LỜI MỞ ĐẦU
Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của quá trình phát triển
kinh tế xã hội mà sức khoẻ là một yếu tố quan trọng tạo nên một con người
có ích cho xã hội. Bác Hồ đã từng nói: “ ... giữ gìn sức khoẻ, xây dựng nước
nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần phải có sức khoẻ mới thành công...
Chính phủ Việt Nam cũng có quan điểm rằng con người là yếu tố hàng đầu,
quyết định sự phát triển của đất nước, sức khoẻ là cái gốc để con người
phát triển, là niềm hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình.
Với chức năng bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, ngành y tế giữ vai trò
quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên,
hoạt động y tế chỉ được duy trì và phát triển khi được đầu tư đúng và đủ.
Đầu tư xây dựng các cơ sở y tế, mua sắm trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân
lực ... là những yếu tố cơ bản cho các hoạt động y tế được tiến hành.
Trong những năm qua, đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây, đầu tư đã
góp phần làm cho ngành y tế đạt được những bước tiến bộ được nhân dân
và bạn bè trên thế giới công nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều
tồn tại cần khắc phục.
Sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu về y tế Việt Nam tại Vụ
Lao động- Văn hoá- Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, em đã có những nhận
thức nhất định về y tế Việt Nam. Em xin được đưa ra một số ý kiến của
mình trong khuôn khổ đề tài:
Thực trạng và một số giải pháp về đầu tư cho ngành y tế.
Nội dung bài viết bao gồm:
- Phần 1: Tổng quan về đầu tư trong ngành y tế.
- Phần 2: Thực trạng về đầu tư cho ngành y tế Việt Nam thời kỳ 1991-
2000.
- Phần 3: Một số giải pháp về đầu tư cho ngành y tế.
1
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại bộ môn kinh tế đầu tư cũng
như trong quá trình thực hiện đề tài , em đã nhận được sự giúp đỡ của giáo
viên - Thạc sĩ Từ Quang Phương và các thầy cô giáo trong Bộ môn kinh tế
kiệm, mua lãi suất Chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài sản tài chính
3
không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài
chính của tổ chức, cá nhân người đầu tư. Tuy nhiên, đầu tư tài chính là một
nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
Đầ u tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để
mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh
lệch. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ
làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại,
chuyển giao sở hữu hàng hoá. Đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá
trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy
đầu tư phát triển, tăng thu ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản
xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và cho nền sản xuất xã hội nói chung.
Đầ u tư tài sản vật chất và sức lao động là đầu tư trong đó người có
tiền bỏ ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh
tế, làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là
điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân
trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và
các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị ...
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm các hoạt động sử dụng các
nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả
trong tương lai lớn hơn các nguồn đã sử dụng để đạt được những kết quả
đó.
Như vậy, nếu xét trên phạm vi quốc gia thì chỉ có hoạt động sử dụng
các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn
nhân lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và
nguồn nhân lực sẵn có thuộc phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay phạm trù
đầu tư phát triển.
Tóm lại, đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài
lao động tạo ra của cải, vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nếu
không có sức khoẻ thì không những họ không thể làm việc và cống hiến
cho xã hội mà còn trở thành gánh nặng của xã hội. Trong khi đó, con
người lao động sản xuất và tạo ra của cải vật chất là để phục vụ những nhu
cầu của mình, để nâng cao chất lượng cuộc sống mà một trong những tiêu
chuẩn quan trọng nhất để đánh giá chất lượng cuộc sống đó là sức khoẻ.
5
Như vậy, sức khoẻ vừa là phương tiện, vừa là mục đích của quá trình phát
triển kinh tế, xã hội. Do đó, ngành y tế là một ngành đặc biệt quan trọng vì
nó có chức năng bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Nói cách khác,
ngành y tế vừa tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội vừa
tạo ra kết quả trực tiếp cho quá trình đó.
b/ Vốn đầu tư.
Đối với đầu tư của một quốc gia nói chung, vốn đầu tư được hiểu là
tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, là tiền
tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử
dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo
ra các tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Đối với các nước nghèo, để
phát triển kinh tế, và từ đó thoát khỏi cảnh nghèo thì một vấn đề nan giải
ngay từ đầu là thiếu vố gay gắt và thiếu các điều kiện khác cho sự phát
triển như công nghệ, cơ sở hạ tầng... Do đó trong những bước đi ban đầu,
để tạo ra được cái “hích” đầu tiên cho sự phát triển, để có được tích luỹ ban
đầu từ trong nước, không thể không huy động vốn nước ngoài. Không có
một nước chậm phát triển nào trên con đường phát triển lại không tranh thủ
nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở.
