quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp - Pdf 23

Trờng Đại học kinh tế quốc dân

Lơng Hoài Giang
Quản lý chi ngân sách nhà nớc cho đơn vị sự
nghiệp công lập có thu ngành y tế
tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 - nay)
Thực trạng - kinh nghiệm và giải pháp
Hà nội, năm 2013
Trờng Đại học kinh tế quốc dân

Lơng Hoài Giang
Quản lý chi ngân sách nhà nớc cho đơn vị sự
nghiệp công lập có thu ngành y tế
tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 - nay)
Thực trạng - kinh nghiệm và giải pháp
Chuyên ngành: Lịch sử kinh tế
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Lê tố hoa
Hà nội, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Bản luận văn này được hoàn thành là cả quá trình nghiên cứu
nghiêm túc của tôi cùng với sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn:
TS. Lê Tố Hoa. Tôi cam đoan các số liệu, kết quả, trích dẫn trong luận
văn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Học viên
Lương Hoài Giang
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý chi ngân sách nhà nước đối
vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008
đến nay). Thực trạng kinh nghiệm và giải pháp”, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của

1.2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng tới chi NSNN cho ngành y tế 17
1.3. Nội dung của quản lý chi NSNN cho Y tế 20
1.3.1. Chi cho Bộ máy tổ chức 21
1.3.2. Công tác lập dự toán 23
1.3.3. Phân bổ ngân sách nhà nước cho Y tế 26
1.3.4. Công tác kiểm tra giám sát 27
1.4. Sự cần thiết của tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho y tế 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU NGÀNH Y TẾ TỈNH BẮC
NINH GIAI ĐOẠN 2008 - NAY, BÀI HỌC KINH NGHIỆM 31
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hệ thống y tế tỉnh Bắc
Ninh 32
2.1.1. Hệ thống tổ chức bộ máy ngành y tế Bắc Ninh (Sơ đồ hệ thống tổ chức bộ
máy trang 42) 32
2.2. Thực trạng công tác chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công
lập ngành y tế tỉnh Bắc Ninh 36
2.2.1.Tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho đơn vi sự nghiệp công lập ngành y tế
Bắc Ninh 36
2.2.2.Cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế
Bắc Ninh 38
2.2.3.Nguồn kinh phí chi ngân sách nhà nước cho ngành y tế Bắc Ninh 41
2.2.4.Thực trạng quản lý chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế
Bắc Ninh giai đoạn 2008-nay 42
2.2.5.Quản lý chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế theo nhóm mục
chi 47
2.2.6.Quản lý chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế theo chu trình
ngân sách 50
2.2.7.Thực trạng thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm 56
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho đơn vị sự
nghiệp ngành y tế 58

3.4.2. Đổi mới và thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ trên toàn bộ các khâu
của chu trình ngân sách 87
3.4.3. Đảm bảo gắn trách nhiệm của cơ quan được phân cấp với hiệu quả chi
NSNN 89
3.4.4. Tăng cường đầu tư phát triển hệ thống thông tin 90
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Bảng biểu:
Bảng 2.1: Tình hình chi NSNN cho sự nghiệp y tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008-
2012 36
Bảng 2.2: Chi NSNN cho y tế tại một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng 37
Bảng 2.3: Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh 38
Bảng 2.4: Chi sự nghiệp y tế theo nội dung nghiệp vụ ngành y tế 47
Bảng 2.5: Chi NSNN cho sự nghiệp y tế theo 4 nhóm mục chi 48
Bảng 2.6: Định mức phân bổ ngân sách Nhà nước cho y tế theo giường bệnh 51
Bảng 2.7: Định mức phân bổ theo tiêu chí biên chế cho y tế 52
Bảng 2.8: Cơ cấu GDP phân theo ngành y tế 61
Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu nguồn vốn NSNN của y tế Bắc Ninh đến năm 2015 74
Bảng 3.2: Khả năng huy động vốn đầu tư phát triển y tế Bắc Ninh đến năm 2015 75
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh năm 2008 38
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh năm 2012 39
Biểu đồ 2.3: Chi NSNN cho sự nghiệp y tế qua các năm 2006-2011 59
Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống ngành Y tế 21
Sơ đồ 2.2: Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai trước năm 2008 43
Sơ đồ 2.3: Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai đoạn 2009 đến nay 45
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, một
trong những chiến lược quan trọng hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới là

