Tiểu luận an sinh xã hội thực trạng và một số giải pháp về công tác chăm sóc, giúp đỡ người khuyết tật tại thị xã sơn tây - Pdf 23

Tiểu luận an sinh xã hội Trang
1
Lời nói đầu
Người khuyết tật là một bộ phận không nhỏ của dân số thế giới, trong
bất kỳ một xã hội nào dù phát triển hay kém phát triển, dù phải hứng chịu
chiến tranh hay không phải trải qua chiến tranh cũng tồn tại một bộ phận
người khuyết tật. Việt nam có tỷ lệ người khuyết tật khá cao so với tỷ lệ chung
của toàn thế giới, chiếm 6,4% dân số cả nước tương đương khoảng 5,3 triệu
dân. Người khuyết tật luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta cùng
một số tổ chức quốc tế. Nhà nước ta đã ban hành nhiều hệ thống văn bản
cùng với việc thực hiện các công ước Quốc tế về người khuyết tật nhằm giúp
đỡ họ có cuộc sống tốt, tạo cơ hội giúp họ hoà nhập với cộng đồng và phát
triển như những người bình thường khác.
Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là một đô thị nhỏ nằm cách trung
tâm thủ đô Hà Nội 42km về phía tây bắc, nền kinh tế đang trên đà phát triển
với dân số khoảng 128.000 người trong đó người khuyết tật là 2.104 người.
Trong những năm qua thực hiện theo Pháp lệnh người tàn tật, các văn bản
hướng dẫn thi hành của Chính Phủ, các bộ ngành có liên quan và UBND
thành phố Hà Nội thị xã Sơn Tây đã thực hiện nhiều chính sách và hoạt động
chăm sóc người khuyết tật, đồng thời thị xã cũng đề ra nhiều chính sách và
hoạt động dành cho người khuyết tật để họ hoà nhập với cuộc sống như
người bình thường. Từ thực trạng đó, em xin đề cập vấn đề "Thực trạng và
một số giải pháp về công tác chăm sóc, giúp đỡ người khuyết tật tại thị xã
Sơn Tây" làm đề tài cho tiểu luận An sinh xã hội nhằm đi vào tìm hiểu một
phần nhỏ trong các chính sách, hoạt động chăm sóc người khuyết tật của thị
xã - một trong những chủ trương lớn của thị xã Sơn Tây. Cho em gửi lời cảm
ơn chân thành đến giảng viên, thạc sỹ Phạm Hồng Trang và phòng Lao động-
Thương binh và Xã hội thị xã Sơn Tây đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình em
trong quá trình viết bài. Dù đã cố gắng, song bài viết không tránh khỏi nhiều
thiếu sót, em rất mong nhận được sự cảm thông và giúp đỡ của các thầy, cô
và phòng Lao động- Thương binh & Xã hội thị xã Sơn Tây.

dục, dạy nghề và tạo việc làm, tiếp cận các công trình công cộng, hoạt động
văn hoá thể thao và trợ giúp khẩn cấp mà từ trước đến nay hay gọi là cứu trợ
khẩn cấp cho những người không may gặp rủi ro đột xuất bởi thiên tai.
- Chính sách và các chương trình trợ giúp người nghèo.
2. Khái niệm người tàn tật:
Theo Liên Hiệp Quốc: Người tàn tật có nghĩa là bất cứ những người
nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
3
những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hộ do
sự thiếu hụt (bẩm sinh hay không bẩm sinh) trong những khả năng về thể chất
hay tâm thần của họ. (Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật do Đại hội đồng
Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 09/12/1975).
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Người có khuyết tật là người
mà triển vọng tìm giữ một việc làm thích hợp, cũng như triển vọng tiến bộ về
mặt nghề nghiệp đều bị giảm sút một cách rõ rệt do một sự khiếm khuyết về
thể chất hoặc tinh thần được công nhận rõ ràng. (Công ước số 159 về tái thích
ứng nghề nghiệp và việc làm của người khuyết tật, 1983).
Ở Việt Nam, khái niệm người tàn tật được quy định tại Điều 1 Pháp
lệnh về Người tàn tật ngày 30/7/1998: Người tàn tật theo quy định của Pháp
lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết
một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng thể hiện dưới những dạng tật
khác nghau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt,
học tập gặp nhiều khó khăn.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Người khuyết tật ngày 17/06/2010 có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011 : Người khuyết tật là người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được
biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.

