1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI ĐẬU KHẮC TÀI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIẾN ĐỔI LƯỢNG MƯA VÀ
MÙA MƯA
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 1961 – 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ Chuyên ngành: Địa lý tự nhiên
Mã số: 06.44.70
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TS NUYỄN TRỌNG HIỆU
1.1. Khái quát về đặc điểm mƣa Việt nam…………………………
10
1.1.1. Lƣợng mƣa và mùa mƣa ở Việt Nam…………………………
10
1.1.1.1. Lượng mưa……………………………………………………
10
1.1.1.2. Mùa mưa……………………………………………………
13
1.1.2. Các nhân tố chính ảnh hƣởng đến lƣợng mƣa và mùa mƣa ở
Việt Nam…………………………………………………………………
14
1.1.2.1. Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình……………………………
14
1.1.2.2. Bức xạ mặt trời………………………………………………
15
1.1.2.3. Hoàn lưu khí quyển…………………………………………
15
1.2. Chuỗi thời gian và tính chất biến đổi của nó…………………
17
1.2.1. Chuỗi thời gian và cơ cấu chuỗi thời gian…………………
17
1.2.2. Các tính chất biến đổi của chuỗi thời gian…………………
18
1.2.2.1. Biến đổi ngẫu nhiên…………………………………………
18
1.2.2.2. Biến đổi có chu kỳ……………………………………………
18
1.2.2.3. Biến đổi có xu thế……………………………………………
18
31
2.1.2. Mức độ biến đổi
36
2.1.2.1. Độ lệch tiêu chuẩn và Biến suất
36
2.1.2.2. Biên độ và hệ số biến thiên
40
2.1.3 Tính chất biến đổi của lƣợng mƣa………………………………
43
2.1.3.1. Tính xu thế………………………………………………………
43
2.1.3.2. Tính chu kỳ……………………………………………………
58
2.2. Biến đổi mùa mƣa
65
2.2.1. Biến đổi tháng bắt đầu mùa mƣa……………………………
65
2.2.2. Biến đổi tháng kết thúc mùa mƣa……………………………
68
2.2.3. Biến đổi tháng cao điểm mùa mƣa……………………………….
69
2.2.4. Biến đổi độ dài mùa mƣa…………………………………………
69
2.2.5. Các tháng gián đoạn trong mùa mƣa…………………
69
Chƣơng 3: MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN
ĐỔI LƢỢNG MƢA VÀ MÙA MƢA Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 1961 –
2005
3. Những hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài……………………………
87
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………
88 5
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSH
TB
ĐB
BTB
NTB
TN
NB
IPCC
ĐLTC
XTNĐ
TB
ĐB
ĐBSH
BTB
NTB
TN
NB
Đồng bằng sông Hồng
Tây Bắc
Đông Bắc
Bắc Trung Bộ
Nam Trung Bộ
của các trạm
Phân bố mùa mưa trên các trạm nghiên cứu thời kỳ
1961 – 2005
Tần số chuẩn sai dương (n+) và tần số chuẩn sai âm (n-)
của lượng mưa tháng ít nhất, lượng mưa tháng lớn nhất và
5
8
12
14 24
6
Bảng 2.2a
Bảng 2.2b
Bảng 2.2c
Bảng 2.2d
Bảng 2.2e
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
2005
Biên độ và hệ số biến thiên của lượng mưa năm thời kỳ
1961 – 2005 và trong các thập kỷ
Hệ số tương quan hạng (r
s
) và hệ số kiểm nghiệm xu thế
(u) của lượng mưa năm theo phương pháp
Spearman
Hệ số tương quan hạng (r
s
) và hệ số kiểm nghiệm xu thế
(u) của lượng mưa tháng cao điểm theo phương pháp
Spearman
Phương trình xu thế của lượng mưa
năm
Phương trình xu thế của lượng mưa tháng lớn
nhất
Hệ số phổ của lượng mưa năm thời kỳ 1961 – 2005
Hệ số phổ của lượng mưa tháng cao điểm thời kỳ 1961
– 2005
25
26
27
28
29
32
34
35
37
Một số trận lũ lớn ở nước ta trong thời kỳ 1961 –
2005
Một số đợt hạn lớn ở nước ta trong thời kỳ 1961 –
2005
81 DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢN ĐỒ
Thứ tự
Tên hình
Trang
Hình 1.