y tế, trong quá trình phân bổ, quản lý và sử dụng còn nhiều kẽ hở dẫn tới lãng phí
và giảm hiệu quả. Những tồn tại trên đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục để
nâng cao hiệu quả và công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho hoạt động y tế.
1.Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
NSNN được sử dụng như một công cụ quan trọng nhất, tập trung nhất để xây
dựng và phát triển nền kinh tế nước ta. Vì lý do không thể cho phép nguồn ngân
sách nhà nước dàn trải và tiếp tục bao cấp cho các đơn vị sự nghiệp công lập như
những thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây. Bài
toán đặt ra cho các đơn vị sự nghiệp công lập là muốn tồn tại và phát triển phải có
cơ chế biện pháp tổ chức thực hiện để huy động các nguồn tài chính đầu tư đồng
thời phải biết sử dụng nó một cách hiệu quả.
Những vấn đề đặt ra để nghiên cứu trong luận văn này sẽ cố gắng đóng góp
một lời giải làm sáng tỏ phần nào những vấn đề lý luận và thực tiễn về chi NSNN
cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
nhằm làm rõ vai trò NSNN trong việc thực hiện chính sách tài chính để phát triển
đơn vị sự nghiệp công lập có thu của ngành y tế Bắc Ninh.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, chỉ rõ những kết quả,
hạn chế, nguyên nhân để rút ra một số bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho việc đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao công tác chi NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập
nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh nói riêng
Một là: Luận giải về các phương diện lí luận và thực tiễn các vấn đề có liên
quan đến đơn vị sự nghiệp công lập và việc chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công
lập có thu ngành y tế.
Hai là: Đánh giá phân tích thực trạng, tồn tại, các nguyên nhân về chi NSNN
cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh trong những năm vừa
qua, những kinh nghiệm ở một số tỉnh. Trên cơ sở đó để làm rõ sự cần thiết phải đổi
2
mới và hoàn thiện việc chi NSNN cho đơn vị SN công lập ngành y tế Bắc Ninh
trong giai đoạn hiện nay.

công lập có thu ngành y tế tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 đến nay). Thực trạng
kinh nghiệm và giải pháp” được nghiên cứu là không trùng lắp với các công trình
khoa học đã được công bố.
6. Đóng góp dự kiến về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống những vấn đề lí luận chung về đơn vị sự nghiệp
công lập có thu ngành y yế và chi NSNN cho loại hình đơn vị này.
Đánh giá khách quan, khoa học công tác chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp
công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh dưới góc độ thành công, hạn chế và nguyên nhân
Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chi NSNN đối với đơn vị
sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh trong điều kiện hiện nay cũng như trong
chiến lược phát triển toàn tỉnh đến năm 2020 Bắc Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp
7. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của Luận văn
Luận văn hệ thống hoá làm rõ những vấn đề lí luận về đơn vị sự nghiệp công
lập, chi NSNN và chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế, cùng với
việc phân tích tình hình thực trạng công tác chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp
công lập ngành y tế Bắc Ninh và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác
quản lý chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế trong tỉnh.
8. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về NSNN, Chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp có
thu ngành y tế
Chương 2: Thực trạng chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu
ngành y tế của tỉnh Bắc Ninh từ 2008 đến nay, bài học kinh nghiệm
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả chi
NSNN chođơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế tỉnh Bắc Ninh
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC,
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ

nguồn thu cho NSNN đồng thời doanh nghiệp được Nhà nước trợ cấp, đầu tư, tài
trợ (nếu có), được hưởng các lợi ích gián tiếp khác (cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạo
nguồn nhân lực…) do Nhà nước chủ trì mang lại. Các hộ gia đình, dân cư xã hội và
các đoàn thể, tổ chức phi lợi nhuận có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước và được
Nhà nước tài trợ hoặc cấp kinh phí (trợ cấp gia đình, trợ cấp thất nghiệp, kinh phí
hoạt động…), được Nhà nước đảm bảo về quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng, bảo
đảm xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và phúc lợi công cộng khác…
Quỹ NSNN luôn được phân chia thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn trước khi đưa
vào sử dụng, chủ thể sử dụng các quỹ này là những đơn vị sử dụng NSNN được
quyền sử dụng Ngân sách theo chức năng, nhiệm vụ và các quy định về Ngân sách
do Nhà nước ban hành. Việc phân phối NSNN thành các quỹ nhỏ với mục đích
khác nhau chính là quá trình sử dụng NSNN nhằm thực hiện chức năng của Nhà
nước, không trực tiếp chi dùng từ quỹ tiền tệ tập trung.
Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả
trực tiếp là chủ yếu. Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở chỗ không phải
mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại
bằng các khoản chi của NSNN. Điều này được quyết định bởi các chức năng tổng
hợp về kinh tế - xã hội của Nhà nước. Đặc điểm này phân biệt các khoản chi NSNN
với các khoản tín dụng.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm cơ bản về chi NSNN
6
Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm
đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Như vậy có thể hiểu chi NSNN là các khoản chi tiêu của các cơ quan Nhà
nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách để duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước
và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận. Quy mô, cơ
cấu chi NSNN như thế nào là tuỳ thuộc vào từng Nhà nước và mục tiêu phát triển
của quốc gia trong từng thời kỳ.
Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ
NSNN thể hiện:

tâm, giúp đỡ. Đó là các khoản trợ cấp cho người già, người tàn tật, trẻ mồ côi,
người lao động chưa có việc làm, nhân dân các vùng thiên tai, địch họa, cho thương
binh, gia đình liệt sĩ
Chi cho quản lý hành chính: là những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của
các cơ quan quản lý thuộc chính quyền các cấp, quốc hội, Hội đồng nhân dân, viện
kiểm soát nhân dân, toà án nhân dân, chi về ngoại giao
Chi cho An ninh và quốc phòng: là những khoản chi dành cho các lực lượng
vũ trang và công tác bảo vệ trị an trong nước.
2. Căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội, chi NSNN được phân thành:
Chi tích lũy: bao gồm các khoản chi xây dựng cơ bản, chi cấp vốn lưu động
cho các doanh nghiệp Nhà nước, chi dự trữ.
Chi tiêu dùng: Chi tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với chi tích
lũy bao gồm: chi quản lý hành chính, chi sự nghiệp, chi bù giá và chi khác
3. Căn cứ vào yếu tố thời hạn tác động của các khoản chi, chi Ngân sách Nhà
nước được phân thành 3 nhóm:
8
Chi thường xuyên: Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn, bao gồm:
chi lương và các khoản có tính chất tiền lương, cho bổ sung quỹ hưu trí, chi công vụ
phí, chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho nghiệp vụ và cho sửa chữa thường
xuyên, chi trợ cấp, bù giá, chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước, chi cho quỹ dự
trữ thường xuyên, dự bị phí.
Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài, bao gồm:
chi đầu tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các doanh nghiệp
Nhà nước hoặc các địa phương, chi dự trữ cho mục đích đầu tư, chi viện trợ, đầu tư
cho nước ngoài
Chi trả khác: bao gồm, chi cho vay (cho vay các tổ chức Nhà nước, cho vay
nước ngoài ) và trả nợ gốc (trả nợ trong nước, trả nợ ngoài nước)
Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chi NSNN được phân loại
dựa vào tiêu thức mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, phân thành 2 nhóm
lớn là chi tích lũy và chi tiêu dùng. Việc phân loại này đã tạo điều kiện thuận lợi

nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang
tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao. Các khoản chi NSNN
đều là các khoản cấp phát mang tính không hoàn trả trực tiếp.
Chi NSNN thường liên quan đến phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm mới,
thu nhập, giá cả và lạm phát…
Nhiệm vụ chi NSNN bao gồm:
Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với
chức năng quản lý XH của Nhà nước, khoản chi này được phân thành 2 bộ phận:
Một bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển văn
hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân
cư và một bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý KTXH chung của Nhà nước. Bằng
các khoản chi tiêu dùng thường xuyên Nhà nước thể hiện sự quan tâm của mình đến
nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời với các khoản chi
10
này Nhà nước thực hiện chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý, an ninh quốc phòng.
Chi tiêu dùng thường xuyên gồm các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã
hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học, công nghệ và môi trường, các sự
nghiệp khác; các hoạt động sự nghiệp kinh tế; quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội;
hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị xã
hội; trợ giá theo chính sách của Nhà nước, các chương trình quốc gia; hỗ trợ bảo
hiểm xã hội, trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ cho các tổ chức
chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi đầu tư phát triển: Một trong các chức năng quan trọng của Nhà nước là
chức năng tổ chức kinh tế. Chức năng này trong cơ chế thị trường của chúng ta hiện
nay được thể hiện bằng vai trò của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Ngân sách Nhà nước với các vai trò của nó được coi là một công cụ quan
trọng trong việc thực hiện chức năng nói trên của Nhà nước. Chi đầu tư phát triển là
những khoản chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng
gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi

Ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng. Phát triển cân đối giữa các vùng, các
địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của Ngân sách cấp dưới; Trường hợp cơ
quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện
nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ Ngân sách cấp
trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó.
1.2. Nội dung, đặc điểm và nguyên tắc chi NSNN đối với ngành y tế.
1.2.1.Nội dung chi NSNN đối với ngành y tế
Khái niệm: Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được hiểu là sự thể
hiện quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, từ một bộ phận quỹ tiền tệ tập trung
của Nhà nước nhằm duy trì, phát triển sự nghiệp Y tế theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp; Hay đó là khoản chi để duy trì sự tồn tại và hoạt động của hệ thống Y
tế từ Trung ương xuống cơ sở nhằm thực hiện chính sách bảo vệ và chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng.
12
Nội dung: Chi NSNN cho sự nghiệp Y tế có nhiều nội dung chi tiết khác
nhau và được phân ra dưới một số tiêu thức chủ yếu sau:
Theo chức năng ngành y tế
Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp Y tế gồm: Chi phòng bệnh, chi chữa bệnh,
chi đào tạo, chi nghiên cứu khoa học y Dược, chi quản lý hành chính và chi khác.
Tác dụng của việc phân loại này là nhằm phục vụ cho việc phân tích đánh giá
tình hình sử dụng vốn NSNN cho chuyên môn nghiệp vụ của ngành Y tế như thế
nào, từ đó đánh giá được mức độ chi cho chuyên môn nghiệp vụ đã hợp lý chưa để
có sự điều chỉnh phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội.
Theo tính chất các khoản chi
Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp Y tế gồm:
Chi Đầu tư như: Chi xây lắp, chi thiết bị, chi khác về đầu tư
Chi thường xuyên như : Chi lương cho cán bộ nhân viên Y tế và đội ngũ bác
sĩ, chi bù lỗ bù giá, chi công tác phí, chi hội nghị phí, công vụ phí, chi đào tạo và
chi khác.
Tác dụng của cách phân loại theo tính chất các khoản chi là có thể quản lý