Đối với một quốc gia, vốn đầu tư được hình thành từ hai nguồn
chính, đó là nguồn trong nước và nguồn nước ngoài. Nguồn trong nước bao
gồm: vốn tích luỹ từ ngân sách, vốn tích luỹ từ doanh nghiệp và tiền tiết
kiệm của dân cư. Đây là nguồn vốn quan trọng và khá ổn định, đóng vai trò
trọng yếu trong việc thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
bao gồm hệ thống phòng bệnh như: các viện vệ sinh dịch tễ, các cơ sở y tế
dự phòng và hệ thống chữa bệnh như các bệnh viện, viện điều dưỡng và
các y tế cơ sở. Hệ thống y tế được sắp xếp khoa học, gần gũi với người dân
sẽ tạo điều kiện cho người dân dễ dàng sử dụng các dịch vụ y tế, nâng cao
hiệu quả đầu tư.
Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực là một lĩnh vực đầu tư quan trọng
trong ngành y tế. Đội ngũ cán bộ y tế giỏi về trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, có khả năng tiếp cận với những kỹ thuật y tế hiện đại và có y đức cao là
7
điều kiện tiên quyết đối với kết quả của hoạt động y tế. Nguồn nhân lực y
tế đủ về số lượng, mạnh về chất lượng đang là mục tiêu quan trọng trong
chiến lược phát triển ngành y tế Việt Nam.
Đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế là hoạt động đầu tư nhằm cung
cấp trang thiết bị cho các cơ sở y tế. Trong thời đại hiện nay, khoa học
công nghệ phát triển với một tốc độ chóng mặt và có tác động không nhỏ
đến hoạt động y tế. Nhờ có khoa học công nghệ mà rất nhiều bệnh dịch bị
đẩy lùi, nhiều bệnh trước đây không phát hiện ra hoặc không có khả năng
chữa trị nay đã được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Vì vậy, khi lập kế
hoạch đầu tư cho y tế cần xem xét và giành một phần kinh phí thoả đáng
cho mua sắm trang thiết bị y tế.
Đầu tư thực hiện các chương trình y tế quốc gia là đầu tư của Nhà
nước, lấy kinh phí từ ngân sách Nhà nước (bao gồm cả nguồn viện trợ).
Mục đích của các chương trình y tế quốc gia là tiêu diệt hoặc đẩy lùi các
bệnh dịch lớn, các bệnh lây truyền hoặc bệnh xã hội có ảnh hưởng trên diện
rộng. Đây là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của ngành y tế bởi vì nó có
tác dụng rộng rãi và ảnh hưởng mạnh đến các chỉ số về sức khoẻ của cộng
đồng trong một quốc gia.
Đầu tư nghiên cứu, xây dựng và ban hành các chính sách y tế là việc
đầu tư cho các cơ quan chức năng nhằm nghiên cứu và đưa ra hành lang
pháp lý cho ngành y tế bao gồm các chính sách về biện pháp quản lý trong
hội của một quốc gia. Đối với nền kinh tế xã hội, đầu tư góp phần thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế cũng như của toàn xã hội.Trong một nền kinh
tế, hoạt động đầu tư có thể được coi là việc cung cấp các chất bổ dưỡng cần
thiết cho một cơ thể sống. Nếu không có hoạt động đầu tư, cơ thể ấy sẽ trở
nên què quặt, ốm yếu và không có sức sống.
Vai trò của đầu tư phát triển đối với nền kinh tế được thể hiện trong
các mặt sau đây:
9
Đầ u tư vừa có tác động đến tổng cung, vừa có tác động đến tổng cầu
của nền kinh tế. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường
chiếm khoảng 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế
giới. Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào
hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên làm thúc đẩy
sản lượng của nền kinh tế.
Đầ u tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. Sự tác động không
đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung của
nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều
cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn
định nền kinh tế của mọi quốc gia.
Đầ u tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kết quả
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ phát triển kinh tế
ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15- 25% so với GDP tuỳ
thuộc vào ICOR của mỗi nước.
Từ đó suy ra:
Nếu ICOR không thay đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào
vốn đầu tư.
