giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán qua thẻ tại ngân hàng tmcp á châu – chi nhánh hà nội - Pdf 23

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
LÊ NGỌC HOA
Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao hiÖu qu¶
ho¹t ®éng thanh to¸n qua thÎ t¹i Ng©n hµng
TMCP ¸ Ch©u – chi nh¸nh Hµ Néi
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2013
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HC VIN NGN HNG
Lấ NGC HOA
Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả
hoạt động thanh toán qua thẻ tại Ngân hàng
THƯƠNG MạI Cổ PHầN á Châu chi nhánh Hà Nội
Chuyờn ngnh: Ti chớnh Ngõn hng
Mó s: 60340201
LUN VN THC S KINH T
Ngi hng dn khoa hc: TS. T QUANG TIN
H NI - 2013
LI CAM OAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận văn là trung thực, xuất phát từ thực tế của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Á Châu.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Học viên
Lê Ngọc Hoa
MỤC LỤC
CHỮ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
ATM Automatic teller machine: Máy rút tiền tự động
CSR Customer service representative: Nhân viên

khách hàng, tạo nhiều thuận lợi cho chính ngân hàng, đồng thời đẩy nhanh nhịp độ
phát triển kinh tế và tốc độ chu chuyển tiền tệ. Mặt khác, sự phát triển của khoa học
kỹ thuật và nhất là các tiến bộ của công nghệ tin học được ứng dụng vào hoạt động
ngân hàng đã mở rộng hoạt động ngân hàng lên những bước đáng kể.
Tiền mặt đã xuất hiện từ lâu và là một phương thức thanh toán không thể
thiếu ở bất cứ một quốc gia nào, song ngày nay thanh toán bằng tiền mặt không còn
là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa. Kinh
nghiệm của các nước cho thấy, nền kinh tế xã hội càng phát triển, tỷ lệ thanh toán
bằng tiền mặt càng giảm và tỷ lệ các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt càng
tăng. Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân, có rất nhiều hình thức thanh toán
không dùng tiền mặt tiện lợi, an toàn đã và đang được sử dụng phổ biến như: séc,
ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, L/C và đặc biệt là thẻ thanh toán – một phương tiện
thanh toán rất được ưa chuộng trên thế giới.
Trong bối cảnh nền kinh tế tài chính Việt Nam hiện nay, thẻ - công cụ chính
của hoạt động ngân hàng bán lẻ đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, có tác động lớn đến chính sách tiền tệ
cũng như đến hiệu quả kinh doanh của mỗi ngân hàng. Đối với các ngân hàng
thương mại, nghiệp vụ kinh doanh thẻ mang lại một định hướng mới cho hoạt động
kinh doanh ngân hàng, theo hướng mở rộng mảng kinh doanh dịch vụ, mở rộng quy
mô và giảm rủi ro từ hoạt động tín dụng truyển thống.
7
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động kinh doanh thẻ trong hoạt
động kinh doanh của một ngân hàng hiện đại, Ngân hàng TMCP Á Châu là ngân
hàng thứ hai sau Ngân hàng Ngoại Thương đi đầu trong việc triển khai hoạt động
kinh doanh thẻ. Triển khai nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ, Ngân hàng Á
Châu có cơ sở thuận lợi để tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, góp phần xây dựng
một môi trường tiêu dùng văn minh, tạo điều kiện cho sự hội nhập của Việt Nam
với cộng đồng quốc tế.
Sau một thời gian tìm hiểu về thực trạng dịch vụ thẻ tại Việt Nam cũng như
nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề này, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải

phạm vi đề tài nghiên cứu.
Nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận từ góc độ khoa học, sử dụng kết hợp cách
tiếp cận bổ dọc và lát cắt ngang: nghiên cứu các nghiệp vụ thẻ của ngân hàng
TMCP Á Châu Hà Nội qua các năm từ 2010 đến 2012 để đưa ra những đánh giá
khái quát và nhận định xu hướng chung.
Nghiên cứu cũng được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng kết hợp các nhóm
phương pháp về thu thập thông tin và xử lý thông tin. Trong đó nhóm phương pháp
thu thập thông tin bao gồm các phương pháp quan sát đối tượng và phương pháp
nghiên cứu tài liệu. Quan sát các nghiệp vụ vể thẻ tại ngân hàng bao gồm quan sát
một quá trình từ khi khách hàng có nhu cầu tới giao dịch với ngân hàng, quá trình
tiếp xúc giữa khách hàng với ngân hàng, các hoạt động chăm sóc khách hàng cũng
như các dịch vụ đi kèm khác… Việc quan sát mang lại những hình dung khái quát
giúp phát hiện những thực tế tồn tại trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân
hàng. Cùng với đó là việc thu thập, phân tích các nguồn tài liệu có được như: tạp
chí và báo cáo về hoạt động ngân hàng, các báo cáo hoạt động, báo cáo tài chính
của ACB các năm 2009, 2010, 2011. Những thông tin thu thập được được xử lý
bằng cách sử dụng các bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị giúp dễ dàng so sánh, đối chiếu
với nhau để tính toán các chỉ số đánh giá và đưa ra các nhận xét, phân tích.
9
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ thẻ thanh toán ngân hàng
Chương 2: Thực trạng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân
hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán
qua thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội
10
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUA THẺ NGÂN HÀNG

Công ty này phát hành những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện
hai chức năng: Thứ nhất là nhận diện và phân biệt khách hàng và thứ hai là cung
cấp và cập nhật dữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tài khoản và các
giao dịch thực hiện.
Các tổ chức khác cũng nhận ra giá trị của loại hình dịch vụ nói trên và chỉ
trong một thời gian ngắn sau đó rất nhiều đơn vị như nhà ga, khách sạn cũng như
các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách
hàng của mình. Trong số đó, tập đoàn xăng dầu General Petroleum của Mỹ cho ra
đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên vào năm 1924 cho phép người dân sử dụng thẻ này
để mua xăng dầu tại các cửa hàng trên toàn quốc.
Tấm thẻ nhựa đầu tiên được phát hành vào năm 1950 bởi công ty Dinners
Club. Đến năm 1958, công ty American Express cũng tham gia vào thị trường thẻ
ngân hàng và đã thiết lập thành công tên tuổi của mình trong lĩnh vực mới mẻ này.
Cũng giống như các đối thủ cạnh tranh, American Express chú trọng phát triển thẻ
trong lĩnh vực giải trí và du lịch, hai lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh chóng tại
Mỹ và châu Âu trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới.
Hình thức sơ khai của thẻ là Charg-it, một hệ thống mua bán chịu do John
Biggins sáng lập ra năm 1946. Hệ thống này cho phép khách hàng trả tiền cho các
giao dịch mua bán lẻ tại địa phương bằng các “phiếu” có giá trị do ngân hàng phát
hành. Các cơ sở chấp nhận thẻ nộp “phiếu” giao dịch, biên lai bán hàng vào ngân
hàng của Biggins, ngân hàng sẽ trả tiền cho họ và thu lại từ khách hàng đã sử dụng
Charg-it. Hệ thống mua bán chịu này là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng ngân
hàng đầu tiên của Ngân hàng Franklin National ở Long Island, NewYork vào năm
1951. Tại đây, khách hàng nộp đơn xin cấp hạn mức tín dụng và được xem xét
thông qua hoạt động tín dụng, giao dịch trước đó của họ với ngân hàng để kiểm tra
12
khả năng thanh toán. Ngân hàng sẽ phát hành thẻ cho những khách hàng đủ tiêu
chuẩn và họ có thể dùng các thẻ này để thực hiện giao dịch tại các đại lý chấp nhận
thẻ. Khi thanh toán, cơ sở cung ứng hàng hóa, dịch vụ sẽ ghi lại các thông tin về
khách hàng trên thẻ vào hóa đơn và nộp về cho ngân hàng. Sau đó ngân hàng ghi có

