Nghiên cứu các điều kiện chế tạo hạt kim loại đồng kích thước nano và hệ keo nano đồng - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU CÁC ĐIỀU KIỆN CHẾ TẠO
HẠT KIM LOẠI ĐỒNG KÍCH THƯỚC
NANO VÀ HỆ KEO NANO ĐỒNG
Chuyên ngành: Hoá Lý Thuyết và Hoá Lý
Mã số: 60 44 31
LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÁ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG PHONG

TP. HỒ CHÍ MINH – Năm 2011
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
1

LỜI CẢM ƠN

Con xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Phương Phong đã tận tình hướng
dẫn con hoàn thành luận văn thạc sĩ này. Con rất biết ơn cô đã tận tâm chỉ dẫn, định
hướng, thông cảm và giúp đỡ con tiến bộ trong suốt thời gian vừa qua.

Cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thoa, PTS Hà Thúc Huy, TS Hoàng
Ngọc Cường cùng các thầy cô khác của bộ môn Hoá học Lý Thuyết và Hoá Lý đã
trang bị cho tôi một vốn kiến thức cơ bản, làm nền cho những hiểu biết sau này.


Trong những thập niên gần đây, nano đồng đã thể hiện được vị trí riêng của
mình và xuất hiện ngày càng nhiều trong các lĩnh vực. Đầu tiên là lĩnh vực bôi
trơn, nano đồng được sử dụng kết hợp với các loại dầu nhờn truyền thống tạo nên
một chất bôi trơn có khả năng dẫn nhiệt cao. Trong lĩnh vực xúc tác, nano đồng
đóng vai trò chất xúc tác cho phản ứng phân huỷ CCl
4
, phản ứng Ullmann (phản
ứng tổng hợp các hợp chất biaryl và polyaryl)…. Trong lĩnh vực vật liệu, nano đồng
góp phần làm tăng độ dẫn điện của nhựa epoxy, làm cầu nối trong các vi mạch điện
tử …. Trong lĩnh vực sinh học nano đồng được dùng làm chất diệt khuẩn E.Coli,
Staphylococcus aureus…. Trong lĩnh vực y học, hệ keo nano đồng cũng được xem
loại một loại thuốc sát trùng và thuốc điều trị ung thư đầy hứa hẹn.
Nano đồng có thể điều chế qua các phương pháp như: phương pháp polyol
với sự hỗ trợ vi sóng, phương pháp khử hoá học, phương pháp quang hoá, phương
pháp điện hoá, phương pháp lắng đọng hơi vật lý hoặc hoá học, phương pháp nhiệt
phân , phương pháp siêu âm nhiệt (sonothermal), phương pháp siêu âm hoá học
(sonochemical)…. Trong số đó, phương pháp polyol với sự hỗ trợ vi sóng có những
ưu điểm vượt trội so với các phương pháp khác. Đây là phương pháp điều chế nano
không quá phức tạp, phản ứng diễn ra êm dịu, dễ kiểm soát, thời gian chế tạo ngắn,
độ tinh khiết sản phẩm cao, kiểm soát được thành phần, kích thước và hình dạng
của sản phẩm, thiết bị đơn giản, dễ sử dụng.
Mục tiêu của đề tài này là tiến hành nghiên cứu các điều kiện chế tạo hạt kim
loại đồng kích thước nano và hệ keo nano đồng, cụ thể là:
- Tổng hợp được nguồn nguyên liệu đồng oxalat với hiệu suất và độ sạch
cao.
- Chế tạo được hạt kim loại đồng có kích thước nano.
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
10

Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
7
MỞ ĐẦU
9
Chương 1
11
TỔNG QUAN
11
1. 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỒNG 11
1. 1. 1. Tổng quát
11
1. 1. 2. Vài nét về lịch sử:

Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
3

1. 3. 1. Phương pháp khử hoá học 21
1. 3. 2. Phương pháp solvothermal
21
1. 3. 3. Phương pháp quang hoá
22
1. 3. 4. Phương pháp điện hoá
22
1. 3. 5. Phương pháp nhiệt phân
23
1. 3. 6. Phương pháp có hỗ trợ nhiệt vi sóng
24
1. 4. ỨNG DỤNG CỦA NANO ĐỒNG
25
Chương 2 28
TIẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM
28
2. 1. HOÁ CHẤT 28
2. 2. THIẾT BỊ:
31
2. 2. 1. Lò vi sóng:
31
2. 2. 2. Máy khuấy từ gia nhiệt:
31
2. 3. SƠ ĐỒ THỰC NGHIỆM
32
2. 3. 1. Quy trình điều chế đồng oxalat
32

3. 1. 4. Phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX) 47
3. 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ NHIỆT ĐỘ PHÂN HUỶ THÍCH HỢP CHO
QUY TRÌNH CHẾ TẠO NANO ĐỒNG
48
3. 2. 1. Lựa chọn phương pháp
48
3. 2. 2. Xác định nhiệt độ phân huỷ thích hợp
48
3. 3. CHẾ TẠO HẠT NANO ĐỒNG
51
3. 3. 1. Khử nhiệt chân không:
51
3. 3. 2. Chế tạo dung dịch có chứa hạt nano đồng
55
3. 4. CHẾ TẠO HỆ KEO NANO ĐỒNG
57
3. 4. 1. Hệ keo nano đồng I
57
3. 4. 1. 1. Ảnh hưởng của hàm lượng chất khử NaBH
4
58
3. 4. 1. 2. Ảnh hưởng của thời gian vi sóng
60
3. 4. 1. Hệ keo nano đồng II 62
3. 4. 1. 1. Chất bảo vệ PVP 55.000 64
3. 4. 1. 2. Chất bảo vệ PVP 1.000.000
67
Chương 4 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
72

Bảng 3.3: Các thí nghiệm khảo sát sự thay đổi thời gian vi sóng. 60
Bảng 3.4: Các thí nghiệm khảo sát tỉ lệ khối lượng thích hợp của CuC
2
O
4

và PVP
55.000 64
Bảng 3.5: Các thí nghiệm khảo sát tỉ lệ khối lượng thích hợp của CuC
2
O
4

và PVP
1.000.000. 67

Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleev. 11
Hình 1.2: Cấu trúc tinh thể của đồng. 13
Hình 1.3: Cấu hình electron của đồng. 13
Hình 1.4: Một số ứng dụng của nguyên tố đồng trong đời sống. 16
Hình 1.5: Chiếc cốc nổi tiếng Lycurgus. 18
Hình 1.6: Phương pháp chế tạo hạt nano kim loại. 20
Hình 1.7: Hệ thống mô tả các giai đoạn của phương pháp điện hóa. 23
Hình 1.8: Gradient nhiệt độ trong gia nhiệt vi sóng (trái) so với gia nhiệt thông
thường trên một diện tích phẳng (phải). 25

Hình 3.6: Phổ hấp thụ UV – Vis của các hệ keo nano đồng khi thay đổi nhiệt độ. 50
Hình 3.7: Thời gian ổn định của các hệ keo nano đồng khi thay đổi nhiệt độ. 51
Hình 3.8: Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu đồng oxalat bị khử nhiệt chân không. 52
Hình 3.9: Giản đồ nhiễu xạ ti a X của mẫu nano đồng đ ược khử nhiệt trong môi
trường không khí. 54
Hình 3.9: Hệ thống chế tạo dung dịch nano đồng. 55
Hình 3.10: Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu bột. 56
Hình 3.11: Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu màng. 56
Hình 3.12: Các hệ keo nano đồng K1 – K4 với sự thay đổi hàm lượng chất khử
NaBH
4
. 58
Hình 3.13: Phổ hấp thụ UV -Vis của các hệ keo nano đồng I với sự thay đổi hàm
lượng chất khử NaBH
4
. 59
Hình 3.14: Thời gian ổn định của các hệ keo nano đồng I khi thay đổi hàm lượng
chất khử NaBH
4
. 60
Hình 3.15: Các hệ keo nano đồng S1 và S2 với sự thay đổi thời gian vi sóng. 61
Hình 3.16: Ảnh TEM và giản đồ phân bố kích thước hạt của mẫu S1 61
Hình 3.17: Ảnh TEM và biểu đồ phân bố kích thước hạt của mẫu S2. 61
Hình 3.18: Các hệ keo đồng M1 – M7 với sự giảm dần tỉ lệ khối l ượng
PVP/CuC
2
O
4
. 64
Hình 3.19: Phổ hấp thụ UV - Vis của các hệ keo nano đồng khi thay đổi tỉ lệ khối