3.6. Phân biệt đối xử người khuyết tật là hành vi xa lánh, từ chối,
ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì lý
do khuyết tật của người đó.
3.7. Cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho lao động là người
khuyết tật bao gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo quy
định của Luật Doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập theo quy định của
pháp luật có sử dụng từ 35% lao động là người khuyết tật trở lên.
3.8. Sống độc lập là việc người khuyết tật được tự chủ quyết định
những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của chính bản thân, thông qua sự trợ
giúp của Nhà nước, hỗ trợ của gia đình và xã hội.
3.9. Tiếp cận là việc bảo đảm cho người khuyết tật sử dụng một cách
bình đẳng như những người khác các công trình công cộng, phương tiện giao
thông, công nghệ thông tin, các dịch vụ văn hoá, thể thao, du lịch và các dịch
vụ khác để có thể hoà nhập đầy đủ vào đời sống xã hội.
3.10. Tổ chức của người khuyết tật là các tổ chức xã hội tự nguyện do
người khuyết tật thành lập, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của người
khuyết tật.
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
5
3.11. Tổ chức vì người khuyết tật là các tổ chức xã hội do cơ quan, tổ
chức, cá nhân thành lập thực hiện các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật thực
hiện các quyền, nghĩa vụ của họ.
4. Các dạng khuyết tật bao gồm :
4.1. Khuyết tật vận động;
4.2. Khuyết tật nghe nói;
4.3. Khuyết tật nhìn;
4.4. Khuyết tật trí tuệ;
4.5. Khuyết tật tâm thần;

tiếp khắc phục khó khăn hoà nhập cộng đồng xã hội. So sánh với Công ước
quốc tế về quyền của người khuyết tật và pháp luật của một số nước cho thấy
các quy định pháp luật về người khuyết tật của Việt Nam về cơ bản đã có sự
tương đồng.
Đến ngày 17/06/2010 Quốc hội đã thông qua Luật Người khuyết tật,
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011 cho đến nay Chính phủ
chưa ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện.
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
7
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, GIÚP ĐỠ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY
I. Đặc điểm tình hình của thị xã Sơn Tây.
Thị xã Sơn Tây là một đô thị nhỏ nằm cách Thủ đô Hà Nội khoảng
45km về phía tây- bắc bao gồm 15 đơn vị hành chính xã, phường có diện tích
tự nhiên là 113,46 héc ta, dân số ( năm 2009) khoảng 128.000 người, mật độ
dân số là 1.128 người/ha. Tuy nhiên thị xã có số lượng người khuyết tật khá
lớn, vào khoảng 2.104 người chiếm khoảng 1,64 % dân số trong đó khuyết tật
là thương binh, bệnh binh là 251 chiếm 11,9%, người khuyết tật thuộc gia
đình hộ nghèo là 1.105 người chiếm 52,5 và 748 người thuộc gia đình cận
nghèo, chiếm 35,6%. Phân theo dạng khuyết tật thì khuyết tật nhóm vận động
là 860 người chiếm 40,87%, khuyết tật nhóm thần kinh là 841 người chiếm
39,97% còn lại 404 người là các dạng tật khác như khiếm thị, khiếm thính, dị
dạng chiếm 19,16% số người khuyết tật của thị xã Sơn Tây. Cuộc sống của họ
gặp rất nhiều khó khăn, họ rất khó tìm việc làm phù hợp với mình. Công tác
chăm sóc, giúp đỡ người khuyết tật không phải là một việc làm đơn thuần như
giúp đỡ họ về ăn, mặc, ở, đi lại,… mà còn là quá trình giúp đỡ nghười khuyết
tật hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, sinh hoạt, học tập và phát triển như

CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính Phủ đều
được hưởng đúng, đủ và kịp thời trợ cấp theo quy định của Nhà nước. Trợ cấp
hàng tháng của đối tượng được Phòng Lao động Thương binh Xã hội chi trả
cùng kỳ với trợ cấp hàng tháng của đối tượng chính sách người có công vào
từ ngày 05 đến ngày 10 hàng tháng. Chính sách trợ giúp xã hội đã đã góp
phần quan trọng trong việc ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người
khuyết tật.
Ngoài ra còn có 251 người khuyết tật là thương binh, người hưởng
chính sách như thương binh, bệnh binh, quân nhân bị tai nạn lao động, quân
nhân bị bệnh nghề nghiệp, 358 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ
bị nhiễm chất độc hóa học và khoảng 109 người hưởng trợ cấp tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.
Tuy vậy, còn một bộ phận người khuyết tật nặng chưa được hưởng
chính sách trợ giúp xã hội do quy định của Pháp lệnh là đối tượng thuộc diện
hưởng chính sách phải là người khuyết tật nặng không có nguồn thu nhập và
không nơi nương tựa; mức trợ cấp xã hội hàng tháng còn quá thấp so với mặt
bằng mức sống dân cư (mới chỉ bằng 60% chuẩn nghèo của Hà Nội), chưa
bảo đảm được những nhu cầu sống tối thiểu của người khuyết tật.
2. Chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
9
Theo kết quả cấp thẻ bảo hiểm y tế thì đến nay Bảo hiểm xã hội thị xã
đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 851 người khuyết tật đạt 100% người khuyết tật
thuộc đối tượng được cấp bảo hiểm y tế. Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế được thực
hiện nhanh chóng, kịp thời và đầy đủ cho người khuyết tật đã tạo điều kiện
thuận lợi cho người khuyết tật có thể khám chữa bệnh. Nếu có sự sai lệch về
họ tên hay tuổi của thẻ bảo hiểm y tế so với chứng minh thư nhân dân của
người khuyết tật thì Phòng Lao động Thương binh Xã hội đều phối hợp với

Tiểu luận an sinh xã hội Trang
10
chính sách hỗ trợ người khuyết tật đến trường như miễn giảm tiền học phí cho
người khuyết tật nghèo, hỗ trợ về vay ưu đãi cho người khuyết tật đi học các
trường đào tạo chuyên nghiệp, cùng với các đoàn thể nhân dân tuyên truyền
vận động nhân dân nơi cư trú, gia đình tạo điều kiện thuận lợi để người
khuyết tật đến trường, tuyên truyền, lên án các hành vi phân biệt đối xử, kỳ
thị đối với người khuyết tật. Kết quả đạt được là đến cuối năm 2010 toàn thị
xã đã có 956 người khuyết tật hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, 186 người
đã tốt nghiệp trung học phổ thông, 25 người tốt ngiệp trung học chuyên
nghiệp và 16 người tốt nghiệp cao đẳng, đại học. Hiện này hầu hết những
người khuyết tật trong độ tuổi đều được đến trường và được tạo những điều
kiện thuận lợi để theo học các ngành, nghề phù hợp với khả năng, sức khoẻ
của họ. Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng để người khuyết tật có thể hoà
nhập với cuộc sống cộng đồng. Ngoài việc giúp người khuyết tật tiếp cận với
hệ thống giáo dục quốc dân- giáo dục hoà nhập, thì phòng Lao động- Thương
binh và Xã hội còn phối hợp với các gia đình và 02 cơ quan là Trung tâm Kỹ
thuật Chỉnh hình và phục hồi chức năng và Trung tâm phục hồi chức năng
Việt- Hàn đưa một số em khuyết tật vào các lớp giáo dục đặc biệt. Đây là
những trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập được trang bị những thiết
bị, có nội dung, chương trình và phương thức giáo dục phù hợp với các đặc
điểm, hoàn cảnh của người khuyết tật. Các lớp học này bước đầu đã thu được
những kết quả khả quan.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác trợ giúp người khuyết tật
tiếp cận với những dịch vụ giáo dục trên địa bàn vẫn còn những hạn chế. Tính
đến thời điểm hiện nay, thị xã vẫn còn gần 500 người khuyết tật mù chữ. Tuy
nhiên số người này chủ yếu là đối tượng trung và cao tuổi. Điều này là một
khó khăn lớn trong việc giúp họ tiếp cận với giáo dục.
4. Học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật
4.1. Học nghề của người khuyết tật

