Kiểm soát dòng vốn nhằm ổn định và phát triển kinh tế việt nam trong quá trình hội nhập - Pdf 67

KIỂM SOÁT DÒNG VỐN NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

TS. Nguyễn Văn Sĩ
Đại học Kinh tế TP.HCM

Thu hút FDI có tầm quan trọng đối với Việt Nam, do Việt Nam là một quốc gia
đang phát triển, nhu cầu vốn cho nền kinh tế cao trong khi nội lực kinh tế còn yếu so với
một số nước trong khu vực. Với hệ thống tài chính của Việt Nam hiện nay FDI là nguồn
vốn tương đối tốt cho việc quản lý. Đồng thời các dự án FDI thường được đầu tư vào
những lĩnh vực hợp lý và được giám sát chặt chẽ bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt
khác thông qua huy động vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp, Việt Nam mới thu hút được
nhiều hơn vốn nước ngoài từ thị trường tài chính quốc tế. Với tình hình dòng vốn FDI
hiện nay, ODA trở thành nguồn vốn quan trọng thứ hai đối với Việt Nam. Đây là nguồn
vốn với chi phí tương đối thấp, bởi nó thường được cung cấp với lãi suất ưu đãi, đôi khi
còn được cung cấp dưới hình thức viện trợ không hoàn lại. ODA chủ yếu chảy vào các dự
án đầu tư hướng đến các lợi ích xã hội, giao thông nông thôn, xóa đói giảm nghèo, giáo
dục, y tế… Do kênh huy động vốn qua hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu, còn rất
hạn chế, xa lạ đối với một số doanh nghiệp Việt Nam. Nguồn vốn huy động cho sản xuất
kinh doanh hầu hết là từ vốn dựa trên các điều kiện ưu đãi, bảo lãnh của Nhà nước. Việc
quản lý vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp chưa chặt chẽ, trong vay nợ chưa
xác định rõ mục tiêu, hiệu quả kinh tế nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hóa, xuất khẩu, tạo
ngoại tệ trả nợ nước ngoài. Dòng ngoại hối chuyển về từ các khoản thu nhập cá nhân ở
nước ngoài hoặc phần thu nhập chuyển về nước của lao động Việt Nam tại nước ngoài.
Đây là kết quả của quá trình hoàn thiện chính sách kiều hối, đảm bảo được quyền lợi của
kiều bào. Đứng trên góc độ nguồn cung cấp vốn, đây là nguồn vốn rẻ nhất mà nền kinh tế
có được, trên góc độ quản lý ngoại hối, kiều hối là một kênh quan trọng để cải thiện cán
cân thanh toán của quốc gia.
Sự di chuyển vốn giữa các quốc gia ngày càng được tự do hóa trong thời gian qua
đã đem lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế thế giới, cả những nước cung cấp lẫn những
nước nhận vốn. Các dòng vốn này được xem là động lực mang lại sự tăng trưởng kinh tế