Hình 1.1
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Hệ thống trạm khí tượng nghiên cứu
Bản đồ lượng mưa trung bình năm của Việt Nam
Bản đồ Biến suất lượng mưa năm
Đồ thị của phương trình xu thế và các đường biểu diễn
lượng mưa
năm
Đồ thị của phương trình xu thế và các dường biểu diễn
lượng mưa tháng cao
điểm
9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Lịch sử phát triển của tự nhiên đã chứng kiến nhiều biến động bắt đầu từ
sự biến đổi của một thành phần cơ bản nào đó (Địa chất, Địa hình, Khí
hậu v.v ). Một trong số các thành phần tự nhiên dễ bị biến đổi và có tác động
mạnh đến sự sống ở trên bề mặt trái đất là khí hậu.
Biến đổi khí hậu không xẩy ra một cách cô lập, mà liên quan chặt chẽ với
các nhân tố khác của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Sự biến đổi
khí hậu có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên hoặc theo các quy luật khác nhau
và do các nguyên nhân khác nhau.
Quá trình phát triển của tự nhiên là sự xen kẽ, nối tiếp nhau của các thời kì
nóng ấm (gián băng) và lạnh giá (băng hà). Hiện nay, chúng ta đang sống trong
khoảng thời gian ấm áp sau khi ra khỏi thời kỳ băng hà lạnh lẽo cách đây 8000 –
10.000 năm. Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu giữa các thời kì băng hà và
gián băng là do biến đổi của ba yếu tố: thành phần khí quyển, quỹ đạo Trái đất
quanh Mặt trời và trong vũ trụ, vị trí của các lục địa và các đại dương.
Tuy nhiên, vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay là sự nóng dần lên của
khí hậu Trái đất trong khoảng thời gian gần đây. Theo kết quả nghiên cứu của
các nhà khoa học cho thấy trong khoảng một trăm năm qua, nhiệt độ trung bình
toàn cầu đã tăng lên từ 0,3- 0,6
o
C, tốc độ nóng lên của khí hậu toàn cầu đang có
xu thế ngày càng nhanh, liên quan chủ yếu đến sự gia tăng lượng phát thải khí
nhà kính do các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của con người.
Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
(IPCC) thì biến đổi khí hậu toàn cầu không những đã và đang làm cho khí hậu trên
những kết luận giống nhau.
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về biến đổi
khí hậu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, trên phạm vi toàn cầu
đáng chú ý nhất là các nghiên cứu của IPCC. Theo tính toán của Tổ chức này thì
trong những thập niên gần đây, nhiệt độ tăng trung bình 0,3
o
C/thập niên, mưa trở
11
nên thất thường hơn cả về lượng cũng như về cường độ, ở nhiều vùng lượng
mưa tăng lên, trong khi ở những vùng khác lượng mưa giảm xuống. Toàn bộ
mặt đệm, cả mặt đất và đại dương đều nóng lên, đặc biệt là ở các vĩ độ cao dẫn
đến hiện tượng tan băng các vùng cực, làm nước biển dâng. Tần suất và cường
độ hiện tượng ENSO tăng đáng kể, gây lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và
á nhiệt đới. [18, 23]
Các nghiên cứu và tính toán mới nhất của IPCC về biến đổi khí hậu trong
tương lai cho thấy, đến năm 2100 nhiệt độ bề mặt trái đất có thể tăng từ 1,5 đến
4,5
o
C, nhiệt độ ở trên đất liền tăng nhanh hơn trên biển, nhiệt độ bắc bán cầu
tăng nhiều hơn nam bán cầu, lượng mưa tăng không đều, mưa nhiều hơn ở các
vùng cực, mực nước biển có thể dâng lên từ 30 đến 90 cm. [24]
Các kết quả nghiên cứu của IPCC ở khu vực Đông Nam Á cho thấy đây là
một khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo dự báo
của IPCC thì đến năm 2030 nhiệt độ khu vực Đông Nam Á sẽ tăng từ 1-2
o
C,
mưa và độ ẩm tăng vào mùa hè và ít thay đổi vào mùa đông. [1]
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu về biến đổi khí hậu nói chung và biến đổi
lượng mưa và mùa mưa nói riêng bắt đầu được quan tâm vào những năm 1990
thời kỳ 1961 - 2005 và bước đầu tìm hiểu về nguyên nhân, hậu quả của sự biến
đổi đó.