Đầ u tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kinh nghiệm của
các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để tăng trưởng nhanh là
tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp
việc phát triển ngành y tế. Trong thời gian đầu, ngành y tế tiếp tục được
bao cấp. Tuy nhiên, lúc này cơ chế bao cấp không còn phù hợp và bộc lộ
nhiều hạn chế. Hệ thống y tế nước nhà hoạt động trì trệ; trang thiết bị y tế
nghèo nàn, lạc hậu; các cơ sở y tế hoạt động ỷ lại, chỉ trông chờ vào ngân
sách Nhà nước. Các nhà quản lý y tế không có sự năng động, sáng tạo
trong việc khai thác các nguồn lực kinh tế khác cũng như tìm ra cơ chế sử
dụng kinh phí hợp lý để tăng hiệu quả sử dụng.
Trong Đại hội Đảng VIII (1986), Chính phủ đã đưa ra một chương
trình đổi mới trên mọi mặt của nền kinh tế, trong đó có các chính sách đổi
mới trong ngành y tế: y tế tư nhân ra đời, hoạt động tư đầu tư được chú
11
trọng, các chế độ về viện phí và bảo hiểm y tế được thực hiện. Hàng năm,
Nhà nước đã giành một phần ngân sách để đầu tư cho y tế, mở rộng và
nâng cao chất lượng của hệ thống y tế, đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện
đại, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ y tế cho phù hợp với thời kỳ mới
về cả chuyên môn và trình độ quản lý; thực hiện các chương trình y tế quốc
gia... Bên cạnh đó khu vực kinh tế tư nhân cũng bắt đầu tham gia đầu tư
phát triển hệ hệ thống y tế và góp phần không nhỏ trong sự phát triển
chung của ngành y tế. Nhờ có sự tăng cường đầu tư mà hệ thống y tế nước
ta cho đến nay đã có những bước tiến bộ đáng ghi nhận. Các cơ sở y tế
trong cả nước được mở rộng, nâng cấp và hoạt động có hiệu quả hơn. Cán
bộ y tế nâng cao được trình độ chuyên môn và trình độ quản lý. Một số kỹ
thuật y tế hiện đại được áp dụng. Hệ thống cung cấp thuốc hoạt động tốt,
đưa thuốc kịp thời tới tay người tiêu dùng. Các bệnh dịch giảm hẳn, một số
bệnh trước đây phải bó tay nay đã được phát hiện và chữa trị kịp thời. Vì
vậy, các chỉ số về sức khoẻ của nhân dân Việt Nam được cải thiện và được
đánh giá cao trong khu vực và trên thế giới. Ví dụ như các chỉ số về tỷ lệ
sinh, tỷ lệ chết, tăng dân số tự nhiên, chết trẻ em, chết mẹ của một số nước
được đưa ra trong bảng 1.
Bảng 1 - Dân số, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tăng tự nhiên, chết trẻ em,
đương hoặc thậm chí cao hơn trong khu vực.
Vì có những chính sách đầu tư hợp lý mà tình hình bệnh tật của Việt
Nam có những bước chuyển biến theo hướng tích cực. Nhiều bệnh trước
đây là nỗi kinh hoàng của người dân đến nay đã hầu như được đẩy lùi. Sáu
bệnh truyền nhiễm ở trẻ em là bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt được
tiêm phòng đầy đủ. Các bệnh xã hội như lao, phong, tâm thần... cũng được
quan tâm đầu tư và có những kết quả đáng ghi nhận. Thông qua một số số
liệu về tình hình giảm bệnh tật từ năm 1990 đến năm 1998 tại bảng 2 dưới
đây chúng ta thấy được tác động của đầu tư từ phía Nhà nước cho công tác
chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Bảng 2 - Tình hình giảm bệnh tật 1990 - 1998 / 100000 dân
STT Tên bệnh Năm 1990 Năm 1998 Giảm 1990-1998
(lần)
Mắc
bệnh
Chết Mắc
Bệnh
Chết Mắc
Bệnh
Chết
1
2
3
4
5
6
7
8
Bạch hầu
Ho gà
0,02
0,004
0,21
0,01
0,001
2,96
.....
0.23
3,34
3
tăng
1,46
còn 2ca
.......
.......
2,5
4,5
tới 0
tăng
tới 0
tới 0
........
.......
30
(Nguồn: Niên giám thống kê y tế 1998- Bộ Y tế).
Theo số liệu bảng 2, trừ bệnh uốn ván có xu hướng tăng, còn lại hầu
hết các bệnh như Bạch hầu, ho gà, sởi, bại liệt, phong, lao... đều có xu
hướng giảm. Đặc biệt các bệnh như ho gà, sởi, bại liệt giảm tiến tới 0. Điều
này chứng tỏ đầu tư cho y tế đã đạt được những kết quả khả quan.
