lực nguồn vốn trong nước thì sẽ có thể chủ động trong việc điều hành nền kinh tế
và ổn định các chính sách kinh tế.
Ngoài ra, việc tận dụng nguồn vốn trong nước cũng giúp chúng ta có được sự phát triển
bền vững. Đe phát triển kinh tế có nhiều con đường khác nhau. Nhiều nước đã chọn con đường
đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằm phát triển kinh tế. Thực tế đã cho thấy các nước này có
thể đạt được mức tăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền vững và có sự lệ
thuộc vào nước cho vay bởi họ không thấy được cũng như không phát huy được tính quyết
định của nguồn vốn trong nước.
Nguồn vốn trong nước chiếm một tỉ trọng ưu thế (>50%) trong tống vốn đầu tư toàn xã
hội. Neu tỷ trọng này quá thấp so với vốn nước ngoài thì sẽ dẫn đến giảm khả năng thanh toán
và có thế không kiếm soát được sự thâm nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia gây lũng đoạn
thị trường, thu hẹp thị trường của các doanh nghiệp trong nước và sản xuất trong nước không
phát triển. Các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn chủ yếu là các doanh nghiệp vùa và nhỏ,
khả năng cạnh tranh còn hạn chế ở rất nhiều mặt, sự hỗ trợ từ nhà nước bằng chính sách pháp
luật là rất cần thiết. Chính vì vậy chúng ta phải giữ cho tỷ trọng nguồn vốn trong nước ở mức
có thế kiếm soát được hoạt động của nền kinh tế. Như vậy, chúng ta có thể chủ động ứng phó
kịp thời với các biến động của nền kinh tế, cũng như trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp Việt
Nam cạnh tranh trên thị trường nhất là trong bối cảnh nước ta mói gia nhập tổ chức WTO.
2.1.2 Đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nước ngoài chảy vào các ngành,
các lĩnh vục cần thiết
Nguồn vốn trong nước đóng vai trò then chốt trong việc định hướng các hoạt động đầu
15
tư. Mỗi nền kinh tế phát triển đều phải trải qua nhừng giai đoạn khác nhau và không thể áp
dụng dập khuôn một chính sách cho cả quá trình phát triển. Với mỗi giai đoạnh phát triến sẽ đặt
ra những mục tiêu trọng tâm, ưu tiên cho việc phát triến những ngành kinh tế phù hợp. Muốn
xây dựng một đất nước phát triển về mọi mặt thì các ngành, các vùng của chúng ta đều phải có
việc thu hút vốn nước ngoài đế phát triển kinh tế. Và đảm nhiệm vai trò này chính là nguồn vốn
trong nước.
2.1.4 Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sở cho nguồn vốn
nước ngoài vào hoạt động có hiệu quả
Thông thường để vốn đầu tư nước ngoài phát huy được tác dụng thì cần phải có một tỷ
lệ vốn đối ứng trong nước thích hợp. Nghĩa là muốn tiếp nhận được vốn đầu tư nước ngoài thì
trong nước cũng cần có một số cơ sở hạ tầng nhất định tạo điều kiện cho vốn nước ngoài hoạt
động có hiệu quả. Trong dự án sử dụng vốn ODA nhùng tổ chức cho vay
15
yêu cầu nước đi vay phải có vốn đối ứng đế chủ động cho việc lập dự án. Nước đi vay phải bỏ
trước để chi trả cho đội ngũ thực hiện dự án hoặc chi phí cho hoạt động đi lại, hoạt động của
phía tiếp nhận. Sẽ có hai nhóm nhận tiền, một là do dự án trả, một nhóm khác do nhà nước trả
(lấy từ vốn đối ứng). Theo kinh nghiệm của một số nước nhóm NICs thì giai đoạn đầu của quá
trình phát triến tỷ lệ này thường thấp ở mức 1/1.5 nghĩa là một đồng vốn nước ngoài thì cần 1.5
đồng vốn trong nước. Ở giai đoạn sau khi các chuông trình đầu tư nghiêng về ngành công
nghiệp chế biến có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao thì tỷ lệ này thường tăng lên 1/2.5.
2.1.5 Nguồn vốn trong nước là nguồn chi trả các khoản vay nước ngoài và giảm
áp lực nợ nước ngoài cho nền kinh tế
Nguồn vốn ODA, tuy có rất nhiều uu đãi nhưng về bản chất đây vẫn là một khoản vay
nên chúng ta vẫn phải trả nợ. Neu khi đó nguồn vốn trong nước không đủ đế chi trả sẽ dẫn tới
tình trạng nợ cho nền kinh tế. Do vậy, việc thường xuyên đánh giá tình hình sử dụng vốn vay
ODA và khả năng trả nợ của quốc gia là rất cần thiết.