Chi thông tin liên lạc (gồm điện thoại, fax, tuyên truyền, ấn phẩm truyền thông );
Chi công tác phí (tiền vé máy bay, tàu xe, phụ cấp công tác phí, thuê phòng ngủ,
khoán công tác phí và công tác phí khác); Chi hội nghi phí (gồm tài liệu, bồi dưỡng
giảng viên, thuê phòng ngủ, thuê hội trường, chi bù tiền ăn và các chi phí khác).
Nhóm 3: Chi nghiệp vụ chuyên môn.
Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác khám chữa
bệnh. Khoản chi này bao gồm: Chi cho vật tư dùng cho chuyên môn, thiết bị chuyên
dụng, in ấn chỉ, trang phục, bảo hộ lao động, sách, tài liệu, mua súc vật dùng cho hoạt
động chuyên môn, thanh toán hợp đồng với bên ngoài, thuốc khám và điều trị
Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản.
14
Như mua ô tô, đồ gỗ, mây tre, máy tính, máy điều hoà nhiệt độ, các tài sản cố
định có độ bền cao , sữa chữa ô tô, xe chuyên dụng, đường điện, cấp thoát nước
Đây là nhóm chi không thể thiếu được của toàn ngành y tế. Hàng năm, do sự
xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho hoạt động y tế, đòi hỏi phải có kinh phí
để đầu tư mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại và từng bước hiện đại hoá trang
thiết bị ngành Y tế ở những đơn vị Y tế được Nhà nước bao cấp. Chính nhờ nhóm
chi này đã góp phần nâng cao năng lực hiện có của tài sản cố định, nâng cao chất
lượng của các bệnh viện, phòng khám, qua đó giúp cho hoạt động khám chữa bệnh
ngày càng được nâng cao về chất lượng cũng như về quy mô.
1.2.2. Đặc điểm của chi NSNN cho ngành y tế
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi thường xuyên thuộc lĩnh vực văn
xã, nhưng so với các khoản chi thường xuyên khác, chi NSNN cho sự nghiệp y tế
có những nét riêng biệt :
Thứ nhất, chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi vừa mang tính chất tiêu
dùng hiện tại, vừa mang tính chất tích luỹ đặc biệt.
Xét về hình thức bên ngoài và theo từng niên độ Ngân sách thì đây là khoản
chi mang tính tiêu dùng xã hội, nhằm thoả mãn nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ của nhân dân, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội ở mỗi năm đó.
Song khoản chi này gián tiếp tác động đến việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội,

toán để trên cơ sở đó có thể lên cân đối chung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều
hành Ngân sách, hạn chế được tính tuỳ tiện về nguyên tắc ở các đơn vị thụ hưởng
Ngân sách, phát huy được tính chủ động về điều hành Ngân sách và tăng cường công
tác quản lý Ngân sách của đơn vị.
Nguyên tắc thứ hai : Chi tiêu phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả.
Tiết kiệm là tiền đề để đạt được hiệu qủa. Hiệu quả ở đây phải gắn với mục
tiêu của các khoản chi và mức chi phí cần thiết tối thiểu để đạt được mục tiêu đó.
16
Sở dĩ có nguyên tắc này là vì tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc chủ đạo của mọi
hoạt động kinh tế, tài chính nói chung và hoạt động chi thường xuyên nói riêng, bởi
chúng ta luôn phải đối mặt với một thực tế là nguồn lực thì khan hiếm mà nhu cầu
là vô hạn. Mặt khác, do các khoản chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế diễn
ra trong phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp. Nhu cầu chi từ Ngân sách Nhà nước
luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu chỉ có hạn,
cho nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các
khoản chi từ Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế.
Nguyên tắc thứ ba : Kiểm soát chi qua Kho bạc.
Mọi khoản chi đều phải chi trực tiếp qua Kho bạc bởi vì Kho bạc Nhà nước là
nơi quản lý quỹ của NSNN, do đó, Kho bạc Nhà nước vừa có quyền, vừa có trách
nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là
khoản chi thường xuyên; Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một khoản chi thường
xuyên nên phải quán triệt nguyên tắc này.Trong thực tiễn, chi NSNN trực tiếp qua
Kho bạc tạo điều kiện cho Kho bạc Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hơn các khoản chi
của Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế, đảm bảo NSNN được sử dụng đúng
mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
Đứng trên giác độ cơ quan tài chính, thì cơ quan tài chính các cấp phải có trách
nhiệm phối hợp với Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng kinh phí
của các đơn vị dự toán, có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo hạn mức
kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng kinh phí Ngân sách, kiểm tra việc sử dụng kinh
phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi của các đơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status