13
14
ngành y tế. Tỷ lệ nguồn thu từ ngân sách Nhà nước / tổng ngân sách y tế
cao nhằm bảo đảm tính ổn định và công bằng trong ngành y tế, bảo vệ lợi
ích người bệnh, đặc biệt là người nghèo. Các nguồn thu khác như bảo hiểm
y tế, viện phí, viện trợ cũng giữ vai khá quan trọng. Trong tương lai, cần
tận dụng các nguồn thu này cùng với việc tăng cường đầu tư từ phía Nhà
nước và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư trong ngành y tế.
Ng ành y tế Việt Nam mang đậm bản chất của một nền y tế xã hội chủ
nghĩa và bản chất nhân văn. Các cơ sở y tế công có nhiều sự chuyển biến
lớn về nguồn thu, về phương thức hoạt động song không chạy theo lợi
nhuận. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển ngành y
tế là bảo đảm tính công bằng. Điều này có nghĩa là bảo đảm cho khả năng
tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của nhóm người giàu và nghèo có
khoảng cách không lớn. Để thực hiện điều này, Nhà nước duy trì một hệ
thống y tế rộng khắp với các trạm y tế cung cấp dịch vụ y tế miễn phí hoặc
có mức phí phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Đối với người
nghèo và các đối tượng xã hội như thương binh, người có công với cách
mạng, trẻ em cơ nhỡ, người già cô đơn..., Nhà nước có chế độ miễn giảm
viện phí hoặc cung cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Đây là những hoạt động
mang tính nhân văn sâu sắc của nền y tế xã hội chủ nghĩa.
T ương quan cung - cầu trong thị trường y tế và thị trường thương mại
có sự khác biệt. Trong thị trường thương mại, nhu cầu không phải cầu, cầu
là nhu cầu được thể hiện trong sức mua (nhu cầu này được đáp ứng tuỳ
thuộc vào khả năng chi trả và vào sở thích của mỗi đối tượng). Trong thị
trường y tế nhu cầu về khám chữa bệnh của mỗi con người là những nhu
cầu cụ thể, nhu cầu này chính là nhu cầu của thị trường y tế. Những nhu
cầu này không do chủ quan bản thân con người quyết định được khi mắc
bệnh, không phụ thuộc vào khả năng chi trả cũng không phụ thuộc và sở
thích của người tiêu dùng dịch vụ y tế. Họ không thể lựa chọn và quyết định
được dịch vụ mình cần và càng không thể mặc cả khi cần phải sử dụng dịch
a/ Vai trò
16
Con người là vốn quý của xã hội, sức khoẻ là vốn quý của con người,
sức khoẻ là yếu tố quan trọng trong mọi hoạt động của con người. Như Bác
Hồ đã từng nói”... giữ gìn sức khoẻ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới,
việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công”. Vì vậy, công tác chăm sóc
sức khoẻ là một hoạt động hết sức cần thiết trong bất kỳ một quốc gia nào.
Hoạt động y tế góp phần đẩy lùi bệnh tật, nâng cao sức khoẻ cán bộ và
nhân dân từ đó nâng cao năng suất, hiệu quả lao động của những người
này. Sức khoẻ tốt giúp con người nhanh chóng tiếp thu được kiến thức
trong học tập và đạt được những kỹ năng cần thiết trong hoạt động sản
xuất. Hoạt động chăm sóc sức khoẻ không những chỉ có tác động trong
hiện tại mà còn trong cả tương lai. Đầu tư chăm sóc sức khoẻ cũng giống
như đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho tương lai vì nó ảnh hưởng
lâu dài.
Chăm sóc sức khoẻ vừa là động lực vừa là mục tiêu của quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ khi con người có đủ sức khoẻ mới có khả
năng lao động và sáng tạo ra của cải, vật chất, nâng cao đời sống cho mọi
người trong xã hội. Với sức khoẻ không tốt con người không những không
có khả năng lao động giúp ích cho sự phát triển của nền kinh tế mà còn trở
thành gánh nặng của xã hội. Một trong những thước đo về sự phát triển của
một cộng đồng là sức khoẻ. Xã hội càng phát triển thì con người càng quan
tâm đến sức khoẻ và sức khoẻ được chăm sóc nhiều hơn. Sức khoẻ tốt, đời
sống vật chất và tinh thần đầy đủ cho nhân dân chính là mục tiêu phấn đấu
của các quốc gia trên thế giới.