b. Nhiệm vụ
Với mục đích đề ra trên đây thì nhiệm vụ của đề tài là:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp tính toán các đặc trưng thống kê
về biến đổi lượng mưa, mùa mưa và phân tích một số đặc trưng đó ở Việt Nam
trong thời kỳ 1961 - 2005.
- Xác định những tính chất, mức độ biến đổi lượng mưa và mùa mưa của
nước ta trong thời gian 45 năm qua.
- Xác định có hay không có tính chu kỳ và tính xu thế của chế độ mưa
trên các vùng của nước ta trong những năm qua.
- Nghiên cứu một số nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi lượng
mưa và mùa mưa, đưa ra những nhận định bước đầu về ảnh hưởng của
biến đổi đó đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta trong
những năm qua.
13
c. Giới hạn của đề tài
c
1
. Về nội dung:
+ Nghiên cứu biến đổi lượng mưa: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu tình hình
biến đổi, mức độ biến đổi và tính chất biến đổi của lượng mưa ở nước ta trong
thời kỳ 1961 – 2005 thông qua tính toán, phân tích và đánh giá các đặc trưng
cơ bản của biến đổi lượng mưa.
+ Nghiên cứu biến đổi mùa mưa: Đề tài nghiên cứu sự biến đổi của các
đặc trưng mùa mưa như: tháng bắt đầu, tháng cao điểm, tháng kết thúc mùa
mưa, các tháng gián đoạn trong mùa mưa và độ dài mùa mưa.
c
2
o
54’
676
1961- 2005
Lai Châu
Lai Châu
22
o
03’
103
o
09’
244
1961- 2005
Sa Pa
Lào Cai
ĐB
22
o
20’
103
o
50’
1570
1961- 2005
Bắc Quang
Hà Giang
22
Hà Nội
21
o
01’
105
o
51’
5
1961- 2005
Vinh
Nghệ An
BTB
18
o
48’
105
o
40’
6
1961- 2005
Tương Dương
Nghệ An
19
o
17’
104
o
26’
97
o
00’
800
1961- 2005
14
Buôn Ma Thuột
Đắk Lắk
12
o
41’
108
o
03’
490
1961- 2005
Đà Lạt
Lâm Đông
11
o
57’
108
o
16’
1513
1961- 2005
Tân Sơn Hòa
TP. Hồ Chí Minh
NB
10
. Về thời gian:
Đề tài nghiên cứu sự biến đổi lượng mưa trong khoảng thời gian 45 năm
(từ 1961 - 2005). Đây là khoảng thời gian cập nhật nhất và đủ để thấy được sự
biến đổi của lượng mưa và mùa mưa trên các vùng của Việt Nam.
4. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu.
Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng các quan
điểm và phương pháp nghiên cứu sau đây:
a. Quan điểm nghiên cứu:
a
1.
Quan điểm hệ thống
Đây là quan điểm quan trọng trong phương pháp luận nghiên cứu địa lý
nói chung và trong nghiên cứu khí hậu nói riêng.
Trong tự nhiên, các thành phần đều có mối quan hệ biện chứng với nhau
tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, được gọi là thể tổng hợp lãnh thổ tự
nhiên. Các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên là các hệ thống mở (còn gọi là hệ
thống lãnh thổ tự nhiên). Chúng có mối quan hệ qua lại với các hệ thống bên
cạnh và có quan hệ với hệ thống kinh tế - xã hội trong khu vực đó tạo thành hệ
thống tự nhiên – xã hội lớn hơn. Mỗi hệ thống lãnh thổ tự nhiên lại bao gồm
nhiều thành phần tự nhiên hợp thành, mỗi thành phần tự nhiên lại là một hệ
thống, bao gồm các bộ phận nội tại của nó hợp thành, chúng luôn vận động và
tác động lẫn nhau.