Đe đánh giá tình trạng nợ của một quốc gia có thể xem xét trên các phưong diện về quy
mô, co cấu và các chỉ số về khả năng trả nợ bao gồm bốn chỉ tiêu sau:
- Tổng nợ và thu nhập quốc dân.
- Nợ phải trả hàng năm và giá trị xuất khẩu.
- Nợ phải trả hàng năm và thu ngân sách chính phủ.
- Co cấu về nợ ngắn hạn và dài hạn.
2.2 Nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng
2.2.1 Nguồn vốn nước ngoài có tác động tích cực đến nguồn vốn trong nước
trực tiếp nước ngoài vào đầu tư tại một lĩnh vực nào đó, nhà nước cần tập trung vào việc nâng
cấp cải thiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính ngân hàng Nguồn vốn để nhà
nước có thể giải quyết những đầu tư này là phải dựa vào nguồn vốn ODA giúp bố sung cho vốn
đầu tư hạn hẹp tù’ ngân sách nhà nước. Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ tăng sức
hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đấy đầu tư trong nước tăng, dẫn đến sự phát trien
bền vừng của nền kinh tế. Mặt khác, việc sử dụng nguồn von ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ
tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất
kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.
Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức, ngoài việc bản thân nó là nguồn vốn bố sung
quan trọng cho các nước đang phát triển, còn có tác dụng tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn
19
đầu tu
-
trực tiếp và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước cho các nước này.
2.2.1.2 Là nguồn cung ứng ngoại tệ cho hoạt động mua sắm máy móc, thiết bị,
chuyển giao công nghệ, phân công lao động xã hội, tạo điều kiện cho tăng năng suất lao động,
gia tăng sản lượng của nền kinh tế.
Đe tạo ra sự “cất cánh” cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sản lượng, mức thu
nhập ngày càng gia tăng. Muốn vậy cần phải có vốn đầu tư và kỳ thuật tiên tiến.Và trong lúc
nền kinh tế còn đang kém phát triển, kỹ thuật - công nghệ lạc hậu thì việc nhập khẩu công nghệ
bên ngoài là một tất yếu. Chuyển giao công nghệ đòi hỏi một nguồn ngoại tệ lớn trong khi cán
cân thương mại luôn thâm hụt thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài lúc này chính là nguồn cung
ứng ngoại tệ để có thể tiếp cận công nghệ bên ngoài. Trong quá trình chuyến giao, bên nhận
nhận được những kiến thức kỹ thuật mà không phải tốn kém chi phí và mất thời gian cho hoạt
động nghiên cún và triển khai. Ưu điểm rõ ràng nhất đối với bên nhận công nghệ là tạo ra được
sự tiến bộ kỹ thuật và thương mại từ sự tiếp nhận công nghệ, Sự cung cấp tài liệu và huấn luyện
để nâng cao kiến thức của bên nhận hoặc áp dụng các quy trình công nghệ để sản xuất thành
công. Đôi khi sự giúp đỡ thêm về tài chính, tìm thị trường và tiêu thụ sản phẩm của bên cung
cấp còn mở ra một khả năng thương mại cho bên nhận. Khi công nghệ được chuyển giao, năng
suất lao động sẽ tăng do tiến bộ của khoa học kỹ thuât, hàng hóa bên nhận sẽ có chất lượng cao
phẩm đầu ra sẽ có thương hiệu tốt hơn, tù' đó nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty, lợi
nhuận thu được cao hơn so với không liên doanh liên kết. Và như thế, nó đã góp phần gia tăng
tích lũy nội bộ nền kinh tế.
2.2.1.4 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của một quốc gia là tống thế mối quan hệ hừu cơ giừa các yếu tố cấu
thành nền kinh tế. Một đất nước có nền kinh tế phát triển phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Muốn chuyến dịch cơ cấu kinh tế của một đất nước cần có rất nhiều nguồn lực. Trong đó yếu tố
vốn đóng vai trò quyết định Neu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước sẽ không thể đáp ứng được,
có thêm nguồn vốn nước ngoài sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nguồn vốn nước ngoài làm thay đối cơ cấu các ngành của nước tiếp nhận đầu tư,
chuyển đổi từ ngành sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ và sau cùng là
sang ngành sản xuất dịch vụ. Thay đối cơ cấu bên trong một ngành sản xuất từ năng suất thấp,
công nghệ lạc hâu, lao động nhiều sang sản xuất có năng suất cao, công nghệ hiện đại. Khi cơ
cấu kinh tế đã được chuyến dịch theo hướng ngày càng tiến gần hơn so với thế giới thì sẽ tạo
21
điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển do đã có được những điều kiện sản xuất phát triển
ở một mức độ hợp lý.