Ngoài ra, phát triển y tế góp phần nâng cao các chỉ số về sức khoẻ,
tuổi thọ... góp phần nâng cao vị trí của quốc gia trong khu vực và trên thế
giới. Ở Việt Nam, mặc dù kinh tế còn chậm phát triển, tổng sản phẩm quốc
nội cũng như thu nhập quốc dân / đầu người còn thấp song do chú trọng
đầu tư cho giáo dục và y tế, Việt Nam đã đạt được một số chỉ tiêu phát triển
số
triển
vọng
sống
Chỉ
số
giáo
dục
Chỉ
số
GDP
Chỉ
số
HDI
Singapore 77,1 91,0 72 20,98 6,072 0,87 0,85 0,99 0,900
Thái Lan 69,5 93,5 53 7,104 5,906 0,74 0,80 0,96 0,833
Malaysia 71,2 83,0 62 8,865 5,945 0,77 0,76 0,97 0,832
Sri Lanka 72,2 90,1 66 3,277 3,277 0,79 0,82 0,53 0,711
Philipines 67,0 94,4 78 2,681 2,681 0,70 0,89 0,43 0,672
Indonesia 63,5 83,2 62 3,740 3,740 0,64 0,76 0,60 0,668
China 68,9 80,9 58 2,604 2,604 0,73 0,73 0,41 0,626
Việt Nam 66,0 93,0 55 1,208 1,208 0,68 0,80 0,18 0,557
India 61,3 50,2 56 1,348 1,348 0,60 0,53 0,21 0,446
Cambodia 52,4 35,0 58 1,084 1,084 0,46 0,43 0,16 0,348
(Nguồn: Niên giám thống kê y tế 1998)
Nhìn vào biểu trên ta thấy, nếu chỉ xét các chỉ tiêu về GDP như
GDP/ đầu người, GDP điều chỉnh hay chỉ số GDP thì Việt Nam có các chỉ
số này rất thấp, chỉ cao hơn Cambodia. Tuy nhiên, Việt Nam lại có những
chỉ số khác như triển vọng sống trẻ sơ sinh, chỉ số triển vọng sống và các
chỉ số về giáo dục khá cao, xấp xỉ một số nước có thu nhập cao hơn Việt
Phát triển y học cổ truyền dân tộc, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện
đại. Chấn chỉnh tổ chức quản lý ngành dược, đổi mới công nghệ, mở rộng
mặt hàng và nâng cao chất lượng sản phẩm của các cơ sở sản xuất và cung
ứng thuốc và trang thiết bị y tế.
Tăng chi ngân sách và huy động nhiều nguồn vốn khác để đầu tư xây
dựng và nâng cấp các cơ sở y tế. Đến năm 2000, tất cả các xã trong nước
đều có trạm y tế, trong đó 40% có bác sĩ, tất cả các trạm y tế có sản, nhi
hoặc nữ hộ sinh, các thôn có y tá. Tất cả các huyện đều có trung tâm y tế,
bệnh viện tuyến tỉnh đều có đủ thiết bị chủ yếu cho các khoa, xây dựng các
trung tâm y tế chuyên sâu.
19
Cải thiện chính sách thù lao đối với cán bộ y tế, nhất là cán bộ y tế
cơ sở và miền núi. Đa dạng hoá các loại hình bảo hiểm y tế. Xoá bỏ phân
biệt giữa khám bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế và theo chế độ thu phí dịch
vụ. Có chính sách giải quyết viện phí cho người nghèo và nhân dân các
vùng xa xôi hẻo lánh.
Cụ thể, nhiệm vụ chủ yếu của ngành y tế bao gồm:
- Phòng chống dịch bệnh.
- Công tác khám chữa bệnh.
- Công tác chăm sóc sức khoẻ Bà mẹ và trẻ em.
- Công tác dược.
- Thực hiện các chương trình y tế quốc gia.
*) Ph òng chống dịch bệnh .
Ngành y tế tập trung giả quyết các dịch bệnh có khả năng xuất hiện
hoặc đã xuất hiện như: dịch tả, sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não Nhật
Bản ... không để các dịch lớn xảy ra. Duy trì kết quả phòng bệnh từng đợt,
khi có bệnh dịch xảy ra phải huy động mọi biện pháp dập tắt.