Khi nghiên cứu sự biến đổi lượng mưa và mùa mưa chúng tôi đã xem xét
nó trong mối quan hệ biện chứng với các thành phần tự nhiên - xã hội nói
chung và với các yếu tố khí hậu khác nói riêng.
a
2
. Quan điểm lãnh thổ.
Bất kỳ một yếu tố địa lý nào đều gắn với một lãnh thổ cụ thể, chính
vì thế quá trình nghiên cứu chúng không thể tách rời lãnh thổ đó. Trong
pháp này giúp cho ta có đầy đủ, chính xác số liệu trong một khoảng thời
gian dài. Do điều kiện và thời gian nghiên cứu có hạn, nên chúng tôi không
thể trực tiếp quan trắc mà phải sử dụng số liệu quan trắc của các trạm khí
tượng quốc gia.
b
2
. Phương pháp xử lý số liệu thống kê
16
Trên cơ sở số liệu mưa của 17 trạm khí tương tiêu biểu trong cả nước,
chúng tôi đã dùng phương pháp xử lý số liệu thống kê để tính toán và phân
tích các đặc trưng cơ bản của lượng mưa như: trung bình số học, phương sai,
độ lệch tiêu chuẩn, biến suất, biên độ và hệ số biến thiên, hệ số kiểm nghiệm
xu thế theo phương pháp Spearman, giá trị trung bình trượt của lượng mưa
năm và lượng mưa tháng cao điểm ở các trạm, lập phương trình xu thế cho
lượng mưa năm và lượng mưa tháng cao điểm ở các trạm, trị số tự tương quan
và trị số phổ phương sai. Từ đó rút ra những nhận xét, kết luận về tình hình,
mức độ và tính chất biến đổi lượng mưa trong thời kỳ 1961 – 2005 ở nước ta.
b
3
. Phương pháp bản đồ và biểu đồ.
Đây là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu Địa lý, đản đồ vừa là nguồn tư
liệu thông tin cho quá trình nghiên cứu vừa là phương tiện truyền tải tốt nhất, trực
quan nhất các kết quả nghiên cứu của đề tài. Phương pháp bản đồ sử dụng sự hỗ
trợ của hệ thống thông tin địa lý (GIS). Ngoài phương pháp bản đồ chúng tôi còn
tiến hành xây dựng các biểu đồ (đồ thị) thể hiện sự biến đổi lượng mưa ở từng
trạm nghiên cứu.
5. Cơ sở số liệu
Số liệu sử dụng trong đề tài được lấy từ số liệu quan trắc của 17 trạm khí
tượng tiêu biểu cho 7 vùng khí hậu trong cả nước. Ở mỗi vùng chúng tôi chọn
Đà Nẵng
Phan Thiết
Khô hạn, ít mưa
Tây Nguyên
Buôn Ma Thuột
Plâycu
Phía Bắc
Đà Lạt
Vùng cao, phía Nam
Nam Bộ
Tân Sơn Hòa
Côn Đảo
Vùng đảo
Cần Thơ
Phía Nam (ĐBSCL)
Các trạm tiêu biểu là những trạm thể hiện được đặc điểm khí hậu chung của
vùng, trạm bổ sung là những trạm thể hiện một đặc điểm cá biệt nào đó của vùng.
Số trạm bổ sung trong mỗi vùng phụ thuộc vào mức độ phức tạp của đặc điểm mưa
ở vùng đó.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn dài 90 trang, có 3 bản đồ, 34 biểu đồ, 28 bảng số liệu và 4 phụ
lục. Luận văn được chia làm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần
kết luận.
Phần nội dung được chia làm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu biến đổi lượng
mưa và mùa mưa ở Việt Nam
Trong chương này chúng tôi trình bày một số đặc điểm chung của chế độ
mưa ở Việt Nam và những yếu tố chi phối đến đặc điểm mưa, cơ sở khoa học
và phương pháp đánh giá mức độ biến đổi của lượng mưa và mùa mưa.
nước (có lượng mưa trung bình năm trên 2400 mm) có tới 7 trung tâm nằm ở
phía Bắc đèo Hải Vân, chỉ có 4 trung tâm nằm ở phía Nam đèo Hải Vân [12] .