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CMC Carboxymethyl cellulose
CTAB Cetyl trimethylammonium bromide
DMF Dimethylformamide
DTA Differential Thermal Analysis
EDX Energy-dispersive X-ray Spectroscopy
EG Ethylenglycol
FCC Face Centered Cubic
FE – SEM Field Emission - Scanning Electron Microscopy
HDEHP Bis(ethylhexyl)hydrogen phosphate
MW Microwave
Na AOT Sodium bis(2-ethylhexyl) sulfosuccinate
PVP Polyvinylpyrrolidone
TCN Trước công nguyên
TEM Transmission Electron Microscopy
TGA Thermogravimetric Analysis
TG Thermogravimetry
TOAB Tetraoctylammonium bromide
TPP Triphenylphosphine
UV –Vis Ultraviolet – Visible
XRD
X – ray diffracton


- Hoa tai bằng đồng được tìm thấy ở miền bắc Iraq có niên đại khoảng
8.700 năm trước công nguyên (TCN).
- Các đồ vật bằng đồng nguyên chất và đồng đỏ được phát hiện ở thành
phố Sumeria có niên đại khoảng 3.000 năm TCN.
- Một hệ thống hàn đồng đã được tìm thấy trong một kim tự tháp ở Ai
Cập có niên đại 5.000 năm.
Việc sử dụng đồng ở Trung Hoa cổ đại có niên đại ít nhất là 2.000 năm TCN.
Vào khoảng 1200 năm TCN những đồ đồng đỏ hoàn hảo đã được sản xuất ở Trung
Quốc.
Tại châu Âu, có trưng bày một di vật nổi tiếng với tên gọi “Oetzi the
Iceman”. Đó là thi thể một người đàn ông cầm trong tay một chiếc rìu bịt đồng (độ
tinh khiết của đồng là 99,7%). Theo tính toán của các nhà khảo cổ học thì bộ di vật
này có niên đại vào khoảng năm 3.200 TCN.
Trong thời kỳ của nền văn minh Hy Lạp, kim loại này được biết với tên gọi
chalkos. Trong thời kỳ La Mã, nó được các nhà giả kim thuật gọi là aes Cyprium
(aes là thuật ngữ Latinh dùng để chỉ các hợp kim của đồng; còn Cyprium xuất phát
từ chữ Cuprus, là tên tiếng Latinh của hòn đảo Kipr, nơi ngày xưa người La Mã cổ
đã khai thác quăng đồng và chế tác đồ đồng). Từ những yếu tố lịch sử này, tên gọi
Latinh của đồng dần được đơn giản hóa thành Cuprum [38].
1. 1. 3. Tính chất nguyên tử
 Khối lượng nguyên tử: 63,546 đ.v.C
 Bán kính nguyên tử: 135 pm
 Cấu hình electron: 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2

6
4s
1
3d
10
Hình 1.3: Cấu hình electron của đồng.
- Bán kính nguyên tử: 1,35 Å.
- Bán kính cộng hoá trị: 1,38 Å.
- Bán kính Van der Waals: 1,4 Å.
Năng lượng ion hóa của kim loại phân nhóm 1B lớn hơn nhiều so với kim
loại phân nhóm 1A do chịu ảnh hưởng của sự co d và sự tăng điện tích hạt nhân. Do
đó chúng là kim loại kém hoạt độ ng. Đồng trong nhóm 1B nên cũng là kim loại
kém hoạt động.
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
14