làm người khuyết tật, cả thị xã hiện có gần10 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất,
kinh doanh có người khuyết tật đang làm việc, tạo việc làm ổn định cho 250
lao động là người khuyết tật, khoảng 65% số hộ có người khuyết tật được
hưởng các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, như: miễn giảm thuế, hỗ trợ
tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đất sản xuất. Cụ thể thông qua quỹ quốc gia giải quyết
việc làm, phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thị xã phối hợp với Ngân
hàng chính sách Sơn Tây hỗ trợ về vốn vay ưu đãi cho các doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất kinh doanh dạy nghề và nhận người khuyết tật vào làm việc, riêng
trong 3 năm 2008-2010, số vốn ưu đãi hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ sở này
là trên 6 tỉ đồng và số người khuyết tật được nhận vào làm việc trong 3 năm là
gần 325 người, ngoài ra còn một số người khuyết tật được đào tạo nghề
nhưng về nhà tự tạo việc làm. Số vốn hỗ trợ cho các gia đình có người khuyết
tật để tạo việc làm, phát triển kinh tế trong 3 năm vừa qua là gần 1,5 tỉ đồng
với 72 hộ. Ngoài ra thị xã còn tạo điều kiện giúp đỡ về địa điểm, kinh phí cho
hội người mù thị xã hoạt động. Đến nay hầu hết người mù trên địa bàn thị xã
đều tham gia vào hội- một tổ chức của người khuyết tật. Tại đây hội đã dạy
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
12
một số nghề cho những người khuyết tật có nhu cầu như nghề làm tăm che,
chổi chít, xoa bóp, bấm huyệt. Việc giúp đỡ người khuyết tật trong việc tiếp
cận với việc làm đã góp phần to lớn để họ có thu nhập tự đảm bảo cuộc sống,
thấy cuộc sống có ý nghĩa, có niềm tin vàơ cuộc sống và tự tin hoà nhập cộng
đồng.
Bên cạnh những kết quả đạt được như vậy thì vẫn còn những hạn chế
nhất định, đó là hiện trên địa bàn thị xã vẫn còn khoảng 520 người khuyết tật
có khả năng lao động nhưng thiếu hoặc chưa có việc làm. Điều này đặt ra yêu
cầu phải có sự quan tâm giúp đỡ hơn nữa của chính quyền thị xã, cộng đồng
dân cư, gia đình người khuyết tật để tạo ra cơ hội tiếp cận nghề nghiệp và việc

đề xuất như sau:
I. Về chính sách, pháp luật của Nhà nước
Hiện nay đã có Luật Người khuyết tật, do đó Chính Phủ cần ban hành
Nghị định hướng dẫn thực hiện để Luật được đi vào cuộc sống. Những văn bản
này phải nghiêm cấm và lên án mạnh mẽ mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử
với người khuyết tật; cần có những cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hoá
công tác chăm sóc, giúp đỡ người khuyết tật. Những chính sách khuyến khích
này có thể là hỗ trợ về thuế, mặt bằng, vốn để các doanh nghiệp, tổ chức
tham gia tích cực hơn nữa vào công tác giúp đỡ người khuyết tật hoà nhập
cộng đồng cả về văn hoá, thể thao, y tế, giáo dục, nghề nghiệp và việc làm.
Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính Phủ bổ sung
một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/04/2007 của Chính Phủ
đã có hiệu lực thi hành cần được thực hiện đúng, kịp thời đảm bảo quyền lợi
cho đối tượng người khuyết tật theo quy định.
Chính sách hỗ trợ người khuyết tật của Nhà nước phải là một chỉnh thể
đồng bộ thì mới đem lại hiệu quả thiết thực, hy vong trong thời gian tới Chính
phủ, các bộ ngành có liên quan cần có những điều chỉnh, bổ sung kịp thời để
hệ thống chính sách này ngày càng hoàn thiện hơn nữa.
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
14
II. Về chính sách của thị xã Sơn Tây.
1. Chính sách về chăm sóc y tế.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song vẫn không tránh khỏi những sai sót
trong việc cấp thẻ bảo hiểm y tế, do vậy đề nghị cán bộ lao động thương binh
xã hội các xã, phường và Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thị xã,
Bảo hiểm xã hội Sơn Tây cần có sự phối kết hợp đồng bộ, khoa học để việc
cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người khuyết tật được đầy đủ, kịp thời, đúng các
thông tin ghi trên thẻ đảm bảo việc khám chữa bệnh của họ được thuận tiện,