Ở phía Bắc các trung tâm mưa lớn là: Sìn Hồ (Lai Châu, 2400 - 3600 mm ),
Sa Pa (Lào Cai, 2400 - 3600), Bắc Quang (Hà Giang, 3000 - 5500 mm), Móng Cái
(Quảng Ninh, 2400 - 2800 mm), Tam Đảo (Vĩnh Phúc 2400 - 2800 mm), Kỳ Anh
(Hà Tĩnh, 2400 - 2800 mm), Nam Đông (Thừa Thiên - Huế, 2400 - 2800 mm).
19
Các trung tâm mưa lớn ở phía Nam là: Trà My (Quảng Nam, 1400 - 4000
mm), Ba Tơ (Quảng Nam, 2400 - 3600 mm), Bảo Lộc (Lâm Đồng, 2400 - 3200
mm), Phú Quốc (Kiên Giang, 2400 - 3200 mm).
Tuy nhiên, bên cạnh đó trong số 8 trung tâm có lượng mưa thấp nhất của cả
nước (có lượng mưa trung bình năm dưới 1400 mm), phía Bắc cũng chiếm tới 5
trung tâm, còn 3 trung tâm thuộc về phía Nam. Lượng mưa thấp nhất ở phía Bắc
là Mường Xén (Nghệ An, 800 - 1300 mm/năm), nơi có lượng mưa thấp nhất ở
phía Nam là Nha Hố (Ninh Thuận, 700 - 1400 mm).[12]
Phân bố lượng mưa trung bình thời kỳ 1961 – 2005 trên các trạm tiêu biểu
nghiên cứu trong đề tài này được thể hiện trong bảng 1.1, hình 1.1
Những nơi có lượng mưa lớn nhất là những vùng có địa hình đón gió như:
vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ, một phần của Nam
Trung Bộ, các đỉnh núi cao của dãy Trường Sơn. Những nơi có lượng mưa thấp
nhất là vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ và những vùng địa hình thấp được
bao bọc bởi các núi cao xung quanh hoặc ở những sườn khuất gió.
Cá biệt, một số nơi, có những năm lượng mưa rất lớn (trên 6000 mm) như ở
Bắc Quang (Hà Giang) đạt 6305,7 mm (năm 1968); 6465,7 mm (năm 1971);
6184,2 mm (năm 1999) nhưng cũng có những nơi có năm lượng mưa rất thấp, dưới
700 mm như ở Phan Thiết (Bình thuận) đạt 650.4 mm (năm 1977)
Tương quan lượng mưa giữa các đảo gần bờ và vùng đất liền cũng có sự khác
nhau giữa khu vực phía Bắc và khu vực phía Nam. Ở phía Bắc hầu hết các đảo
gần bờ có lượng mưa ít hơn vùng đất liền lân cận, còn ở miền Nam lượng mưa của
263.8
262.8
135.2
67.2
33.6
17.0
1415.0
Lai Châu
29.3
36.5
61.4
132.6
259.3
441.2
463.7
374.6
149.0
91.4
49.4
27.1
2115.0
ĐB
Lạng Sơn
31.5
36.6
49.3
92.8
165.1
195.7
229.3
405.9
154.0
89.2
4831.0
ĐBSH
Hà Nội
21.1
26.7
46.5
96.4
183.9
265.1
264.0
298.8
230.1
145.1
67.7
20.0
1664.9
Bạch Long Vĩ
20.9
22.2
26.5
48.9
95.3
129.8
125.4
250.5
213.0
103.5
12.6
1271.9
NTB
Đà Nẵng
78.5
26.2
21.8
35.5
85.0
90.7
85.1
135.4
308.4
629.2
423.6
219.3
2129.7
Phan Thiết
0.7
0.2
6.4
29.6
136.2
147.3
167.7
166.9
191.0
151.6
56.1
18.8
Đà Lạt
7.6
19.6
61.9
163.9
205.7
203.0
232.7
242.4
278.6
242.5
91.5
35.5
1779.8
NB
Tân Sơn Hòa
11.2
3.8
15.5
49.3
201.7
294.5
293.4
275.4
294.5
288.1
141.1
38.4
1903.8
Côn Đảo
1961 - 2005 rất khác nhau. Sự khác nhau này không chỉ diễn ra giữa các vùng mà
ngay cả trong từng vùng sự chênh lệch lượng mưa giữa các khu vực, giữa các trạm
cũng rất rõ. Có những vùng sự chênh lệch lượng mưa giữa các trạm có thể lên tới
hàng nghìn mm trong một năm. Cá biệt ở Đông Bắc sự chênh lệch đó có thể lên tới
2000 – 3000 mm, thậm chí lên tới 3535,1 mm như ở trạm Lạng Sơn và trạm Bắc
Quang.