Chủ động và tích cực phòng chống thiên tai địch hoạ, hạn chế thiệt
hại về người. Tiếp tục duy trì các cơ sở thuốc và trang thiết bị để hỗ trợ cho
các địa phương bị thiên tai đặc biệt là trong các mùa mưa lũ.
tỷ lệ thất bại trong các biện pháp phòng tránh thai. Đầu tư cho đào tạo nữ
hộ sinh cho các xã, phấn đấu giảm xã trắng về nữ hộ sinh.
*) C ông tác dược
21
Quản lý hành nghề dược của các tổ chức, cá nhân trên toàn quốc,
thực hiện chính sách quốc gia về thuốc.
Qui hoạch và tổ chức lại ngành công nghiệp dược trên cơ sở sắp xếp
hệ thống sản xuất, lưu thông thuốc theo chỉ thị 500 TTg của Thủ tướng
Chính phủ.
Đầu tư chiều sâu cho phát triển công nghiệp dược và trang thiết bị y
tế, xây dựng các dự án vay vốn trong nước và nước ngoài.
Tăng cường công tác bảo đảm chất lượng thuốc, phát triển công tác
nuôi trồng và chế biến dược liệu, chấn chỉnh công tác xuất nhập khẩu, đẩy
mạnh hợp tác quốc tế về dược.
*) Th ực hiện các mục tiêu của chương trình y tế quốc gia
Mục tiêu của chương trình y tế quốc gia là thanh toán các bệnh xã
hội như: bệnh Lao, bệnh Suy dinh dưỡng ở trẻ em, bệnh Phong, bệnh Sốt
rét, bệnh Sốt xuất huyết... nhiệm vụ của ngành y tế trong thực hiện các
chương trình quốc gia là:
Kiểm tra giám sát dịch tễ học, đề ra các nhiệm vụ ưu tiên cần giải
quyết trong từng năm, chú trọng thực hiện các mục tiêu dã cam kết với
cộng đồng Quốc tế.
Giám sát dịch tễ sốt rét, đặc biệt chú ý đến các vùng trọng điểm có
diễn biến bệnh dịch phức tạp, vùng có tỷ lệ mắc và chết cao, biến động dân
cư lớn để phát hiện nguy cơ lớn để phát hiện nơi có nguy cơ dịch xảy ra
nhất trong mùa mưa.
Xây dựng và củng cố hệ thống kiểm định xét nghiệm tại tuyến tỉnh,
kiểm tra chặt chẽ công tác thực hiện điều trị, mở rộng màng lưới chống lao
tới các vùng sâu, vùng xa, cung cấp đầy đủ thuốc chống lao, cốc đờm, lam
kính và hoá chất xét nghiệm cho hoạt động chống lao.
truyền và bệnh xã hội được Nhà nước quan tâm đầu tư và thu được những
23
kết quả tốt. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, ngành
y tế Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn, bệnh tật vẫn diễn biến
một cách phức tạp, các bệnh nguy hiểm như lao, ung thư, lây nhiễm
HIV/AIDS ngày càng tăng. Bên cạnh đó, hệ thống y tế vẫn còn nghèo nàn,
lạc hậu, trình độ kỹ thuật còn thấp kém so với các nước trong khu vực và
trên thế giới.
Xuất phát từ vai trò cũng như thực trạng ngành y tế kể trên, ta có thể
thấy được sự cần thiết phải đầu tư cho ngành y tế nhằm hiện đại hoá ngành
y tế và phát huy được vai trò của ngành y tế trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển xã hội.
24
PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ CHO NGÀNH Y TẾ
THỜI KỲ 1991-2000
I. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO NGÀNH Y TẾ
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, Y tế nước ta
được bao cấp hoàn toàn từ nguồn Ngân sách nhà nước, điều này được thể
hiện trong hầu hết mọi mặt: xây dựng, sửa chữa các trang thiết bị y tế từ
trung ương đến địa phương, mua sắm các trang thiết bị y tế từ đơn giản đến
hiện đại, đào tạo nhân lực y tế, người dân khi đến các cơ sở y tế đã không
phải trả tiền khám chữa bệnh, tiền thuốc mà trong thời gian nằm điều trị
còn được nuôi ăn.
Trong điều kiện đất nước tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc,
phương thức quản lý trên là hoàn toàn phù hợp, đóng vai trò quan trọng
trong việc thiết lập và củng cố hệ thống y tế nước ta, góp phần bảo vệ và
chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam, thể
hiện tính nhân đạo của nền y tế xã hội chủ nghĩa. Nhưng sau khi kết thúc