tức là đặt ra các mức dự trữ tùy theo loại vốn vào và hoàn cảnh của dòng vốn vào nhằm
giảm số lượng vốn vào. Tỷ lệ dự trữ có thể điều chỉnh tùy theo lượng vốn vào, nhưng
không thay đổi theo thời gian đáo hạn. Do tiền gửi bắt buộc có tính thay đổi ngăn cản
việc tiếp cận nguồn tài chính nước ngoài có khả năng làm tăng tính cạnh tranh giữa ngân
hàng và các công ty trong nước, cho nên điều này cần được hạn chế sử dụng ở những giai
đoạn có dòng vốn vào nhiều do tăng nhanh tỷ giá. Cần đánh thuế vào những giao dịch
ngoại hối dù tỷ lệ rất thấp. Thuế này được đặt ra đối với người mua hoặc người bán tiền
tệ trong nước hoặc cả hai. Đánh thuế theo một cuộc mua bán xoay dòng đối với giao dịch
ngoại hối thì sẽ có hiệu quả hơn. Thuế suất có thể điều chỉnh tùy theo mức độ mở cửa của
thị trường vốn và mức độ dòng vốn ngắn hạn. Sự hiện diện của loại thuế này vẫn tồn tại
thiếu sót. Bằng cách giảm tỷ suất sinh lợi đối với cổ phần trong nước, thì thuế này sẽ làm
cho cổ phiếu trong nước ít hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và nó còn làm
giảm tính thanh khoản. Hơn nữa thuế này có thể làm cho thị trường ngoại hối mất tính ổn
định. Sử dụng thuế giao dịch ngoại hối làm giảm bớt sự miễn cưỡng của các nước đang
phát triển nhằm mở rộng thị trường tài chính: Lợi ích của sự lưu chuyển vốn giữa các
quốc gia là rõ ràng, và một trong những điều kiện để được hưởng lợi từ các dòng vốn
quốc tế là sự mở cửa thị trường và tự do hóa các giao dịch tài chính. Do đó, việc lạm
dụng các biện pháp kiểm soát vốn có thể làm cho nền kinh tế chịu nhiều hậu quả tiêu cực.
Mặt khác kiểm soát vốn làm tăng chi phí và các rào cản bất lợi cho việc tiếp xúc với thị
trường vốn quốc tế. Mặc dù các nhà đầu tư thường thành công trong việc tránh kiểm soát,
nhưng việc kiểm soát vốn cũng gánh chịu một cái giá phải trả đáng kể trong việc giao
dịch tài sản quốc tế, các dòng chảy của vốn, thì nó có thể hạn chế cả những dòng vốn có
lợi.
Giải pháp tác động lên dòng vốn ra: Là một biện pháp cần sử dụng để điều tiết
dòng vốn ra sao cho các dòng vốn ra phải chậm rãi, nằm trong tầm kiểm soát, tạo điều
kiện để có thời gian chuẩn bị đưa ra các biện pháp ứng phó với sự sụt giảm nguồn ngoại
tệ trong nước và sự tăng lên của đồng nội tệ. Có một số giải pháp như: Quy định duy trì
trong 12 tháng đối với việc hồi hương của các dòng vốn đầu tư nước ngoài; ngăn cản các
giao dịch giữa tài khoản trong nước với nước ngoài; làm đóng băng tài khoản quốc tế hạn
chế các dòng ngoại tệ đổ ra nước ngoài; các giao dịch ngoại hối chỉ được cho phép khi có

nhắc khi thực hiện kết hợp các biện pháp khuyến khích các dòng vốn ít biến động như
dòng vốn đầu tư trực tiếp chảy vào, đồng thời kiểm soát các dòng vốn nhạy cảm, dễ biến
động như dòng vốn đầu tư gián tiếp. Kiểm soát vốn trong hoàn cảnh này sẽ không còn áp
dụng những biện pháp hành chính cứng nhắc, gây mất niềm tin các nhà đầu tư mà nó sẽ
trở nên khoa học hơn, uyển chuyển hơn, không làm môi trường đầu tư ở Việt Nam mất đi
sự hấp dẫn vốn có.
Một số vấn đề rút ra về mô hình phát triển và điều hành kinh tế vĩ mô trong
thời gian tới:
Một là, chuyển từ mô hình công nghiệp truyền thống sang mô hình phát triển bền
vững, dựa chủ yếu vào mô hình kinh tế tri thức, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng
cao, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Vì các mô hình công nghiệp truyền thống
đang tiến tới giới hạn, càng phát triển nhanh thì càng tiêu hao nhiều tài nguyên và năng
lượng.
Hai là, sử dụng chính sách tổng cầu trong ngắn hạn để đạt mục tiêu ổn định kinh
tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn; về dài hạn để duy trì tăng trưởng kinh tế
ở mức hợp lý và bền vững phải sử dụng chính sách tổng cung, nói cách khác, sử dụng có
hiệu quả nguồn nhân lực, tài nguyên, công nghệ và vốn.
Ba là, khai thác có hiệu quả các điều kiện thuận lợi và lợi thế so sánh của nền
kinh tế - xã hội nước ta để phục vụ cho phát triển kinh tế, đó là chính trị - xã hội ổn định,
nhu cầu đầu tư, tiêu dùng của thị trường trong nước khá lớn (gần 86 triệu dân), độ tuổi
lao động chiếm 60%, tài nguyên và lợi thế địa lý với tiềm năng lớn.
Bốn là, để kiểm soát lạm phát ở mức thấp và bền vững trong dài hạn, cần duy trì
tăng trưởng kinh tế ở mức thấp hơn sản lượng tiềm năng và thực hiện tốt các giải pháp:
Chính sách tài khoá “mở rộng” ở mức hợp lý và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế, thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát nhập siêu và giá cả thị trường
trong nước, làm tốt công tác truyền thông.
Năm là, xây dựng và thực hiện lộ trình giảm nhập siêu, tiến tới xuất siêu, biện
pháp chủ yếu là tăng xuất khẩu, sản xuất hàng hoá trong nước thay thế hàng nhập khẩu,
phát triển thị trường trong nước.
Sáu là, kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước ở mức dưới 5% GDP; nâng cao hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status