Đồng có 1 electron ở lớp ngoài cùng (4s
1
), ở lớp thứ hai kề từ ngoài vào có
18 electron. Lớp 18 electron này chưa hoàn toàn bền và ở cách xa nhân do sự xâm
nhập của electron 4s, nên có khả năng cho đi số những electron đó. Vì thế, ngoài
trạng thái oxy hóa dương +1, đồng còn có số oxy hóa + 2. Số oxy hóa +1 là bền
nhất đối với đồng (do cấu hình 3d
10
) [1,3].
Do đặc điểm cấu trúc electron của kim loại phân nhóm 1B có khả năng tạo

F)
 Thể tích phân tử: 7,11x10
-6
m
3
 Áp suất hơi: 0,0505 Pa tại 1358
/mol
0
 Độ dẫn điện: 5,959x10
K
7
 Độ dẫn nhiệt: 401 W/ m. K
Ω/m
1. 1. 6. Tính chất hoá học
1. 1. 6. 1. Tác dụng với oxy
Ở nhiệt độ thường và trong không khí, đồng có khả năng tác dụng với oxy
hình thành nên một lớp màng oxit màu đỏ (Cu
2
O).
2Cu + O
2
+ 2H
2
O  2Cu(OH)
2

Cu(OH)
2
+ Cu  Cu
2

phẩm muối tương ứng.
1. 1. 6. 3. Tác dụng với axit
Đồng đứng sau hydro trong dãy điện thế nên đồng không phản ứng với các
axit không có tính oxy hoá. Tuy nhiên, khi có mặt của oxi khôn g khí, đồng có thể
tan trong dung dịch HCl, H
2
SO
4
và dung dịch NH
3
đặc.
2Cu + 4HCl + O
2
 2CuCl
2
+ 2H
2
O
2Cu + 4H
2
SO
4
+ O
2
 2CuSO
4
+ 2H
2
O
2Cu + 8NH

Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
16

- Thành phần của gốm kim loại và thủy tinh màu.
- Các loại nhạc khí, đặc biệt là các loại nhạc khí từ đồng thau.
- Đồng (II) Sulfat CuSO
4
được sử dụng như là thuốc bảo vệ thực vật và
chất làm sạch nước.

Hình 1.4: Một số ứng dụng của nguyên tố đồng trong đời sống.
1. 1. 8. Vai trò sinh học
Đồng là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động, thực vật bậc cao.
Hợp chất của đồng là cần thiết đối với quá trình tổng hợp hemoglobin và
photpholipit [33,38]. Sự thiếu đồng gây nên bệnh thiếu máu. Ngoài ra, đồng cũng
được tìm thấy trong một số loại enzym , protein và là kim loại trung tâm của
hemocyanin, một chất chuyên chở oxy. Máu của cua móng ngựa (cua hoàng đế )
Limulus polyphemus sử dụng đồng thay vì sắt để chuyên chở oxy.
Theo tiêu chuẩn RDA của Mỹ về đồng đối với người lớn khỏe mạnh là 0,9
mg/ngày.
Trong cơ thể người, đ ồng được vận chuyển chủ yếu trong máu bởi protein
trong huyết tương gọi là ceruloplasmin. Đồng được hấp thụ trong ruột non và được
vận chuyển tới gan bằng liên kết với albumin. Trong máu của động vật bậc thấp (ốc,
sò và động vật thân mềm) có chất màu là hemoxianin, chứa đồng và có chức năng
như hemoglobin ở trong máu của động vật có xương sống.
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
17