Association (ICA). Sau này ICA được đổi tên thành MasterCard vào năm 1979.
ICA ban hành các quy định về cấp phép giao dịch, thanh toán bù trừ, các biện pháp
Marketing, bảo mật và các vấn đề liên quan tới luật pháp nhằm vận hành công việc
một cách có hiệu quả.
Năm 1968, ICA bắt đầu chiến lược mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn
cầu thông qua việc liên kết với ngân hàng Banco National của Mexico. Sau đó ICA
tiếp tục tìm kiếm các đối tác tại thị trường châu Âu và cho ra đời thẻ Eurocard.
Cũng vào năm 1968, ICA kết nạp thêm thành viên là một số ngân hàng tại Nhật
nhằm từng bước thâm nhập và nắm bắt thị trường Đông Á này.
Như vậy, thẻ ngân hàng ra đời từ nhu cầu thanh toán và phát triển dựa trên
nền tảng công nghệ cũng như chiến lược thay thế tiền mặt trong lưu thông. Thực tế
cho thấy, thẻ ngân hàng là sự phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng,
đồng thời đã và đang phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ và văn minh
xã hội. Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật,
nhất là về công nghệ thông tin, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện và phát triển.
Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển hàng ngày, các tổ chức thẻ
quốc tế đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát
hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao
dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thẻ ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền
mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Đây là thành công đáng kể đối với
một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm để diễn đạt thẻ thanh toán:
14
- Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không
dùng tiền mặt hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay
các máy rút tiền tự động ATM (viết tắt từ Automatic Teller Machine).
- Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng,
các định chế tài chính hay các công ty.

- Họ và tên chủ thẻ
- Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn thẻ được lưu hành (Valid Date hoặc Good Thru).
- Các đặc tính để tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo
Mặt sau của thẻ:
- Băng từ: màu đen chạy dọc theo cạnh dài phía trên của mặt sau thẻ, chứa các thông
tin sau: Số thẻ
Ngày hiệu lực của thẻ
Tên chủ thẻ
Tên tổ chức phát hành
Mã số bí mật cá nhân (PIN – personal identifycation number)
Ngày giao dịch cuối cùng
Hạn mức giao dịch và số dư
Riêng đối với thẻ thông minh có một con chip (vi mạch) lưu trữ thông tin về
chủ thẻ và tài khoản của người đó. Chúng lưu giữ chi tiết tối đa 200 giao dịch được
thực hiện gần nhất của thẻ. Con chip này được gắn ở mặt trước của thẻ.
- Băng chữ ký: trên băng giấy này là chữ ký của chủ thẻ. Khi lập hóa đơn thanh toán,
đơn vị chấp nhận thẻ sẽ đối chiếu chữ ký trên hóa đơn với chữ ký mẫu để so sánh.
Băng chữ ký này được làm từ một nguyên liệu đặc biệt có khả năng ngăn cản mọi
sự cố gắng nhằm tẩy xóa, sửa đổi trên bề mặt thẻ và được ép chặt trên nền thẻ.
- Các phần khác: logo tổ chức phát hành, số điện thoại dịch vụ khi có thắc mắc trong
quá trình sử dụng thẻ.
Các tổ chức khi phát hành thẻ thường sử dụng những thiết bị mang tính công
nghệ cao để đảm bảo tính an toàn cho thẻ.
1.2.2.2. Phân loại thẻ
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại thẻ nhưng chủ yếu người ta sử dụng theo
2 phương thức chính: Phân loại theo công nghệ sản xuất và phân loại theo tính chất
thanh toán của thẻ.
a. Theo công nghệ sản xuất chia thẻ thành 2 loại: thẻ từ và thẻ thông minh:
16
Thẻ từ: là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước

- Thẻ tiếp xúc: Để đọc và ghi dữ liệu lên thẻ thì thẻ phải được đặt vào thiết bị đầu
cuối hay máy đọc thẻ. Loại thẻ này được các tổ chức tài chính và các cơ quan
truyền thông chọn lựa để sử dụng phổ biến vì các ưu điểm về giá cả, về các chuẩn
và độ bảo mật.
- Thẻ không tiếp xúc: Việc đọc/ghi dữ liệu thẻ không cần phải có một tiếp xúc vật lý.
Thẻ có thể được đặt cách máy đọc thẻ vài chục centimet. Tốc độ xử lý của thẻ
không tiếp xúc là cao hơn so với các thẻ tiếp xúc. Vì vậy thẻ không tiếp xúc thường
được ứng dụng tại những nơi cần phải xử lý nhanh như các hệ thống quá cảnh, trên
các phương tiện giao thông công cộng. Thẻ không tiếp xúc đắt hơn nhưng lại không
an toàn bằng thẻ tiếp xúc. Ở Việt Nam hiện loại thẻ này mới chỉ có thẻ Flexicard do
PGBank phát hành.
- Thẻ lưỡng tính: kết hợp các đặc điểm của thẻ tiếp xúc và thẻ không tiếp xúc. Dữ
liệu được truyền hoặc bằng cách tiếp xúc, hoặc không tiếp xúc. Thẻ lưỡng tính đắt
hơn rất nhiều so với 2 loại trên.
c. Nếu căn cứ vào tính chất thanh toán có thể chia thành thẻ tín dụng (Credit card) và
thẻ ghi nợ (Debit card).
Thẻ tín dụng (Credit card) là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt
cung cấp cho nguời sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Tại thời điểm
khách hàng thanh toán hàng hóa dịch vụ ngân hàng sẽ đứng ra tạm ứng thanh toán
cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ và sau đó sẽ tiến hành thu hồi khoản tiền này
từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng
và chủ thẻ. Khoảng thời gian kể từ khi thẻ đuợc dùng để thanh toán hàng hoá dịch
vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài tuỳ thuộc vào từng loại thẻ
tín dụng của từng tổ chức thẻ khác nhau. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ
18
vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn
được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ. Tuy vậy nếu hết thời gian này mà chủ thẻ
vẫn chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán hết dư nợ cuối kỳ cho ngân hàng thì chủ
thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả trên số dư nợ còn lại. Sau khi
thanh toán hết dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi

các máy ATM, đổi séc qua máy rút tiền tự động, thực hiện nộp hồ sơ cho một khoản
vay cũng như tự mình thực hiện nhiều dịch vụ ngân hàng khác. Cùng với thẻ ATM,
hệ thống ATM đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ khả năng giao dịch ngoài
giờ làm việc, ngoài trụ sở ngân hàng và khả năng tự phục vụ.
Ngoài hai loại thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ nói trên, một hình thức thẻ ngân
hàng đang ngày càng trở nên phổ biến là thẻ liên kết. Thẻ liên kết là sản phẩm của
một ngân hàng hay tổ chức tài chính kết hợp với một bên thứ ba và thông thường
tên, nhãn hiệu thương mại hoặc logo của bên thứ ba này cũng đồng thời xuất hiện
trên tấm thẻ. Ngoài những đặc điểm sẵn có của thẻ ngân hàng thông thường, thẻ liên
kết có sức hấp dẫn hơn với khách hàng bởi chính những lợi ích phụ trội do bên thứ
ba đem lại. Ví dụ thẻ Visa co-brand do ngân hàng Standard Chartered và tập đoàn
thời trang Espirit phát hành mang lại cho chủ thẻ những tiện ích phụ trội riêng biệt
như được chăm sóc sắc đẹp miễn phí, giảm giá 20% cho tất cả các mặt hàng hiệu
Espirit trong 3 tháng đầu tiên, chương trình điểm thưởng tích luỹ theo lượng tiền
thanh toán bằng thẻ…
d. Nếu căn cứ vào phạm vi sử dụng của thẻ có thể chia thành thẻ trong nước và thẻ
quốc tế.
Thẻ trong nước là thẻ do các ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành sử dụng
thay thế tiền mặt để thanh toán hàng hoá dịch vụ và rút tiền mặt trong phạm vi quốc
gia, được sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lưới các ĐVCNT của ngân hàng
phát hành và ngân hàng đại lý, ngân hàng liên kết với ngân hàng phát hành đó trong
một nước.
Thẻ quốc tế là thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế do các ngân
hàng, tổ chức tín dụng làm đại lý phát hành. Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên
phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất kỳ các ĐVCNT hoặc máy ATM có mang biểu
tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó. Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ
20
phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ chặt
chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do Tổ chức thẻ quốc tế đó ban
hành. Có 2 loại thẻ quốc tế là thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng quốc tế.

Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng đại lý với ngân hàng phát hành được gọi là ngân
hàng đại lý phát hành. Nếu tên của ngân hàng đại lý xuất hiện trên tấm thẻ của
khách hàng thì nhất thiết ngân hàng đại lý đó phải là thành viên chính thức của tổ
chức thẻ hoặc công ty thẻ quốc tế.
1.2.3.3. Ngân hàng thanh toán
Ngân hàng thanh toán là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ như một phương
tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung
ứng hàng hoá dịch vụ trên địa bàn. Ngân hàng thanh toán sẽ cung cấp cho các
ĐVCNT thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ, hướng dẫn đơn vị cách thức vận
hành, chấp nhận thanh toán thẻ cũng như quản lý và xử lý những giao dịch thẻ tại
các đơn vị này. Thông thường ngân hàng thanh toán sẽ thu từ các ĐVCNT một mức
phí chiết khấu cho việc chấp nhận thanh toán thẻ của đơn vị, nó có thể tính phần
trăm trên giá trị mỗi giao dịch hoặc tính theo tổng giá trị giao dịch thẻ. Mức chiết
khấu cao hay thấp phụ thuộc vào từng ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược
của ngân hàng với ĐVCNT.
Trên thực tế rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân
hàng thanh toán thẻ. Với tư cách là ngân hàng phát hành, khách hàng của họ là chủ
thẻ còn với tư cách là ngân hàng thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng
hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ.
1.2.3.4. Chủ thẻ
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do công ty
uỷ quyền sử dụng) được ngân hàng phát hành thẻ, có tên in nổi trên thẻ và sử dụng
thẻ theo những điều khoản, điều kiện ngân hàng quy định. Theo thông lệ, mỗi chủ
thẻ chính có thể phát hành thêm thẻ phụ, cả thẻ chính và thẻ phụ cùng chi tiêu
chung một tài khoản. Chủ thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phát
sinh trong kỳ nhưng chủ thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối
22
với ngân hàng. Chủ thẻ sử dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại
các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ có chấp nhận thẻ, các điểm ứng tiền mặt
thuộc hệ thống ngân hàng hoặc sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy rút

Thanh toán là khâu bắt đầu, cũng là khâu kết thúc của một chu trình sản xuất.
Việc thanh toán nhanh chóng, kịp thời, chính xác, an toàn hay không đều ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình sản xuất, trao đổi, lưu thông hàng hóa của các tổ chức kinh
doanh, các thành phần kinh tế và dân cư trong xã hội. Do vậy, là một trung gian tài
chính trong nền kinh tế quốc dân, ngân hàng không ngừng đổi mới, hiện đại hóa các
khâu thanh toán làm sao đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của các chủ thể kinh tế,
làm cho ngân hàng thực sự trở thành cầu nối trong quá trình trao đổi, mua bán hàng
hóa giữa người mua và người bán.
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng thanh toán trên cơ sở chức năng
thanh toán - tín dụng. Bởi vì thông qua việc ngân hàng nhận tiền gửi, ngân hàng đã
mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi khoản thu – chi. Đó chính là tiền
tệ để khách hàng thực hiện việc thanh toán qua ngân hàng và đặt ngân hàng vào vị
trí trung gian thanh toán. Mặt khác hoạt động thanh toán có tác động tới tất cả các
mặt nghiệp vụ khác của ngân hàng như tín dụng, đầu tư, huy động vốn… bởi lẽ
trong nền kinh tế thị trường, tất cả các hoạt động kinh doanh của NHTM đều có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau.
Đối với nền kinh tế: Thanh toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lượng tiền
mặt rất lớn lẽ ra phải lưu chuyển trực tiếp trong lưu thông để thanh toán các khoản
mua hàng, trả tiền dịch vụ trong cơ chế thị trường đang ngày càng sôi động, phát
triển ở tất cả các nước, loại hình thanh toán này cũng không đòi hỏi nhiều thủ tục
giấy tờ. Do đó sẽ tiết kiệm được một khối lượng đáng kể về chi phí in ấn, chi phí
bảo quản, vận chuyển tiền mặt … Với hình thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng,
an toàn, hiệu quả này sẽ thúc đẩy nên kinh tế phát triển, giúp nhà nước quản lý nền
kinh tế cả về vi mô và vĩ mô. Việc áp dụng công nghệ hiện đại của việc phát hành
và thanh toán thẻ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam
với nền kinh tế thế giới.
24
Đối với toàn xã hội: Thẻ là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần thực
hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước. Thẻ thanh toán còn góp phần thúc đẩy hoạt
động kinh doanh phát triển nhanh hơn nhờ khuyến khích tiêu dùng các nhân của