Như vậy, nếu sử dụng tốt thì vốn đầu tư nước ngoài về ngắn hạn là đáp ứng vốn đầu tư
phát triển, về dài hạn làm gia tăng nguồn vốn tích lũy trong nước.
2.2.2 Những tác động tiêu cực nếu sử dụng và quản lý nguồn vốn nước ngoài
không tốt
2.2.2.1 Luôn tiềm ấn nguy cơ làm gia tăng nợ nước ngoài và gia tăng sự phụ thuộc vào nền
kinh tế nước ngoài nhất là đối với nguồn ODA
Nguồn ODA luôn chứa đựng cả tính uu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện
trợ. Chính vì vậy, ODA mang yếu tố chính trị. Các nước viện trợ nói chung vừa gây ảnh hưởng
chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận. Bản thân các
nước phát triến nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển
để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư. Viện trợ thường gắn với các
điều kiện kinh tế. Xét về lâu dài,các nhà viện trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi
các nước nghèo phát triến. Viện trợ các nước không chỉ đơn thuần là việc giúp đỡ hữu nghị mà
tiềm năng của chúng ta. Nhưng nguồn tài nguyên của chúng ta chỉ có hạn, nếu cứ khai thác như
vậy thì sẽ mau chóng cạn kiệt. Thế hệ sau sẽ không có nguyên nhiên liệu để sản xuất vì vậy sẽ
gặp bất lợi do có thể sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu hoặc tốn kém chi phí cho nghiên cún tìm ra
nguyên liệu khác thay thế. Việc này sẽ làm giảm khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn
trong nước.
2.2.2.4 Tình trạng lũng đoạn thị trường của nhà đầu tư nước ngoài và cạnh tranh không cân
sức giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể làm phá
sản doanh nghiệp trong nước và gây thất nghiệp.
Một thực tế mà tất cả chúng ta đều có thể dễ dàng nhìn thấy đó là các doanh nghiệp
nước ngoài thường làm ăn có hiệu quả hơn với doanh nghiệp nhà nước là bởi các lý do sau:
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước đang phát triển thường rất hạn chế
bởi đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít vốn. Thêm vào đó là đa số chủ doanh
nghiệp chưa được đào tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh, quản lý, kinh tế- xã hội,
văn hóa, luật pháp và kỹ năng quản trị kinh doanh, nhất là kỹ năng trong điều kiện hội nhập
23
quốc tế. Điều này thế hiện rõ trong việc nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đúng các quy định
về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất lượng hàng hóa, sở hũu công nghiệp
- Sự lạc hậu về khoa học- công nghệ của các doanh nghiệp trong nước : Hiện nay đa số
các doanh nghiệp nước ta sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới tù’ 2
đến 3 thế hệ, trong đó số máy móc hiện đại chiếm tỷ lệ tích lũy thấp. Bên cạnh đó, để đối mới
công nghệ lại thường chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0.2 đến 0.5 doanh thu.
- Hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu các doanh nghiệp.
- Chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông và xúc tiến thương mại của các doanh
nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế.
2.2.2.5 Làm chảy máu chất xám sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp nước ngoài còn cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước trong lĩnh vực
thu hút nguồn nhân lực bởi chính sách lương, thưởng và trợ cấp. Thông thường do được hưởng
nhiều ưu đãi và môi trường làm việc tốt hơn mà đa số những người có trình độ tay nghề cao
thường làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc này đã làm giảm đáng kể
nhân tài cho khu vực trong nước, làm giảm khả năng phát triển của khu vực này.
Bảng 1: Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế
Năm 100% Nguổn vỏn trong nước Nguôn vôn nước ngoài
1995
100
69,6 30.4
1996
100
74,0
26,0
1997
100
72,0
28,0
1998
100
79,2
20,8
1999 100 82,7 17,3
2000 100 82,0 18,0
2001 100
82,4 17,6
2002 100,0 82,6
17,4
2003
100,0
84,0
16,0
2004 100,0 85,8 14,2
2005 100,0 85,1 14,9
2006 100,0