Bệnh Wilson là một căn bệnh sinh ra do đồng hấp thụ không được chuyển tới


thức hoá học ngày nay ta dễ dàng biết được màu hồng này là do sự kết hợp giữa
titan oxit và nano Au [38].
Ngoài ra, người La Mã còn sử dụng các hệ keo nano kim loại này để tẩm lên
các tấm gương nhằm thu được những hiệu ứng màu sắc đặc biệt. Tuy nhiên, sản
phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là chiếc cốc Lycurgus, được người La Mã chế tạo trong
khoảng thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, một sản phẩm dành riêng cho các bậc vua
chúa, hiện đang được trưng bày tại viện bảo tàng Anh ở Luân Đôn. Chiếc cốc này
đổi màu tùy thuộc vào cách người ta nhìn nó. Nó có màu xanh lục khi nhìn ánh sáng
phản xạ trên cốc và có màu đỏ khi nhìn ánh sáng đi từ trong cốc và xuyên qua thành
cốc. Các phép phân tích ngày nay cho thấy trong chiếc cốc đó có các hạt nano vàng
và bạc có kích thước 70 nm và với tỉ phần mol là 14:1 [38].

Hình 1.5: Chiếc cốc nổi tiếng Lycurgus.
Tuy xuất hiện sớm như vậy, nhưng phải đến khoảng thế kỷ thứ 17, những
nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên về phương pháp chế tạo và tính chất của các
hạt nano kim loại mới được tiến hành thông qua các công trình sau:
- Antonio Neri, một nhà sản xuất thủy tinh ở Rome, đã mô tả quá trình tổng
hợp hệ keo nano vàng trong tác phẩm L’Arte Vetraria, xuất bản năm 1612.
- John Kunckel, một trong số những học trò của Antonio Neri, là người đầu
tiên phát hiện ra rằng thủy tinh có thể chuyển màu đỏ khi thêm vào một ít bột vàng.
Mặc dù có được những thành tựu từ rất sớm nhưng các nghiên cứu về hạt
kim loại ở kích thước nano cũng như các hệ keo nano kim loại không được chú ý và
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
19

phát triển trong những năm sau đó. Vì thế, hầu như trong suốt thế kỷ 19 và thế kỷ
20, ngành khoa học về nano là một lĩnh vực ít được quan tâm và cũng không có
nhiều công trình nghiên cứu. Một số công trình tiêu biểu trong giai đoạn này như:

Hình 1.6: Phương pháp chế tạo hạt nano kim loại.
1. 2. 2. 1. Phương pháp từ trên xuống (top-down)
Phương pháp này sử dụng kỹ thuật nghiền và biến dạng để biến vật liệu thể
khối với tổ chức hạt thô thành cỡ hạt kích thước nano. Đây là phương pháp đơn
giản, rẻ tiền nhưng rất hiệu quả, tạo ra được một lượng lớn vật liệu, có thể tiến hành
cho nhiều loại vật liệu với kích thước khá lớn (ứng dụng làm vật liệu kết cấu).
1. 2. 2. 2. Phương pháp từ dưới lên (bottum-up)
Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là tạo ra hạt nano có tính đồng
nhất không cao, tốn nhiều năng lượng, đòi hỏi thiết bị, công nghệ phức tạp…. Chính
vì vậy, đây là phương pháp ít được sử dụng trong thưc tế [2,4].
Nguyên lý của phương pháp này dựa trên việc hình thành các hạt nano kim
loại từ các nguyên tử hoặc ion tương ứng thông qua quá trình xử lý với các tác nhân
hoá học, vật lý, sinh học, …. Phương pháp từ dưới lên được phát triển rất mạnh mẽ
vì sự tiện lợi và tính đồng nhất về mặt kích thước của sản phẩm cuối cùng. Ngoài ra,
những đòi hỏi về máy móc, thiết bị, công nghệ không quá phức tạp. Tuy nhiên,
phương pháp này có nhược điểm là rất khó tạo ra một lượng lớn vật liệu [2,4].
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
21