1.1.1.2. Mùa mưa
Chế độ mưa của Việt Nam không những có sự phân hóa về mặt không
gian mà còn có sự phân hóa giữa các tháng trong năm. Hầu hết các vùng đều
có một mùa mưa và một mùa khô.
Có nhiều phương pháp xác định mùa mưa khác nhau. Mùa mưa có thể
được xác định theo lượng mưa tháng hay lượng mưa tuần cho mỗi một năm và
đúc kết trong nhiều năm. Cũng có tác giả xác định mùa mưa thông qua trị số
trung bình trượt của lượng mưa ngày hàng năm. Tuy nhiên, phương pháp xác
định mùa mưa phổ biến nhất hiện nay trong các tài liệu của nhiều tác giả là
xác định mùa mưa dựa vào trị số trung bình nhiều năm của lượng mưa tháng.
Theo phương pháp này thì mùa mưa được xác định là chuỗi các tháng liên tục
có lượng mưa trung bình tháng từ 100 mm trở lên [13].
Kết quả xác định mùa mưa theo phương pháp này trên các trạm tiêu biểu
cho các vùng khí hậu ở Việt Nam được trình bày trong bảng 1.2
Trên phạm vi cả nước, mùa khô và mùa mưa không khớp nhau giữa các
vùng. Tùy vào vị trí, đặc điểm địa hình của từng vùng mà độ dài ngắn của
mùa mưa ở các vùng khác nhau, mùa mưa trên các vùng ở nước ta thường kéo
dài từ 6 – 7 tháng, những nơi có mùa mưa dưới 6 tháng là Đà Nẵng, đảo Bạch
Long Vĩ, những nơi có mùa mưa kéo dài trên 7 tháng là các trung tâm mưa
lớn ở miền núi phía Bắc. Mùa mưa nhìn chung là từ tháng IV hoặc tháng V
22
đến tháng IX, tháng X hoặc tháng XI. Riêng khu vực Trung Trung Bộ mùa
mưa có thể bắt đầu muộn hơn và kéo dài tới tháng XII.
Sa Pa
III
VIII
XI
9
Bắc Quang
IV
VI
XI
8
ĐBSH
Hà Nội
V
VIII
X
6
Bạch Long Vĩ
VI
VIII
X
5
BTB
Vinh
V
X
XI
7
Tƣơng Dƣơng
V
IX
NB
Tân Sơn Hòa
V
IX
XI
7
Côn Đảo
V
X
XI
7
Cần Thơ
V
X
XI
7
Ở Việt Nam, phân phối mưa giữa mùa mưa và mùa khô rất không đồng đều,
lượng mưa vào mùa khô rất thấp, lượng mưa trong năm chủ yếu tập trung vào
mùa mưa, lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 80 - 85% lượng mưa năm.
Chênh lệch lượng mưa giữa các tháng khá lớn, có nơi lượng mưa tháng trước
còn thấp dưới 100 mm nhưng lượng mưa tháng sau đã trên 200 mm như: Bắc
Quang, Plâycu, Buôn Ma Thuột. Ngược lại có những nơi lượng mưa tháng trước
còn cao trên 200 mm nhưng tháng sau đã xuống dưới 100 mm như ở Đà Lạt, Đà
Nẵng, Buôn Ma Thuột, Tân Sơn Hoà (xem bảng 1.1).