kinh doanh, hộ gia đình nhận dạy nghề và giải quyết việc làm cho người
khuyết tật bước đầu đã phát huy được hiệu quả to lớn, song nó vẫn còn một
bộ phận khá lớn người khuyết tật có khả năng lao động nhưng thiếu hoặc
chưa có việc làm. Từ thực tế đó, chính quyền thị xã Sơn Tây cần tiếp tục có
những chính sách khuyến khích đầu tư và hỗ trợ có hiệu quả cho những doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh dạy nghề và giải quyết việc làm cho người
khuyết tật. Tiếp tục giao phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thị xã phối
hợp với các Hội, đoàn thể và Ngân hàng chính sách xã hội Sơn Tây giúp đỡ
về vốn ưu đãi cũng như mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp cho các hộ gia
đình có người khuyết tật để người khuyết tật có thể tự tạo việc làm phù hợp
với đặc điểm và hoàn cảnh của họ.
5. Chính sách hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận các công trình công
cộng.
Hiện nay, trên địa bàn thị xã Sơn Tây nói riêng và trên cả nước nói
chung mới có rất ít các công trình công cộng hạ tầng cơ sở bảo đảm điều kiện
tiếp cận cho người khuyết tật, nhất là việc tiếp cận các công trình giao thông,
cơ quan hành chính nhà nước, bệnh viện, trường học Nguyên nhân chính là
do nhận thức và quan tâm của xã hội đối với người khuyết tật còn hạn chế,
thiếu chế tài xử phạt và sự giám sát của các cơ quan thực thi pháp luật. Do
vậy để người khuyết tật có cơ hội để thụ hưởng đầy đủ các chính sách hỗ trợ
của nhà nước, trước mắt cần cải tạo, sửa chữa các công trình công cộng theo
hướng đảm bảo điều kiện tiếp cận cho cả người khuyết tật, và tăng cường
công tác quản lý, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
việc thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng các công trình công cộng
đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận.
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
16
Lời kết

4. Các dạng khuyết tật
II. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về người khuyết tật
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, GIÚP ĐỠ
NGƯỜI KHYẾT TẬT TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY
I. Đặc điểm tình hình thị xã Sơn Tây
II. Thực trạng về công tác chăm sóc người khuyết tật trên địa bàn thị xã Sơn
Tây
1. Chăm sóc đời sống cho người khuyết tật
2. Chăm sóc sức khoẻ, chỉnh hình, phục hồi chức năng
3. Học văn hoá đối với người khuyết tật
4. Học nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật
4.1 Học nghề của người khuyết tật
4.2 Việc làm của người khuyết tật
5. Tiếp cận văn hoá, thể thao
CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
I. Về chính sách, pháp luật của Nhà nước
II. Về chính sách của thị xã Sơn Tây
1. Chính sách về chăm sóc y tế
2. Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người khuyết tật
3. Chính sách hỗ trợ về văn hoá, thể thao
4. Chính sách hỗ trợ về học nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6
Tiểu luận an sinh xã hội Trang
18
5. Chính sách hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng
Lời kết
Sinh viên : Đỗ Trọng Minh Khoa Quản trị nhân lực - Lớp
LCĐ4.QL6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status