khi đến giao dịch. Doanh thu của ĐVCNT cũng tăng thêm do đa dạng hóa các
phương thức thanh toán, thu hút được các chủ thẻ trong và ngoài nước, tăng khả
năng cạnh tranh đối với những đơn vị không chấp nhận thanh toán thẻ. Các khoản
tiền bán hàng được chuyển trực tiếp vào tài khoản ngân hàng, do đó an toàn và
thuận tiện hơn trong quản lý tài chính kế toán. Ngoài ra ĐVCNT còn được các tổ
chức phát hành thẻ đưa vào chương trình quảng cáo khuyến mãi với đông đảo lượng
khách hàng của mình.
- Đối với tổ chức phát hành thẻ (TCPHT): Việc phát hành thẻ cho phép các tổ chức
phát hành đưa ra các dịch vụ mới cho khách hàng. Đây là phương tiện tối ưu để hấp
dẫn khách hàng mới và tăng thêm thu nhập cho TCPHT từ các phí phát hành và sử
dụng thẻ. Mặt khác, đây là một loại tín dụng tiêu dùng hiện đại, góp phần đa dạng
hóa hình thức kinh doanh của các ngân hang phát hành, mở rộng hoạt động của
ngân hàng trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt, việc khách hàng sử dụng thẻ luôn duy trì
số dư trên tài khoản sẽ là phần quan trọng trong việc tăng nguồn vốn huy động của
ngân hàng. Cũng thông qua đó, uy tín và danh tiếng của ngân hàng phát hành được
nâng lên nhờ việc cung cấp các dịch vụ đầy đủ.
- Đối với tổ chức thanh toán thẻ (TCTTT): Được hưởng hoa hồng thanh toán, lệ phí
khi làm đại lý thanh toán cho TCPHT. Vì nhờ làm trung gian thanh toán thẻ nên uy
tín của TCTTT cũng được tăng lên, giúp giữ được khách hàng (vốn là những nhà
bán buôn, bán lẻ) để họ không chuyển hoạt động qua các tổ chức khác.
1.2.6. Hoạt động kinh doanh thẻ tại các ngân hàng thương mại
1.2.6.1. Hoạt động phát hành
Hoạt động phát hành của ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển khai toàn
bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng. Ba quá trình này có
vai trò quan trọng như nhau, có liên quan chặt chẽ đến việc phục vụ khách hàng và
quản lý rủi ro cho ngân hàng. Các tổ chức tài chính, các ngân hàng phát hành thẻ
phải xây dựng các quy định về việc sử dụng thẻ và thu hồi nợ: số tiền thanh toán tối
thiểu, ngày sao kê, thời gian ân hạn, các loại phí và lãi, hạn mức tín dụng tối đa, tối
thiểu, các chính sách ưu đãi đối với chủ thẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status