1.1.2. Các nhân tố chính ảnh hƣởng đến lƣợng mƣa và mùa mƣa ở Việt Nam
1.1.2.1. Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình.
23
lớn, cán cân bức xạ dương quanh năm. Bức xạ tổng cộng của nước ta khoảng từ
110 – 160 kcal/cm
2
/năm và cao dần từ Bắc vào Nam, cá biệt có nơi có năm lên
tới 230 – 250 kcal/cm
2
/năm, cao nhất là vùng Tây Nguyên và cực Nam Trung
Bộ. Lượng bức xạ lớn làm cho nhiệt độ mặt đất và lớp không khí sát đất tăng
cao, tạo ra các dòng thăng mạnh mẽ hình thành các đám mây đối lưu gây ra
24
mưa rào, mưa dông với lượng mưa rất lớn vào mùa hè và một số tháng đầu
hoặc cuối mùa đông, ảnh hưởng sâu sắc đến chế độ mưa của Việt Nam.
1.1.2.3. Hoàn lưu khí quyển.
Hoàn lưu khí quyển là một trong những nhân tố quan trọng hình thành khí
hậu. Thành phần cơ bản của hoàn lưu bao gồm các trung tâm khí áp, các khối
không khí có các đặc tính vật lý khác nhau và các dòng gió có hướng thịnh hành
khác nhau tạo nên các điều kiện khí hậu khác nhau giữa các vùng và giữa các
mùa trong năm, hình thành cơ chế hoàn lưu gió mùa trên nhiều vùng khí hậu.
Việt Nam cũng nằm trong vùng có hoàn lưu gió mùa với sự chi phối của
các khối không khí và dòng gió thịnh hành trong các mùa sau đây.
- Gió mùa Đông Bắc: Gió mùa Đông Bắc bắt nguồn từ cao áp cực đới lục
địa Xibia và hoạt động vào mùa đông theo từng đợt bắt đầu từ tháng IX và kết
thúc vào khoảng tháng III năm sau. Khi cao áp cực đới lục địa hoạt động
mạnh, tạo nên các đợt gió mùa Đông Bắc mang theo khối không khí lạnh từ
phía Bắc xuống. Vào đầu mùa đông gió mùa Đông Bắc thường đi qua lãnh thổ
Trung Quốc nên khi tới Việt Nam thường làm cho các khu vực ĐB và ĐBSH
có khí hậu lạnh khô. Ở vùng duyên hải Trung Bộ, do ảnh hưởng của dãy
Trường Sơn nên gió mùa Đông Bắc thường gây mưa với lượng mưa tương đối
lớn vào đầu mùa đông. Vào giữa và cuối mùa đông, khi hướng dịch chuyển
1.2. Chuỗi thời gian và tính chất biến đổi của nó.
1.2.1. Chuỗi thời gian và cơ cấu chuỗi thời gian.
Trong thống kê khí hậu nói chung và thống kê lượng mưa nói riêng, chuỗi thời
gian bao gồm chuỗi biến trình các tháng trong năm và chuỗi biến trình nhiều năm.
Chuỗi biến trình lượng mưa các tháng trong năm bao gồm các trị số
lượng mưa của 12 tháng, bắt đầu từ lượng mưa tháng I, tháng II, và kết thúc là
lượng mưa tháng XII. Trong chuỗi này, mỗi giá trị tiêu biểu cho lượng mưa
của một tháng và khoảng cách thời gian giữa hai giá trị kế tiếp nhau là một
tháng. Chuỗi biến trình lượng mưa các tháng trong năm thường được dùng để
nghiên cứu biến đổi tuần hoàn của lượng mưa, chủ yếu là mùa mưa
Chuỗi biến trình lượng mưa nhiều năm bao gồm các giá trị lượng mưa của
từng tháng trong năm (I, II, XII) hoặc của lượng mưa năm trong nhiều năm, bắt
đầu từ các giá trị lượng mưa tháng hoặc của năm đầu tiên cho đến các giá trị lượng