1. 3. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO HẠT NANO ĐỒNG
1. 3. 1. Phương pháp khử hoá học
Nguyên lý của phương pháp này là sử dụng các tác nhân hoá học (X) để khử
ion Cu
2+
thành các nguyên tử đồng kim loại và sau đó chúng sẽ kết tụ lại tạo thành
các hạt nano đồng.
Cu
2+
+ X  Cu

nhớt,…ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tham gia phản ứng của muối đồng [12,26].
Các dung môi thường được sử dụng trong phương pháp này là ethanol, toluen,
ethylendiamin và nước.
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
22

Xian-Ming Liu và cộng sự đã tổng hợp thành công hạt nano đồng bằng cách
tiến hành solvothermal hỗn hợp CuSO
4
.5H
2
0, PVP, ethylene glycol và N,N-
dimethylformamide [12]; nhóm của Yong Cai Zhang tiến hành solvothermal hỗn
hợp CuCl
2
.2H
2
1. 3. 3. Phương pháp quang hoá
O, nước, ethylenediamine và thu được hạt nano đồng tương ứng
[26].
Đây là phương pháp tổng hợp các hạt nano đồng thông qua quá trình quang
phân (photolysis) hoặc quá trình phân ly bằng phóng xạ (radiolysis). Phương pháp
này có ưu điểm là không cần sử dụng tác nhân khử, có thể kiểm soát tốc độ phản
ứng nếu sử dụng nguồn chiếu xạ có bước sóng và cường độ thích hợp, tác nhân khử
(trong trường hợp này là nguồn chiếu xạ) phân bố đều trong khắp dung dịch, có thể
tiến hành quá trình chiếu xạ ở nhiệt độ phòng [20,23].
Sudhir Kapoor và cộng sự đã tiến hành chiếu xạ CuSO
4
, benzophenone,

Su-Yuan Xie cùng các cộng sự của mình đã tiến hành điện phân hỗn hợp
dung dịch acid ascorbic và cetyltrimethylamonium bromide (CTAB) với thanh điện
cực đồng và thu được hạt nano đồng với kích thước khoảng 10 – 15 nm [24].
1. 3. 5. Phương pháp nhiệt phân
Cơ chế của phương pháp này là tiến hành phản ứng nhiệt phân các phức
đồng trong vùng nhiệt độ sôi cao của dung môi với sự hiện diện của tác nhân bảo vệ
[6]. Phương pháp này có ưu điểm là kiểm so át được sự đồng đều về mặt kích thước
của sản phẩm, phản ứng xảy ra nhanh chóng, giá thành thiết bị tương đối thấp.
Bằng cách nhiệt phân hỗn hợp phức đồng oxalat-oleylamin và
triphenylphosphine, nhóm của M. Salavati-Niasari đã thu được hạt đồng kim loại có
kích thước từ 30 – 80 nm [14]; tổng hợp được hạt đồng với kích thước khoảng 8 –
10 nm thông qua quá trình nhiệt phân phức của bis( salicylaldiminato)copper(II)
Luận văn thạc sĩ
Học viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
24

trong oleylamin [15]; nhóm của Young Soo Kang lại tạo được hạt nano đồng có
kích thước khoảng 24 - 27 nm khi tiến hành nhiệt phân sản phẩm thu được từ phản
ứng giữa CuCl
2
1. 3. 6. Phương pháp có hỗ trợ nhiệt vi sóng
và sodium oleate [13].
Sự đốt nóng điện môi bằng vi sóng (MW) gần đây nhận được sự quan tâm
khá lớn của các nhà khoa học và được xem là một kỹ thuật hứa hẹn cho việc tổng
hợp những cấu trúc nano kim loại có khả năng điều khiển kích thước vì tốc độ đun
nóng và xuyên thấu nhanh của nó [31,34 - 36].
Phương pháp sử dụng lò vi sóng để tổng hợp nano đồng giống như phương
pháp hoá học vì cũng sử dụng các tác nhân hoá học để khử ion Cu
2+
thành Cu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status